Đỗ Trường - Mắm cáy

Châu Âu đã vào hạ, cây lá bừng tỉnh sau một giấc dài ngủ
đông. Bầu trời cao và trong xanh, tia nắng sớm khỏe, mát như
thiếu nữ tuổi dậy thì chiếu vọt qua khung cửa, lòng người
thấy nao nao. Không hiểu sao lúc này cảm giác nhớ nhà, nhớ
quê trong tôi trào dâng đến như vậy. Cầm điện thoại định
chia xẻ cảm xúc này với bác Trần Mạnh Hảo, có khi lại cảm
hứng cho bác đẻ ra vài ba bài thơ chứ chẳng chơi. Nhưng tôi
chưa kịp lên tiếng, bác đã hỏi ngay:

- Trường hả! Chú gọi rất đúng lúc, không hiểu sao mấy
ngày nay anh nhớ và thèm ăn mắm cáy quá.

Ơ hay bác này! Hôm nay gở người hay sao? Điện đóm chưa thăm
hỏi nhau câu nào đã mắm cáy mắm cò.

- Em cũng đang nhớ nhà chết đi được, gọi cho thi sĩ thứ
thiệt, tưởng bác cho em vài nhời bay bổng, giời đất trăng
sao, ai ngờ bác lại đi thẳng vào đề tài dùi đục mắm cáy
thế này, làm mất hứng. Bác muốn ăn ra chợ mua, Sài Gòn
thiếu gì.

- Chú mày không hiểu gì rồi, chợ bây giờ chỉ có mắm còng
thôi làm gì có mắm cáy thứ thiệt, mà anh thèm cái thứ mắm
cáy câu ở quê Nghĩa Hưng cơ, chứ không phải mắm làm từ
những con còng còng ngòai bể. Cái thứ này ở quê hình như
cũng tuyệt chủng rồi.

Giời đất ơi! Cứ tưởng cái bác thi sĩ này cả ngày mơ mơ,
màng màng với chữ nghĩa, chứ ngờ đâu có lúc bác lại hoài
tưởng, thèm khát đến mắm cáy, cứ như là quốc hồn quốc
túy không bằng. Cái thứ mà dân nghèo quê tôi trước đây nhà
nào cũng có ít nhất vài ba chum để ở góc vườn, hay chái
bếp.

Làng tôi được cắt làm đôi bởi một nhánh con sông Đáy.
Nối hai bờ là cây cầu gỗ, vồng lên rất cổ kính. Cạnh, nam
mố cầu là nhà Đòn, để trống kèn, đòn khiêng phục vụ ma
chay của làng. Lùi sâu vào trong miếu thờ nằm lọt thỏm
dưới những tán lá và rễ cây si già. Chiếc ao sau miếu rất
rông có nhiều cá và hoa súng, quanh bờ được lát đều một
lớp gạch mỏng. Cầu ao lên xuống làm bằng hai phiến đá to
như manh chiếu được đỡ bằng những cọc tre cắm xuống lòng
ao. Những cây nhãn, cây bàng chẳng biết được trồng từ khi
nào gốc to bằng mấy vòng tay ôm của lũ trẻ. Bên kia bờ ao
giàn nhót chín đỏ rủ xuống nước, lũ trẻ chúng tôi thường
cởi truồng, bơi ra hái cho đầy vào hai ống quần đã được
túm lại, lên bờ chia nhau ăn.

Chúng tôi dọn về ở nhờ ngôi nhà ngang của chị Hậu. Chị
với mẹ sinh hoạt ở ngôi nhà chính, năm đó chị khoảng hai
mươi, hai mốt tuổi. Nói là chiến tranh, Mỹ ném bom đánh phá
Miền Bắc, nhưng làng tôi rất yên bình sau những rặng tre xanh.
Với ký ức tuổi thơ, tôi chỉ nhận ra chiến tranh, bằng
những buổi lễ truy điệu liệt sỹ tập thể, với những tấm
ảnh thờ cha và hai người anh của chị Hậu, hy sinh ngoài mặt
trận. Và làng không có tiếng nói của đàn ông. Ngày trở về
Hà Nội, tôi thật sự cảm nhận được chiến tranh qua sự
đổ nát, chết chóc đến kinh hoàng ở phố Khâm Thiên và ngõ
chợ. Nhà tôi nằm sâu trong ngõ 8 cũng bay mất một phần mái.

Có lẽ cõng trên mình ba cái bằng Tổ Quốc ghi công quá nặng
nề, nên mẹ chị Hậu không bao giờ đi đứng thẳng người
được nữa. Sau này nghe nói, khi bà sắp phải về nơi xa lắm,
người ta cũng kịp dựng bà dậy, choàng lên cổ danh hiệu Bà
Mẹ Việt Nam Anh Hùng. Chị Hậu không phải tham gia dân quân du
kích, được ưu tiên ở nhà chăm sóc mẹ. Chị không đẹp
nhưng rất hiền, có duyên, và kín đáo. Ngoài thời gian làm
ngoài đồng, chị thường ở nhà khâu nón lá, gửi mấy bà
hàng xén ngoài chợ bán. Chị Hậu rất khéo tay, nón chị làm ra
đẹp nhất vùng, nên nhiều người đặt mua, có khi chị làm
cả đêm. Chị bảo kỳ này người ta dùng mũ rơm nhiều để
tránh bom bi, nên công việc của chị có thư thả hơn. Hôm nào
nắng đẹp, hoặc chiều chiều ngồi khâu nón đã mỏi mệt,
chị thường rủ tôi đi câu cáy.

Cần câu của chị chỉ là cây hóp vuốt thẳng, đầu cần bé
tý tẹo, dây câu là sợi chỉ. Đeo giỏ vào hông, chị thò tay
xuống gầm cầu ao bắt một con ốc, đập vỏ lấy ruột làm
mồi. Tôi lẽo đẽo theo chị, có khi tôi đòi chị cho đeo giỏ,
chiều tôi chị đồng ý. Được một lúc giỏ tuột xuống
chân, chị cười ngất, bảo tôi.em cầm vào quai cũng được.
Hôm nào nước ròng, bãi sông tật ra, cáy bò ra nhiều, chị
chỉ cần thả mồi xuống là cáy dùng càng quắp mồi, có
những lần có hai, ba con tranh nhau đuổi theo mồi nhử của
chị, thế là như chiếc cần cẩu nhỏ chúng bị treo lơ lửng
trên không.

Tôi không hiểu nổi loài cáy biết bị lừa mà vẫn bám chặt
mồi? chúng chỉ cần nhả càng ra là lại được trở về với
thiên nhiên và cuộc sống tươi đẹp vốn có, dẫu rơi xuống
có đau đớn, vỡ mai gẫy càng, chắc chắn sẽ hạnh phúc hơn
hũ mắm của chị Hậu đang chờ chúng.

Hãy tỉnh ngộ đi hỡi loài cáy kia!

Từ lúc bé tý, lẽo đẽo xách giỏ theo chị Hậu, tôi đã có
những câu hỏi thông minh như vậy. Nhưng càng lớn, học nhiều,
tước vị cao sang, tôi lại thấy mình rất giống họ nhà cáy
này.

Tôi theo chị đi dọc hai bờ sông, trời bắt đầu sẩm tối
cũng được đầy giỏ. Những hôm nước lên, nước sông mấp
mí bờ, chị phải vào những gò, hoặc mép ruộng câu. Cáy
sống ở bờ, gò này thường chỉ thập thò trong lỗ, ít khi
chịu ra ngoài. Chị Hậu bảo khó câu hơn một chút, nhưng chúng
to và mẩy, rất nhiều trứng. Chị dùng mồi bằng rọc khoai,
tẩm thính thơm để nhử chúng. Phải công nhận chị Hậu cầm
cần câu uyển chuyển, điệu nghệ như mấy chị nghệ sỹ cầm
roi điều khiển thú của đoàn xiếc ở nhà Bạt. Mồi câu thơm
phức nhẹ nhàng đều đều thụt lên, thut xuống như điệu
tango phả vào mặt, từ lúc hoài nghi thụt ra thụt vào, đến
lúc cáy kềnh phải dừng lại nghe ngóng. Vẫn điệp khúc đó,
mùi thơm kỳ quái như thôi miên không cưỡng lại được, cáy
kềnh bò ra khỏi lỗ, lật đi lật lại miếng ăn, hấp dẫn
quá, nhìn trước ngó sau, yên tĩnh, chắc ăn quá, vội lấy càng
quặp chặt định tha vào hang. Nhưng không kịp mất rồi, cáy
càng đã bị nhấc bổng lên, rồi ngoan ngoãn chui vào giỏ của
chị Hậu.

Câu quanh gò, và mấy mép ruộng, giỏ đã lưng lửng toàn cáy
chứng, chị Hậu bảo loại cáy cao cấp này nhát, nhưng tham,
cắn mồi rồi không bao giờ chịu nhả ra đâu.

Cáy mang về, chị Hậu rửa sạch sẽ, đổ ra cái nồi đồng,
chị bóc hết trứng đem phơi khô, sau đó chị bóc đến mai, con
nào to khỏe nhất chị cho vào cối đá giã, lọc lấy nước
nấu canh. Còn lại chị cho cả vào chum làm mắm. Nói thật tôi
đã đi khắp nơi, ăn không biết bao nhiêu các loại canh, súp, ta
có, Tây, Tầu đủ cả, nhưng không đâu ngon bằng canh trứng
cáy khô với hoa bí do chị Hậu nấu. Các cụ nhà ta có câu
nhát như cáy ngày, quả thật chẳng sai chút nào, tôi thường
xuyên cùng chị Hậu bóc mai cáy nhưng chẳng bao giờ bị cắp
cả, nhưng cua rốc (cua đồng) lại khác, chúng hung hăng, nghênh
càng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng khi bị tấn công,
nên tay tôi choe chóe những vết do càng cua rốc cắp.

Tháng năm, tháng sáu tầm trưa, trời nóng như đổ lửa. Chị
Hậu rủ tôi đi bắt cua rốc. Nước dưới ruộng như muốn sôi
lên, cua rốc không chịu nổi trèo tuốt lên cây lúa tránh nóng.
Chị Hậu chỉ việc lội xuống ruộng bắt chúng cho vào giỏ.
Hôm nào nhiều chị cởi cả đôi xà cạp ở chân ra, buộc một
đầu lại bắt cho đầy vào đó. (Xà cạp dùng để chống
đỉa cắn, được làm bằng vải thô, bao bố) Cua rốc chỉ
để nấu canh, chứ không làm mắm được. Nhưng tôi thích nhất
cua rốc lột rán cháy cạnh, ăn bùi, béo và có hương vị rất
đặc biệt, chị Hậu gọi là cua bấy.

Có hôm tôi đi học về, thấy có chiếc xe gắn máy simson mới
kính cong dựng ở giữa sân, chị Hậu đang lụi hụi dưới
bếp. Tôi hỏi nhà có khách sao chị Hậu, chị đỏ mặt không
nói gì. Sau này tôi mới biết, có anh ở xóm trên, từ Đức
mới về, đến tìm hiểu chị. Nhưng chị từ chối, tôi gặng
hỏi, chị mới bảo, chị đã yêu anh CuLớn nhà bên, hiện đang
ở ngoài mặt trận. Chị dặn tôi không được nói với ai.

Ngày tôi về Hà Nội, chị buồn lắm, bảo nhớ viết thư và
thỉnh thoảng về thăm chị. Chị Hậu ít khi đi đâu xa, tôi
thường xuyên viết thư cho chị, lâu lâu có người ở quê lên,
chị gửi cho tôi khi dăm, ba lạng trứng cáy, lúc thì cân bột
sắn. Rồi tôi mải việc học hành thi cử, thời đó việc đi
lại khó khăn, nên không về thăm chị được. Sau chiến tranh,
nghe người làng nói, chị đã lấy anh CuLớn là thương binh
trở về, người vừa được nhà nước phong tặng danh hiệu
dũng sỹ diệt Mỹ. Ở xa tôi cũng mừng cho chị.

Học xong tôi đi làm, rồi mang kiếp sống tha phương mấy chục
năm, mãi đến năm 2006 từ Châu Âu, tôi mới có dịp về thăm
gia đình. Công việc ở Hà Nội đã tạm ổn, tôi về thăm quê,
thăm chị Hậu. Đường quốc lộ về quê đẹp và thuận tiện
hơn trước rất nhiều. Nhưng quê tôi đổi thay hoàn toàn, ký
ức tuổi thơ có con đường với những khóm tre xanh rủ bóng
xuống dòng sông hiền hòa, tôi và chị Hậu thường ngồi nghỉ
lúc trưa hè không còn nữa. Dòng sông nước đen sì thối hoắc,
tù đọng, lừ đừ như ngừng chảy. Cây cầu gỗ đã phá bỏ
thay vào đó chiếc cầu sắt bêton vô hồn. Miếu và cây si làng
không còn để lại dấu tích, chiếc ao phía sau cũng bị lấp,
thay vào đó là ủy ban xã, lá cờ đảng bay phần phật giữa
sân. Ngôi nhà ngói âm dương của chị Hậu cũng biến mất,
sừng sững trên mảnh đất đó ngôi nhà ba tầng, trên nóc có
hình con sư tử nhe răng trông rất hãi hùng. Cánh cửa sắt sơn
mầu vàng chóe, có ổ khóa từ bên trong. Tôi cất tiếng gọi
chị Hậu, nhưng im lặng, nhà hình như không có người. Có mấy
cháu đi học về, nghe thấy tiếng tôi, dừng lại bảo, nhà bà
Hậu bây giờ ở cuối làng, gần bãi tha ma, bác cứ ra đấy mà
tìm. Biệt thự này là nơi nghỉ ngơi cuối tuần của bác Trần
cán bộ cao cấp trên tỉnh.

Tôi được bà hàng xóm chị Hậu chỉ nhà và réo gọi từ
ngoài ngõ:

- Bà Hậu ơi! Có khách xa đến thăm này.

Một lúc chị ở sau nhà đi ra, quả thật tôi chỉ còn nhận ra
chị ở đôi mắt. Năm đó chị mới năm nhăm, năm sáu tuổi
nhưng nhìn chị như bà lão bảy mươi. Người chị choắt lại,
dáng đi lòng khòng. Thấy người lạ, chị vội lấy khăn trên
đầu che những vết thâm, bầm trên mặt, hình như chị vừa
bị ai đó đánh hay ngã?. Chị sững người nhìn tôi:

- Ông muốn tìm ai ạ?

- Trời! chị không nhận ra em thật sao chị Hậu? Em là thằng
Trường ngày xưa ở nhà chị, suốt ngày theo chị đi câu cáy
này.

Chị ngẩn người một lúc, đưa tay quyệt dòng nước mắt đang
chảy xuống:

- Mấy chục năm rồi, tóc em cũng đã bạc, làm sao chị nhận ra
được.

Chị nắm tay tôi dẫn vào nhà. Tôi không phải là người mau
nước mắt, nhưng nhìn chị và gia cảnh thấy mắt cay cay. Nhà
có lẽ đáng giá nhất chiếc tủ chè hai ngăn cũ, đã gẫy một
chân. Chân gẫy được thay bằng một chồng gạch còn dính vữa
chưa kịp vạc đi. Trên nóc tủ có bát hương, ảnh thờ mẹ
chị, và ảnh ba người đàn ông trẻ cười rất vô tư. Đằng
sau bốn tấm hình là ba tờ giấy Tổ Quốc Ghi Công, và một
giấy chứng nhận, hay quyết định công nhận bà mẹ VN anh hùng
gì đó của mẹ chị, tất cả đã ố vàng.

Tôi và chị đang hàn huyên, anh Cu Lớn chồng chị, chân thấp
chân cao từ đâu đó về. Chị giới thiệu tôi, anh cười hiền
bắt tay và bảo:

- Em ngồi đây với chị, anh đi kiếm cái gì lai rai, cũng trưa
rồi.

Chị Hậu cười buồn, trông anh hiền hiền vậy nhưng cục
lắm, hôm rồi mang dao đến ủy ban chém cán bộ xã, chị sợ
quá can ngăn, anh ấy còn đánh chị thâm cả mặt. Cũng may họ
nhanh chân chạy thoát, không đã vào tù rồi. Cũng từ đất đai
nhà cửa em ạ. Mấy năm trước cán bộ xã đến nói với anh
chị, họ muốn xây nhà trẻ ở trung tâm xã, nhưng không có
chỗ nào thích hợp và thuận lời bằng khu đất nhà chị. Họ
muốn đổi anh chị ra ngoài này và đền bù thỏa đáng. Đầu
tiên anh chị không đồng ý, vì ra ngoài này anh chị không biết
làm gì kiếm sống ngoài mấy sào ruộng, tiền trợ cấp thương
binh của anh không đủ tiền thuốc. Nhưng họ nằn nỉ mãi,
lại nghĩ anh chị không có con cái, xây nhà cho các cháu vui
chơi, anh chị cũng xiêu lòng. Anh chị ra đây nhận đất nhận
nhà và đền bù xong, họ không xây nhà trẻ, mà họ giao đất,
hay bán cho ông Trần xây nhà nghỉ cuối tuần, em thấy có ức
không? Ông Trần là cái ông đi học ở Đức về ở làng trên,
ngày xưa muốn tìm hiểu chị, chắc em còn nhớ. Chị là đàn
bà nghiến răng chịu đựng. Anh không chịu, kiện cáo khắp nơi
nhưng không ăn thua, nên thường xuyên vác dao đi tìm họ. Trông
anh còn đi lại vậy thôi, chứ chất độc đầy người, nằm
xuống lúc nào không biết. Trước đây chị cũng chửa đẻ
mấy lần, nhưng có ra hình thù con người đâu em. Lần nào chị
cũng ngất vì sợ. Nghe bác sỹ bảo anh nhiễm chất độc ở
chiến trường, nên không thể có con được, họ khuyên anh chị
đừng chửa đẻ nữa.

Tôi cắt ngang những lời buồn của cuộc đời chị:

- Dạo này chị còn đi câu cáy nữa không?

- Chị đã già, mắt kém, mà hết cáy rồi. Có con nào sống
được với thứ nước sông đen như nhựa đường ấy. Gò
đồng họ phun thuốc sâu bọ lạ đến đỉa cũng phải chết
thì làm gì còn cáy.

Tiếng gió hu hú từ bãi tha ma thổi đập vào cửa, làm tủ
thờ nhà chị rung rinh như trực đổ. Chị đứng dậy nhìn về
ngôi nhà cũ, nơi có con sư tử nhe răng, căng móng ở trên cao
vòi vọi với đôi mắt buồn rười rượi. Ở đây không có
đạn bom, nhưng tôi đã nhận ra dường như có một cuộc chiến
tranh thật sự đang diễn ra trong lòng người.

Viết đến đây chợt có ông bạn hàng xóm sang hỏi:

- Ông nghĩ gì mà thừ mặt ra vậy?

Tôi trả lời:

- Tôi đang nghĩ, ước gì mình có một hũ mắm cáy thứ thiệt
gửi tặng thi sĩ Trần Mạnh Hảo dùng dần, nhưng khó qúa.

Ông hàng xóm tròn mắt nhìn, như tôi vừa từ trên trời rơi
xuống:

- Ông có giở người không đấy! Bây giờ người ta mơ ước
đến những cái cao sang, như đường cao tốc, nhà máy điện
hạt nhân.. ai lại mơ như các ông. Đúng là chập cheng..

Có lẽ ông hàng xóm nhà tôi nói đúng, tôi đã giở người, và
cái đầu tôi bắt đầu chập cheng.

2-5-2011

ĐỖ TRƯỜNG

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/8748), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét