mồ hôi cúi mình trên máy, lắp đồng vào những kiện dây cáp
nóng rát, đồng ấy sẽ phải được ngâm vào ống nước thì
người ta mới chạm vào được. Sàn nhà máy ngập trong một
thứ ánh sáng màu trà tỏa xuống từ những khung cửa ám bồ
hóng. Tiếng ken két của cỗ máy tạo ra âm thanh chói tai không
ngừng. Không có điều hòa nhiệt độ. Alvin Mui, ông chủ tịch
hãng P.I.E. – đơn vị vận hành nhà máy – bảo rằng "lắp
điều hòa tốn kém lắm".
Tiếng ồn từ lò luyện kim kiểu thời Dicken này ở cảng Penang
là một phần của một hiện tượng lớn hơn thế xuất hiện
trên khắp châu Á. Hãy gọi đó là <em>Hiệu ứng Trung Hoa</em>.
Cùng với quá trình Trung Quốc tiến từ vị thế nhà sản xuất
chi phí thấp, phụ thuộc vào xuất khẩu, sang một nền kinh tế
hướng vào dịch vụ và xuất phát từ nhu cầu nội địa hơn,
lương, tiền công ở xứ này đang tăng lên. Kết quả là,
những nhà máy cấp thấp một thời vận hành ở Trung Quốc,
như các cơ sở sản xuất dây cáp điện, bây giờ đang hoạt
động ở các nước láng giềng, trải từ Malaysia và Thái Lan
đến Việt Nam và Bangladesh.
Sau suốt hai thập kỷ hút sạch công ăn việc làm và đầu tư
khỏi Đông Nam Á một cách tàn nhẫn, giờ đây Hiệu ứng Trung
Hoa đang đưa những trung tâm công nghiệp một thời suy thoái
như Penang ra khỏi tình trạng trì trệ kéo dài về kinh tế. Theo
Cơ quan Phát triển Đầu tư Malaysia, bang phía bắc này của
Malaysia thu hút 4 tỷ USD đầu tư cho khu vực sản xuất năm 2010,
tức là tăng tới 465% so với năm 2009. Người đứng đầu bang
(thủ hiến bang – ND), ông Lim Guan Eng, thừa nhận: "Thỉnh
thoảng tình hình cũng lung lay không vững, nhưng đã là kẻ lép
vế thì chúng tôi phải đứng ngoài rìa và phải làm việc chăm
chỉ hơn".
Sự bùng nổ mới mẻ ở Penang được kích thích một phần
bởi những nhà sản xuất phương Tây lo ngại trước việc chi
phí sản xuất ở Trung Quốc ngày càng tăng. Nó cũng xuất phát
từ những đổi thay sâu sắc trong nền kinh tế Trung Quốc,
những thay đổi đang chuyển hướng dòng chảy thương mại ở
khu vực. Không phải mọi công ty chuyển đến những nơi như
Penang đều là công ty đa quốc gia của phương Tây; trên thực
tế, có nhiều hãng của Trung Quốc. Khi mà lương nhân công và
sức mua ở Trung Quốc gia tăng, người Trung Quốc nhập khẩu
nhiều hàng hóa hơn từ châu Á. Đồng thời, mức lương tăng
lên cũng buộc Trung Quốc phải thuê ngoài (outsource) những công
đoạn sản xuất ở cấp thấp. Theo một bản xếp hạng năm
2010 của Citigroup trong đó 12 quốc gia châu Á được sắp xếp
theo mức lương nhân công, Trung Quốc xếp thứ 7 về độ rẻ,
Malaysia thứ 8. Sanjeev Nanavati, CEO của Citigroup Malaysia, nói:
"Nguyên nhân khiến người ta đến Trung Quốc tiến hành các
hoạt động kinh tế thuần túy là do chi phí rẻ. Bây giờ
nguyên nhân đó đang bị xói mòn".
Kết quả là hình thành một cộng đồng thương nhân đạo
đức ở châu Á, khi mà người Trung Quốc thuê ngoài nhiều hơn
và nhập khẩu nhiều hơn từ các nước khác trong khu vực. Theo
HSBC, thương mại nội bộ châu Á được dự đoán tăng trưởng
trung bình 12,2% mỗi năm cho đến 2020, nghĩa là cao hơn 40% so
với mức kỳ vọng về tỷ lệ tăng trưởng mậu dịch của
châu Á với Mỹ trong cùng kỳ. Theo ngân hàng Credit Suisse, gần
50% xuất khẩu châu Á (kể cả của Nhật Bản) giờ đây đi
vào các nước châu Á khác. Như thế là nhiều hơn nhu cầu
hiện tại về hàng châu Á ở cả ba nơi Mỹ, EU và Nhật Bản
gộp lại.
Nhà máy sản xuất dây cáp điện của P.I.E. là một ví dụ về
tính tương trợ đang tăng lên không ngừng giữa Trung Hoa và
những người láng giềng Đông Nam Á. Nhà máy là chi nhánh của
người khổng lồ về hàng điện tử ở Đài Loan – Foxconn
International (một phần của tập đoàn Hon Hai), một trong những
dây chuyền lắp ráp lớn nhất sản phẩm iPhone của Apple và là
một trong những hãng điện tử lớn nhất thế giới. Đối
với một công ty đa quốc gia như Foxconn, sử dụng những nhà
máy như nhà máy của P.I.E. ở Malaysia để lắp ráp các sản
phẩm công nghệ thấp như dây cáp, hoặc thậm chí máy quét mã
hay sạc pin điện thoại, đều rẻ như, nếu không nói là rẻ
hơn, ở Trung Quốc. Foxconn trả cho 1.500 công nhân của họ ở
Malaysia và Thái Lan khoảng 260 USD một tháng, có thể so được
với mức lương họ phải trả cho nhân công Trung Quốc. Và họ
nói là trong vài năm tới, họ có kế hoạch gia tăng lực
lượng lao động của mình ở Malaysia thêm một phần ba.
Bất chấp sự (gần như) tương đồng hiện nay giữa lương
của người sản xuất ở Trung Quốc và Malaysia, giới điều
hành công ty vẫn cho rằng trong tương lai, mức lương của
người Trung Quốc sẽ vượt hơn ở các quốc gia Đông Nam Á
một cách đáng kể. Rajesh Purushothaman, giám đốc điều hành
các hoạt động ở Penang của National Instrument, cho biết:
"Điều khiến chúng tôi phải quan tâm là việc dự đoán các
chi phí tương lai. Chúng tôi cảm thấy ở Penang mọi thứ dễ
dự đoán hơn ở Trung Quốc". Như thế là lại thêm một lý do
nữa để Foxconn đưa những cơ sở sản xuất cấp thấp hơn
đến Penang. "Vài năm về trước, quanh đây còn rất nhiều
nhà máy trống" – ông Mui, người của P.I.E., nói và trỏ về
phía một tòa nhà trống không để làm nhà máy, mà chẳng bao
lâu nữa công ty của ông sẽ chuyển tới đó. "Bây giờ
những tòa nhà (kiểu như thế) đầy người rồi. Thủy triều
đã bắt đầu dâng".
Foxconn từng chứng kiến những trường hợp công nhân tự sát,
biểu tình, cùng những lần tăng lương tiếp sau đó tại các
nhà máy của họ ở Trung Quốc. Theo ông Dong Tao, kinh tế gia
châu Á hàng đầu của Credit Suisse, những chuyện như thế càng
làm nổi rõ một thực tế là "đây là điểm khởi đầu cho
sự kết thúc thời kỳ Trung Quốc "làm công xưởng của thế
giới"". Theo Credit Suisse, đến năm 2014, Trung Quốc sẽ ngừng
cung cấp lao động thặng dư cho các nhà máy tiền công rẻ của
họ. Thậm chí mức tăng lương căn bản 30-40%, tức tỷ lệ
tăng lương trung bình của các nhà máy ở Trung Quốc trong năm
2010, sẽ đủ để làm dịu trạng thiếu hụt nghiêm trọng về
lao động từ năm 2017 trở đi tại các khu vực duyên hải phía
đông nam, nơi tiến hành phần lớn hoạt động sản xuất của
Trung Quốc.
Liệu tất cả các công ty đa quốc gia có bỏ chạy khỏi Trung
Quốc khi nạn thiếu lao động xảy ra không? Tất nhiên là
không. Ở chừng mực nào đó, lương tăng ở miền duyên hải
đông nam Trung Quốc đơn giản là sẽ kích thích các công ty di
chuyển nhà máy tới vùng nội địa ở phía tây, nơi vẫn còn
lao động rẻ hơn và cũng là nơi chính phủ đang kỳ cạch xây
dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, gồm đường xá và đường
sắt, để đẩy nhanh tốc độ hàng hóa đến và đi khỏi các
cảng biển của đất nước. Đối với những nhà sản xuất
một số mặt hàng nào đó – như laptop và máy tính, mà 70%
lượng hàng hóa này của thế giới là đến từ Trung Quốc –
thì sẽ là liều lĩnh một cách dại dột, nếu không phải là
một cách tự sát, nếu dứt áo đi khỏi Trung Quốc hoàn toàn.
Do dây chuyền thiết bị tập trung rất mạnh ở Trung Quốc,
rời khỏi nước này sẽ giống như tự cắt đứt mạch máu
của mình.
Tuy vậy, đối với các nhà sản xuất hàng hóa cấp thấp như
những gì P.I.E. vẫn tạo ra hàng đống kia, cũng như các lĩnh
vực sản phẩm cao cấp mà ở đó, sở hữu trí tuệ đóng một
vai trò quan trọng – thì sức ép phải rời khỏi Trung Quốc
để chuyển sang những nơi rẻ hơn và thân thiện hơn về luạt
pháp đang gia tăng hơn bao giờ hết. Các khu công nghiệp nằm chi
chít quanh TP.HCM ở miền Nam Việt Nam chẳng hạn, đang thu hút
ngày một nhiều vốn đầu tư từ những công ty điện tử như
Intel. Hãng này đang có kế hoạch chi tới 1 tỷ USD vào một dây
chuyền bán dẫn khổng lồ và nhà máy thí nghiệm ở đây.
Tương tự, Bangladesh đã tiến tới kiểm soát 6% thị trường
hàng dệt và quần áo toàn cầu – một thị trường trị giá
200 tỷ USD – bằng việc lấy đi phần lớn các cơ sở sản
xuất cấp thấp ở Trung Quốc, đáng chú ý là nhà máy sản
xuất áo phông và quần bò xanh.
Thật dễ giải thích tại sao. Theo Citigroup, lương tối thiểu
cho một công nhân nhà máy ở tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc
là khoảng 150 USD một tháng. Đối lập với đó, ở Bangladesh,
lương tối thiểu chỉ xấp xỉ 40 USD một tháng, thậm chí ngay
cả sau khi những cuộc đình công đầy bạo lực của công nhân
gần đây buộc các nhà sản xuất quần áo phải miễn cưỡng
tăng lương ở đó lên gần 80%.
Không có gì đáng ngạc nhiên, dây chuyền sản xuất kéo dài
từ thủ đô Dhaka phía tây Bangladesh sang cảng biển phía đông
nam của nước này ở Chittagong đã bắt đầu thu hút giới
đầu tư – những người đánh hơi thấy một nước tiểu Trung
Hoa đang bắt đầu hình thành. Brummer & Partners, một quỹ đầu
tư trị giá 10 tỷ USD, cũng là một công ty cổ phần tư nhân
ở Stockholm, gần đây đã chi một khoản tiền (con số chưa
được tiết lộ) để mua cổ phần tối thiểu trong một hãng
sản xuất quần áo của Bangladesh, hãng này có khách hàng là
những nhà bán lẻ như Gap và H&M. "Chúng tôi bắt đầu thấy
các công ty kiểu như vậy quan tâm đến Bangladesh" – Kiron
Bose, quan chức phụ trách đầu tư của Brummer ở quỹ đầu tư
tư nhân ở Bangladesh, cho biết. Khởi sự từ việc khâu quần
bò và áo phông, Bangladesh hy vọng sẽ tiến vào ngành kinh doanh
phức tạp hơn và hấp dẫn hơn, là sản xuất giày cho những
công ty như Nike và Adidas. "Đóng giày vẫn là công việc của
Trung Quốc" – Bose nói. "Đấy là lĩnh vực Bangladesh sẽ
phải cạnh tranh tiếp theo đây".
Nhưng người Bangladesh cũng sẽ còn phải cạnh tranh với người
Malaysia, đấy là chưa kể tới công nhân Việt Nam, Campuchia và
Thái Lan. Như thường lệ, đại lượng lớn trong phương trình
quyết định ai sẽ chiến thắng là chi phí. Nhưng đó không
phải là thành tố duy nhất dẫn dắt đợt thịnh vượng gần
đây của Penang. Nếu chỉ là vấn đề chi phí thì người
Bangladesh – vốn là những người nhận lương thấp nhất khu
vực – sẽ chiến thắng dễ dàng trong cạnh tranh. Nhưng Malaysia
còn có một loạt lợi thế cạnh tranh khác trong cuộc thi đua
sản xuất mới, từ logistics (hậu cần) đến địa hình đất
nước. Đảo Penang chẳng hạn, có đường xá rộng rãi, một
lượng nhân công ổn định tốt nghiệp từ các đại học khoa
học, nguồn cung cấp năng lượng hiệu quả, và một sân bay
hiện đại để từ đó hàng hóa được chuyển đến khắp nơi
trên thế giới. "Từ Penang, chúng tôi có thể nhận hàng hóa
từ bất kỳ đâu trong vòng 48 giờ đồng hồ" – Purushothaman
thuộc National Instruments nói. Hiện tại National Instruments đang
thi công một nhà máy 80 triệu USD gần sân bay.
Thêm vào đó, Penang còn được thừa hưởng từ những ông chủ
thực dân cũ hệ thống pháp luật Anh quốc, hệ thống ấy tạo
cho những người làm kinh doanh ở đây một mức độ thoải mái
nhất định. "Nếu bạn nhìn vào cả khu vực, sẽ thấy các
công ty hài lòng với các biện pháp bảo vệ sở hữu trí tuệ
và hệ thống pháp luật ở Malaysia" – ông Lee Kah Choon, chủ
tịch Invest Penang, một cơ quan xúc tiến đầu tư do chính phủ
điều hành, nói. "Trong khi đó, ở Trung Quốc, người ta rất
khó chịu khi bất kỳ thứ gì được đưa ra thị trường đều
có thể bị sao chép".
Tầm quan trọng của việc bảo vệ sở hữu trí tuệ được
một loạt giám đốc điều hành về công nghệ, ở cả Malaysia
và Trung Quốc, nhắc đi nhắc lại. Gần như trên khắp thế
giới, người ta đều không hài lòng về độ cam kết tuân thủ
của Trung Quốc đối với việc bảo vệ bản quyền và bằng
sáng chế. "Không hề minh bạch như chúng tôi muốn" – Steven
Siaw, đồng sáng lập công ty Vitrox, trụ sở ở Penang, nói.
Vitrox là một công ty công nghệ 11 tuổi, chuyên sản xuất hệ
thống giám sát sản phẩm, và đã có mặt ở Trung Quốc. "Ở
Malaysia luôn có một mức độ tuân thủ nhất định đối với
quyền sở hữu trí tuệ. Chúng tôi muốn được nhẹ đầu nhẹ
óc".
"Chúng tôi rất cảnh giác về vấn đề sở hữu trí tuệ"
– Atul Bhargava, giám đốc điều hành của Intel Malaysia, nói.
Cảnh giác như thế nào? Theo thông lệ hoạt động trên toàn
cầu, Intel hạn chế một cách nghiêm ngặt những chuyến thăm
của báo chí đến khu vực đặt dây chuyền nhà máy của họ
ở Penang: hiếm khi cấp phép, luôn luôn cấm điện thoại di
động, đề phòng trường hợp người ta bí mật chụp ảnh
bất hợp pháp. Bất kỳ nhân viên nào rời công ty đều được
nhắc nhở, một cách gần như thân ái, rằng bất kỳ sản
phẩm đăng ký sản xuất độc quyền nào đã được làm ra ở
Intel thì đều không đi ra khỏi tòa nhà này. "Phải đảm bảo
là có tường lửa" – ông Bhargava nói. Theo ông, cam kết của
Malaysia với việc bảo vệ sở hữu trí tuệ là một trong
những nguyên nhân vì sao Intel tuyển xấp xỉ 10.000 nhân công ở
Penang – số công nhân lớn nhất công ty sản xuất bán dẫn
này thuê ở ngoài Mỹ.
Các quan chức cao cấp của chính phủ Malaysia tuyên bố, đà
tăng trưởng kinh tế gần đây của Penang sẽ tiếp tục được
duy trì. "Chúng tôi đã xóa bỏ các vật cản, nhằm đưa đầu
tư vào trong nước" – Thủ hiến Lim nói. Nỗ lực dường như
đang được đền bù. National Instruments, Citigroup và công ty trang
thiết bị y tế St. Jude Medical đều có kế hoạch tăng đáng
kể số đầu nhân công ở Penang trong vài năm tới. Những
quảng cáo tìm người trên mạng ở Penang, theo trang web
jobstreet.com đặt tại Kuala Lumpur, đã tăng 80% trong năm 2010 so
với năm trước đó. Theo giám đốc vùng của Jobstreet, Chook Yuh
Yng, quảng cáo trên mạng trong năm 2011 này có vẻ cũng tương
đối tốt.
Chắc chắn là, những biệt thự kiến trúc thời Victoria nằm
dọc bờ biển phía bắc của hòn đảo, đang mục ruỗng dần
kia, là những vật nhắc nhở người ta một cách sống động
rằng phát triển phình to có thể kết thúc bằng bùng nổ và
tan vỡ. Sự phát triển của Penang khi họ sớm được vinh danh
là đầu mối thương mại toàn cầu của thế kỷ 18 dưới chế
độ thống trị của Anh, đã kéo theo một vòng hào quang rộng
mở. Cho đến giờ, những ngôi biệt thự bị bỏ hoang kia vẫn
cho người ta thấy một mảnh đất lãng phí lợi thế cạnh
tranh của mình – như Penang đã từng vài lần lãng phí – có
thể lấy lại lợi thế ấy như thế nào. Và có lẽ đó là
huyền thoại đáng ngạc nhiên nhất về Hiệu ứng Trung Hoa. Quan
niệm thông thường cho rằng sự lớn mạnh của Trung Quốc sẽ
là sự sụp đổ của Đông Nam Á. Giờ đây chúng ta đang thấy
là Trung Quốc có thể góp phần nhen nhóm lại sự phát triển
ở một khu vực từng một thời tưởng như suy tàn.
Người dịch: Đan Thanh
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/8757), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét