Hamvas Béla - Thời kỳ Bảo Bình (Phần II)

<center>- 11 – </center>

Cách đây không lâu có người đã tìm ra một cách diễn đạt
cực kỳ may mắn về sự khác biệt tâm lý. Cần một khái
niệm về sự hoàn hảo tinh thần của con người. Một linh
hồn, trong đó có tất cả mọi cái cần cho nó, sự hoàn hảo,
không thiếu hụt, về mọi mặt đầy đủ và hoàn chỉnh, nơi
những giác quan, tri thức, tinh thần, trí tưởng tượng, khả
năng tưởng tượng (imaginacio) trực giác và tất cả những cái
khác họp nhau hài hòa, tất nhiên đấy chỉ có thể là linh
hồn thượng đế. Nhưng đôi khi, trong những hình thức khiêm
tốn hơn xuất hiện ở con người, và được gọi là tính cách
cá nhân. Trong tính cách cá nhân, mọi đặc tính và thành tố
cuả linh hồn xuất hiện cùng lúc với nhau.

Điều này trái ngược hẳn với một loại linh hồn khác mỏng
manh, thiếu hụt, đứt đoạn, chưa hoàn chỉnh. Sự khác biệt
cơ bản nhất là linh hồn hoàn toàn luôn luôn to lớn hơn, tròn
trặn hơn, hoàn toàn hơn và là một thể, còn loại linh hồn
thiếu hụt mỗi ngày một thu hẹp lại, đứt đoạn hơn, lỏng
lẻo và trì trệ hơn.

Bởi vậy với toàn bộ linh hồn điều này không chỉ là tính
chất, mà còn là bản tính tự nhiên và mục đích của nó;
trong linh hồn thiếu hụt, sự đứt đoạn và tan rã mỗi ngày
một mềm yếu đi, bé nhỏ lại, tan rã dần.

Cái linh hồn hoàn toàn, mà sự nỗ lực, bản chất, mục đích
và bản năng của nó để ngày càng hoàn toàn hơn: đấy là tâm
lý Vĩ mô. Cái linh hồn đứt đoạn bản năng của nó khiến nó
ngày càng bé nhỏ, thiếu hụt và trống rỗng dần, đấy là
tâm lý Vi mô. Tâm lý Vĩ mô là thứ linh hồn Vĩ đại, có tính
chất vũ trụ, cao cả, toàn diện. Tâm lý Vi mô là thứ linh
hồn Bé nhỏ, thảm hại, thứ linh hồn cát vụn vặt.

<center>- 12 –</center>

Người ta bắt gặp đặc điểm quan trọng nhất của đời
sống của người mông muội (primitiv) là sự sùng bái vật tổ
(totemistikus). Ký hiệu vật tổ, huy hiệu, huy chương hoặc ảnh
hoặc những vật tương tự, chúng không còn là vật dụng tầm
thường nữa, mà mang ý nghĩa và giá trị truyền tải từ
đời sống và niềm tin của kẻ mông muội.

Vật tổ ở các dân tộc đã văn minh hóa có thể là tên,
hoặc tượng một người anh hùng dân tộc, là cờ, là quốc ca.
Vật tổ xuất hiện khi con người trong đám đông không hiểu
rõ về ý nghĩa của quốc gia, nòi giống, ngôn ngữ, số phận
dân tộc chung, và không có cả khả năng ý thức về bản chất
và hiện thực của đời sống cộng đồng. Những lúc như vậy
chúng là cái mà Sorel gọi là thần tượng (mitos) và Pareto gọi
là rezium (cặn bã).

Những tượng trưng hoặc vật thể nào đấy sẽ thể hiện
hình ảnh vật tổ. Bản thân vật tổ hút linh hồn của đám
đông. Người ta định nghĩa vật tổ là sự khuếch trương
chủ nghĩa tập thể. Vật tổ là hiện tượng tâm lý vi mô, và
phù hợp hoàn toàn với ý thức - thượng đế của tâm lý Vĩ
mô.

Khi trong con người ý thức cá nhân rơi vào sự mờ mịt, tính
tập thể nổi trội lên và bao hàm. Chủ nghĩa tập thể sáng
tạo ra vật tổ, ra ký hiệu, huy chương, huy hiệu, những vật
tượng trưng này thể hiện linh hồn tập thể. Tâm lý Vi mô
bị đứt đoạn và phân rã đến mức các thực thể người
sống bên cạnh nhau, giống như những hạt cát hoặc những viên
sỏi, không có sự tiếp xúc nghiêm chỉnh và bản chất, tự thu
mình lại.

Trong cộng đồng lúc đó không có sự đoàn kết và thống
nhất. Nó cần một biểu tượng bên ngoài như thế nào đấy
để nhiều tâm lý Vi mô nhỏ bé gặp nhau và thống nhất lại.
Biểu tượng đấy là vật tổ (totem).

Sitwell Osbert trong truyện ngắn <em>Bản nhạc ba người</em>
đặt ra một giả thuyết, sau vài chục năm xảy ra một tình
huống, sẽ có ba loại người cùng chung một linh hồn. Đó là
thời kỳ mỗi người một linh hồn riêng đã trải qua lâu
rồi. Lúc đó các nhân viên sở bảo hiểm, các sĩ quan quân
đội và những người hầu bàn trong câu lạc bộ sẽ cùng chung
nhau một linh hồn. Nghe thật hài hước. Và đúng là như thế.

Trạng thái tâm lý Vi mô là một sự quái dị vô tận. Chính
sự đứt đoạn, cắt xén quái dị và kỳ lạ này đặc trưng
cho con người mông muội. Trong đám đông, vật tổ không tượng
trưng cho ba linh hồn như vậy mà là một hình ảnh, trong đó
tượng trưng cho hàng trăm hàng nghìn, hàng vạn linh hồn cùng
một lúc. Thậm chí là một linh hồn chung cho hàng triệu con
người.

Tất nhiên vật tổ không phải loại linh hồn đích thực mà
là thứ linh hồn phụ. Nhưng thứ linh hồn phụ này đối với
đám đông mê muội vô cùng cần thiết. Bởi nó duy trì linh
hồn cho đám đông.

<center>- 13 –</center>

Sự phân biệt tâm lý Vĩ mô và tâm lý Vi mô cũng giải thích
một bí ẩn khác của đám đông mê muội, cái mà Tylor, một
người Anh, gọi là thuyết vật linh (animizmus).

Anima nghĩa là hồn. Thuyết vật linh có nghĩa là con người mông
muội gán linh hồn cho các đồ vật, các hiện tượng, cho đá,
cho các dụng cụ. Hay nói cách khác: gán linh hồn riêng của
mình vào đồ vật. Họ tin rằng các đồ vật là những thực
thể có linh hồn, và trong mọi sự vật ẩn náu cái họ gọi
là mana. Mana không phải như khoa học vẫn tin tưởng là linh
hồn khởi thủy, là linh hồn cổ, mà mana là linh hồn mông
muội, là thứ linh hồn lạc hậu phát triển ngược trở lại.

Một thứ tâm lý Vi mô. Một thứ linh hồn bị rạn nứt, mờ
mịt, không định hình, một thứ mà kẻ mông muội không hề
sống cùng với nó. Bởi con người, nếu hiểu biết về chính
tâm lý của mình và sống bằng linh hồn riêng của mình, cần
tự ý thức về mình.

Nhưng kẻ mông muội lại vô thức. Những linh hồn bé nhỏ
đấy cứ nhởn nhơ bay lượn tự do, rơi vào các đồ vật, các
công cụ, các sự việc, và đọng lại ở đó. Thuyết vật linh
không là gì khác ngoài chính linh hồn tơi tả đánh mất cái
tâm lý Vĩ mô bị đứt đoạn của con người mông muội trong
sự tăm tối, và rơi vào các sự vật, hay nói cách khác là
hiện tượng sự vô thức hoàn toàn thay thể bản thân cái linh
hồn Bé nhỏ chìm trong tăm tối, và nhầm lẫn bản thân mình
với các sự vật khác.

<center>- 14 –</center>

Giờ đây chỉ còn đúng một vấn đề chưa được giải quyết
còn lại: ý nghĩa của chủ nghĩa duy vật hiện đại. Không là
gì khác ngoài bản thân toàn bộ ý nghĩa của chủ nghĩa duy
vật.

Không thể động đến vấn đề này, nếu như chưa xuất hiện
một nhà tư tưởng đặc thù, người có một trực giác đặc
biệt hiểu về những điều khó nhất và tận cùng nhất. Đấy
là Franz Baader, một người trong thời gian gần đây một phần
bị lờ đi, một phần bị quên lãng, đúng vậy, nhưng là một
nhà tư tưởng rất giỏi. Baader đưa ra câu trả lời, như thể
người ta mang đến thẳng cho ông câu hỏi của hiện tại.

Vật chất, ông nói, không phải là một cái gì man rợ. Và
điều này không chỉ các tác giả thiên chúa giáo cổ, mà cả
truyền thống phương Đông cũng đồng tình.

Vật chất xuất hiện từ hậu quả của những tàn tích đổ
vỡ phân tán hỗn loạn của vũ trụ bởi những tai họa lớn
trên thế giới. Ông nói, trong vũ trụ có một thiên thể duy
nhất là Sirius Béta, một ngôi sao đã nguội và tắt, không ánh
sáng, không nhiệt độ, một cơ thể bất động, từ đấy các
nguyên tử tràn ra, chồng chất lên nhau yên nghỉ trong hỗn
loạn, như trên một gò đống vĩ đại. Đấy là Sirius Béta là
vật chất đầu tiên, đích thực (par excellence).

Con người cực kỳ đúng đắn, khi cẩn thận tách vật chất ra
khỏi thiên nhiên. Thiên nhiên, Baader viết, là một phần nào
khả năng tâm linh của tinh thần vũ trụ. Có thể phân tích
khái niệm hơi khó hiểu xa lạ này như sau: cái tinh thần sáng
tạo ra thế giới tập trung lại ở các tụ điểm như các
thiên thể, mặt trời, các hành tinh, và tất cả sự sáng tạo
này trong từng phần và toàn bộ cần gọi là thiên nhiên.

Thiên nhiên chứa chấp các khả năng tinh thần cơ bản. Thiên
nhiên, gọi bằng từ ngữ triết học, là substancia, là cái cơ
bản, là bản thể. Là thành tố sáng tạo cơ bản của vũ
trụ.

Vật chất không phải là cái bản thể(substancia), mà là rác
rưởi vỡ vụn và rơi rụng của thiên nhiên, sự có mặt của
nó trong vũ trụ hoàn toàn không có ý nghĩa gì. Vật chất là
phân của thiên nhiên. Trong sự hỗn độn nó dừng lại và trở
thành những mảnh vụn vô dụng của thiên nhiên, một mặt nó
là kết quả của những quá trình đứt đoạn, va chạm, đổ
vỡ hoàn toàn, mặt khác là kết quả của quá trình lựa chọn,
sự vứt bỏ không tiêu hóa nổi, quá trình hóa bụi.

Vật chất là một thiên nhiên chết và tha hóa. Trong vật chất
thiên nhiên bị phá vỡ và vứt sang một bên. Trong thiên nhiên
thực ra không có vật chất, bởi vì ở đấy tất cả các
nguyên tử đã có vị trí đánh dấu sẵn từ cái tinh thần
sáng tạo ra vũ trụ và trong từng nguyên tử của thiên nhiên
đều có nội dung tinh thần và ý nghĩa của nó.

Vật chất chỉ có trong thiên nhiên, hay đúng hơn ở ngoài vũ
trụ tinh thần, có trong sự hỗn loạn bừa bộn trộn lẫn vào
nhau và bị quét ra khỏi một thế giới sinh động. Từ sự
giải thích này mọi người có thể đoán biết vậy chủ nghĩa
duy vật là gì.

Khi con người biến thành kẻ duy vật, hay nói cách khác, khi con
người bắt đầu tin thế giới sinh ra từ vật chất và là
vật chất, người ta gắn chặt và bám lấy thứ vật chất
này, và sự ưu tiên, môi trường, dục vọng, tôn giáo dành cho
vật chất khiến con người lờ mờ cảm thấy họ cũng như
một cái gì đó bị rơi ra, bị đứt đoạn, đổ vỡ, hóa
bụi, bị rơi vào đường cống và đám rác.

Con người từ bỏ mối quan hệ với những sức mạnh thần linh
của thiên nhiên, trở thành một tàn tích bị mắc kẹt lại
trong hậu quả của tai hoạ khủng khiếp tách ra khỏi vũ trụ.
Nó đánh mất liên hệ tinh thần, bởi vậy nó lạc hậu trở
lại và chìm xuống. Với quan điểm này có thể thấy rõ những
lũ đê tiện mông muội hiện đại vì sao là những kẻ duy vật
và vì sao cần phải trở thành như vậy. Và có thể hiểu
được tôn giáo đám đông vì sao cần trở thành duy vật cho dù
về lịch sử hay về những cái khác. Đám đông chỉ còn duy
nhất một khả năng sống cuối cùng, và đấy là vật chất.

Chủ nghĩa mông muội (primitizmus) mà đám đông hiện đại đang
sống trong đó, với sự lạc hậu tụt lại sẽ chẳng mấy
chốc ngang bằng người Papua và neger (da đen), và không thể
sống ở chỗ khác ngoài vật chất.

Thứ -người phân- của rác rưởi bị đứt đoạn và vun lại
chỉ cảm thấy dễ chịu trong đống rác tách ra khỏi vũ trụ.
Từ điều này có thể hiểu tại sao người Pháp gọi những
kẻ đê tiện tụ họp là <em>canaille</em> còn chúng ta gọi chúng
là lũ cặn bã.

<center>- 15 –</center>

Từ Baader có thể biết thêm một điều nữa. Trên thế gian
không có một bộ phận nào mà các sức mạnh ưu việt không
tàng trữ trong đó. Đấy là những Quyền lực thiên nhiên, linh
hồn và tinh thần, như Baader viết, là chốn ẩn náu của những
khả năng tâm linh.

Trong vật chất cũng có những Quyền lực này, những gì phù
hợp với nó, không phải quyền lực tâm linh mà là quyền lực
vật chất. Trong vật chất, cũng như trong mọi cái khác, điều
quan trọng là nó có quan hệ như thế nào với các sức mạnh,
những sức mạnh như thế nào nhập vào nó và các tác động
như thế nào thể hiện ra ngoài.

Người Hy lạp đã nhận ra sức mạnh phản chiếu của những
Quyền lực tồn tại trong thiên nhiên, trong linh hồn và trong
tinh thần, và truyền thống này còn để lại sau này cho chúng
ta.

Platon đặt tên những ánh sáng phi vật chất thu hút con người
và có tác động đến con người này là ý tưởng (idea). Ý
tưởng là một hình ảnh bên trong, bằng sự giúp đỡ của ý
tưởng, Quyền lực cao hơn nâng con người lên gần nó.

Từ vật chất cũng có một cái gì đó phản chiếu, nhưng
không phải ý tưởng mà là thứ ngược lại với chính ý
tưởng. Người Hy lạp không biết gì về điều này. Nietzsche
cho rằng, người Hy lạp nhận ra nhưng sự thiển cận tâm lý
đã ngăn cản họ. Paracelsus nhận ra đầu tiên hình ảnh những
tia sáng phản chiếu trong vật chất, ngược với ý tưởng, ông
gọi là <em>evestrum</em>

Ý tưởng là một hình ảnh nâng lên còn <em>evestrum</em> thì lôi
xuống và mạt sát. Ý tưởng thì thanh tẩy và sáng láng, còn
<em>evestrum</em> tăm tối và bẩn thỉu. Người nào sống hướng
về thế giới của các ý tưởng, người đó thanh lịch, tấn
tới, ngày càng hài hòa, hiểu biết, sâu sắc và thông thái
hơn. Ý tưởng là chất dinh dưỡng quan trọng nhất cho tâm lý
Vĩ mô. Thiếu nó không thể có một đời sống cao cả, lớn
lao, hoàn toàn và đẹp đẽ được. Bằng hình ảnh của các ý
tưởng các Quyền lực luôn mở về phía con người nâng con
người lên gần với nó.

Còn <em>evestrum</em> phản chiếu sức mạnh tăm tối ngự trị
trong vật chất, là chất dinh dưỡng của tâm lý vĩ mô, thứ
chìm nghỉm, làm tê liệt, làm ngu đần, và bóp nát. Vật chất,
như Baader viết "thứ thiên nhiên góa bụa" vì ông chồng tinh
thần đã chết, và giờ đây những sức mạnh độc ác, man rợ
và nhợt nhạt nhập vào nó.

Những sức mạnh này, các <em>evestrum</em> lôi kéo con người
đến với chúng, khi họ đến với vật chất. Đặc tính cơ
bản của <em>evestrum</em> là thô bạo và keo kiệt. Đấy là
những hình ảnh ma quỷ nhất mà những Quyền lực đen tối ôm
ghì con người vào với chúng.

<center>- 16 –</center>

Con người mông muội (primitiv) đầy rẫy những lo sợ kinh hãi,
đầy những lo âu không nắm bắt được, nó cảm thấy những
con mắt độc ác đang nhìn, mà mê thuật tê liệt của nó chỉ
bằng những thực hành phép thuật mới xua đuổi được. Nó
sống trong một trạng thái như thể có những cánh tay bẩn
thỉu nhơ nhớp chìa ra với cái động chạm ẩm ướt, như thể
bị những bóng ma quỷ không bị ngượng ngùng săn đuổi,
khiến nó chỉ trốn chạy được trong giây lát.

Con người mông muội trong bóng tối vô thức tập thể sống
trong sự bỏ bùa của <em>evestrum</em>. Và ở đây thể hiện
hoàn toàn sự tuyệt vọng của ý nghĩa của chủ nghĩa duy
vật.<em> Anima est ubi amat</em> - (latinh: nguyên cả câu của St.
Augustino: <em>anima est ubi amat non ubi animat</em>: linh hồn có mặt
ở nơi nó yêu, chứ không phải ở nơi nó sống) nếu con
người nhìn vào vật chất, đặt linh hồn vào vật chất, sẽ
sinh ra evestrum và nuôi nó trong bản thân mình, những biểu hiện
thô bạo và keo bẩn, như những con mắt độc ác nhìn trừng
trừng vào họ, làm tê liệt họ bằng những mãnh lực ma quỷ
và săn đuổi họ, tóm lấy họ và bóp cổ.

Ý nghĩa của chủ nghĩa duy vật, là làm cho những Quyền lực
đen tối ẩn trong vật chất tóm lấy con người, khóa họ lại
và đẩy họ chìm xuống thế giới vật chất: thế giới vật
chất hay chính là cái hố rác không bản thể, nơi rác rưởi
rơi rụng từ thiên nhiên tích lũy lại và quay cuồng, với
những giọng cười nhăn nhở không nghỉ của quỷ sứ.

Bởi vậy đặc điểm nhận biết của đám đông mông muội bên
cạnh chủ nghĩa sùng bái còn cả sự cuồng nhiệt có tính
chất ma quỷ nữa. Kẻ mông muội là chaotisches Unwesen – là
một thực thể hỗn loạn thảm hại đã từ giã danh giá con
người để trở thành loại người biến thành vật chất.

Quá trình man rợ hóa có thể thấy từ đám đông ngày nay không
là gì khác, ngoài một bộ phận bị tách rời ra khỏi thiên
nhiên biến thành sự phi bản thể, biến thành vật chất- thứ
bị những sức mạnh ma quỷ nhập vào- một bộ phận bị đứt
đoạn của nhân loại biến thành thực thể không bản thể,
rối loạn, một thứ chiến lợi phẩm ngu xuẩn cho các Quyền
lực tăm tối.

<center>- 17 –</center>

Nỗi nguy hiểm lớn nhất đe dọa một dân tộc, không phải là
nó chìm xuống hàng ngũ nô lệ, và phải hầu hạ một đân
tộc khác mạnh hơn, đông hơn và hung tợn hơn. Những dân tộc
nô lệ có thể vĩ đại, trái ngược với sự nghèo khổ, với
công việc làm lụng vất vả và bị sỉ nhục, họ vẫn có
thể sống một số phận cao cả.

Nỗi nguy hiểm lớn nhất đe dọa một dân tộc là họ biến
thành những kẻ mông muội, tự mình vứt đi cách tư duy có ý
thức, cùng với những nhà tư tưởng có ý thức, chìm xuống
biển vô thức.

Bằng cách đó, họ biến thành lũ đê tiện, họ tha hóa thành
lũ cặn bã và phân hóa, và chìm xuống trình độ của những
người da đỏ của rừng nguyên thủy, thành dân da đen, người
Eskimo Tundra, người Papua trong sa mạc châu Úc.

<center>- 18 -</center>

Danh giá lớn nhất một dân tộc đạt được không phải là
nền văn hóa, không phải biến thành một cái gì mang tính chất
tinh thần. Tinh thần không phải là bản thể tạo dựng ra thế
giới vô tận mà chính là một phạm vi biểu hiện của các
sức mạnh, các Quyền lực và các thần linh, như thiên nhiên và
linh hồn.

Tinh thần chỉ tích cực nếu có một sức mạnh cao cả, một
thế lực hoặc thần linh nhập vào, còn nếu không nó trống
rỗng, tiêu cực, bất lực và vô dụng. Nhưng khi tích cực nó
cũng có thể ma qủy, tàn bạo, tiêu cực, hoặc có thể quý
phái, trong sạch, nghiêm chỉnh, phê phán- có thể xuất chúng,
sáng ngời và cao cả. Cho rằng bản thân tinh thần là một bản
thể trừu tượng tồn tại, chỉ có các nhà bác học tinh thần
tin như vậy, tốt nhất một lần và mãi mãi nên loại khái
niệm này ra khỏi mọi cuộc chơi.

Tinh thần bản thân nó tiêu cực: các nhà tư tưởng thiên chúa
giáo đều nói mọi tinh thần không điều chỉnh và dâng hiến
đều quỷ sứ. Một dân tộc có thể có văn hóa và có tinh
thần, nhưng vẫn độc ác, vô dụng, đáng sợ và nhục nhã.

Danh giá lớn nhất mà một dân tộc có thể đạt được là
sống một đời sống thiêng liêng. Dân tộc lớn không phải là
dân tộc văn hóa. Có những dân tộc lớn không tạo dựng nền
văn hóa, và có thể sẽ không tạo dựng. Giá trị của con
người không thể chỉ phụ thuộc vào việc dựng lên những
đồ vật gì nhìn thấy được, không thể.

Giá trị của con người có được từ sự trong sạch của số
phận và từ sự tiếp xúc với các sức mạnh cao cả vũ trụ.
Giá trị của dân tộc không thể phụ thuộc từ việc dùng
công cụ như thế nào để làm nhẹ gánh và tô điểm cho sinh
tồn. Danh giá của dân tộc phụ thuộc vào bản chất thiêng
liêng của sự tồn tại của nó.

<center>- 19 –</center>

Khoảng một trăm năm trước, khi Kierkegaard nhận ra sự tấn
công của sự tàn bạo, tình thế thật tuyệt vọng. Lúc
Nietzsche còn sống, ông đã nghi ngờ . Khi thế chiến bắt đầu
người ta nhận ra <em>buổi hoàng hôn phương Tây</em> , ý nghĩa
của nạn di dân đã trở nên rõ ràng. Cách đây một trăm năm
có vẻ như nhân loại sẽ chìm nghỉm xuống không còn dấu vết
và nhục nhã.

Trong thời đại của Nietzsche, sự nghi ngờ là con người mà
Nietzsche tin tưởng liệu có cứu vãn được thế giới hay
không. Khi xảy ra thế chiến con người đó vẫn sống. Nhưng
cái quyết định là hai mươi năm cuối ít ra đã trôi qua yên
ả. Trong khoảng thời gian đó một dạng người mới có thể
phát triển và có thể mạnh lên, tự mình biết suy luận.

Uszpenszkij viết, trên khắp trái đất, hoàn toàn độc lập về
nòi giống, dân tộc, tôn giáo, xã hội, trình độ, khu vực,
tuổi tác, giới tính, một giống người mới thứ sáu đang
hình thành. New race - sự hình thành, xuất hiện, bộc lộ của
một giống người mới là một bí ẩn lớn không giải thích
được.

Chừng nào những thành viên của giống người này rải rắc
khắp nơi trên trái Đất- có thể trong các mỏ than đông phi,
trên cánh đồng cỏ châu Mỹ, trên các tàu chiến Nhật bản,
trong một làng nhỏ Bancan, trong một nhà máy hộp của Nauy, ở
ngoại ô Luân Đôn như một thày phụ lễ hay một công nhân,
hoặc một nhân viên, một người lính, người bán báo rong, hay
bác sĩ nội khoa - họ đơn độc, với trước bản thân, họ
nổi lên như những thực thể khác thường, phi lý, những
người không chỉ không thể hòa nhập với môi trường và thế
giới của họ, mà những điều đó còn không có chút xúc tác
nào cơ bản với họ.

Những con người này rải rắc khắp trái Đất, tự thân,
đứng vào một góc cách xa môi trường của họ. Họ là những
người xa lạ. Bởi vì đúng là xa lạ. Giống người mới này
rất có thể đã mất đi nhiều. Ai mà biết được, bằng cách
nào? Một phần có thể đã tự tử, một phần khác thoái hóa,
nghiện ngập hoặc nổi loạn, phạm pháp và rơi vào tù. Một
bộ phận khác mắc bệnh thần kinh, hoặc lũ lẫn.

Tóm lại đây là một sự xuất hiện bí ẩn mới không thể
hiểu được, đại biểu của giống người mới này từ từ ý
thức rằng: tôi không đơn độc. Những người giống tôi ở
đâu, điều này vẫn bí mật. Nhưng tôi biết, họ tồn tại,
và nếu gặp gỡ, tôi nhận ra họ ngay mà không cần nói với
nhau một lời.

Chừng nào từ một con người như thế nào đấy chỉ có một,
không ngoại trừ có hai, là điều đặc biệt, nếu ba đã thành
cộng đồng. Trước mắt chỉ trong những dấu vết. Sự bí ẩn
thứ ba – gặp gỡ và thống nhất- sẽ muộn hơn.

Việc truyền bá về giống người thứ sáu không phải không
nguy hiểm. Nguy hiểm vì ngày nay, ở điểm giữa tai họa hồng
thủy của vũ trụ này sáng chế một con thuyền Nôê còn quá
sớm, và hy vọng chạy trốn cám dỗ, trong khi không ai có thể
biết có hay không khả năng trốn thoát.

Trong việc truyền bá về giống người thứ sáu này có một
cái gì như điềm báo, và ngay lập tức có thể cảm thấy ý
tưởng này nằm trong bầu khí quyển bí hiểm của thượng
đế. Nhưng điều này chỉ khiến sự việc này nguy hiểm hơn.
Trước mắt chỉ được phép coi ý tưởng này như một sự
tượng trưng: đấy là một con đường mở ra cho tất cả mọi
người, một khả năng cho tất cả mọi người xác định vị
trí đứng của mình.

Chỉ phụ thuộc vào y. Nếu y tiếp cận lối tư duy có ý thức,
con đường bước đến chiếc thuyền Nôe mở ra trước mặt y.
Còn nếu y chìm vào đám đông, y sẽ bị loại ra khỏi giống
người thứ sáu. Nhưng chỉ như vậy thôi cũng đã rất cần
cẩn thận. Cái gì có xuất thân từ thượng đế, quá nhiều
đối với con người. Con người, hãy tỉnh táo và mạnh mẽ!

<center>- 20 –</center>

Cuộc tranh đấu đã ngã ngũ, mà không cần rơi vào trận
chiến. Giống người thứ sáu và đám đông không bao giờ
đứng đối mặt với nhau, tay cầm vũ khí và bước vào trận
đụng độ. Thực ra đôi bên không gặp nhau. Đám đông chuẩn
bị rơi hoàn toàn vào vật chất, khi giống người mới xuất
hiện trên trái Đất. Hai loại người này không bao giờ nhìn
vào mắt nhau. Chỉ có những thực thể cá nhân đánh nhau, bên
ngoài có vẻ như trận chiến cá nhân. Hậu trường là siêu
hình (metafizika).

Cuộc tranh đấu vẫn đang tiếp diễn, dù kết quả không còn
đáng nghi ngờ đi chăng nữa. Con người chỉ là công cụ của
các sức mạnh Siêu nhiên, nếu ai trong chúng ta thắng, sức
mạnh siêu nhiên nằm trong chúng ta thắng.
Cái gì quyết định, con người thuộc loại người nào, thuộc
đám đông đang chìm xuống nạn hồng thủy hay thuộc giống
người thứ sáu? Sự xác định này mọi giá là định mệnh.

Vị trí của giá trị đời sống ngày nay không có ý nghĩa gì
hết. Nhiều tiền, quyền lực thế giới hay nhà thờ, sự xuất
thân, trình độ, tinh thần đều không có ưu thế. Sức mạnh
cũng không. Tri thức cũng không. Tôn giáo không. Tài năng không.
Thậm chí sự thiên tài cũng không nốt.

Điều này đám đông, dù không hiểu, vẫn cảm thấy rất rõ.
Và điều này khiến vị trí của giống người thứ sáu trở
nên vô cùng nguy hiểm.Trong từng thành viên của đám đông
đều có một điểm nhất trí là phải chà đạp một giống
mới, bắt nó im lặng và bẻ gẫy nó.Nếu cả đám đông đã
chìm, không ai được nổi lên.

Trong đám đông, sự tàn phá những hiện tượng tiến hóa cao
có giá trị nổi lên như một nạn dịch. Sự tiêu diệt này
phần lớn không mục đích và nhầm mục đích. Chưa cần nói
về một giống người mới, đây đơn thuần chỉ là sự bẻ
gẫy sự tiến lên của cá nhân. Đám đông không chịu được
điều này. Họ sát hại cả trẻ con với hy vọng sẽ không
trở thành kẻ đáng sợ với họ.

Nhưng duy nhất chỉ có một Ai cập. Và luôn luôn trong mọi
trường hợp vẫn có Ai cập. Họ giết hại hàng tá người, và
kẻ bị lùng bắt, chạy trốn. Công cuộc tìm kiếm vẫn đang
tiếp diễn. Người nào chỉ cần cao hơn họ một chút, đã bị
nghi ngờ. Chỉ được phép làm nô lệ và câm điếc, ngoài ra
tất cả đều bị cấm.

Đám đông, như chúng ta đều biết, không mắc bệnh thần kinh
như Le Bon dễ dàng tin thế, mà là một sự ngu xuẩn ma quỷ.
Đến tận ngày hôm nay họ vẫn tưởng đang nắm quyền thống
trị và thống trị cả thế giới. Nhiều phần tử tinh thần
đứng đắn cũng bị rơi vào niềm tin này. Bởi vậy họ nói
đến sự di dân mới, sự xâm nhập của sự tàn bạo và sự
thống trị của tập thể.

Ở đây không có sự thống trị nào hết. Tai họa không phải
là sự tàn bạo nổ ra, mà là sự chìm xuống của nạn hồng
thủy, đang diễn ra hôm nay. Không phải vấn đề thống trị mà
là vấn đề cái chết của đám đông.

Không gì đặc trưng hơn cho sự vô thức của đám đông bằng
việc, trong giây phút họ tưởng mình là kẻ thống trị thế
giới, chính là phút cái chết kề cận cổ họ.

Tận lúc ấy họ vẫn đang đi tìm kiếm kẻ thù. Vì họ tưởng
kẻ thù đe dọa chiến thắng của họ. Họ không nhận ra rằng,
nếu ai có cất lời cũng chính vì quyền lợi của họ.Có một
sự hợp tác không lời giữa các thành viên của đám đông
rằng cần và được phép giết kẻ nguy hiểm.

Kinh nghiệm cho thấy trên mọi lĩnh vực của xã hội, đám
đông đã chà đạp có hệ thống, cho dù một cách bản năng
những người mà họ đánh hơi thấy có gì mới. Họ được
phép đánh gục thực thể này, cần phải và được phép cướp
bóc, đầy đọa, lừa gạt. Không cho phép người ta lên tiếng.
Đây cũng là một đặc điểm có thể nhận ra sự đồng lõa
câm lặng của đám đông.

Không thể nói về đặc điểm của giống người thứ sáu. Và
nếu ai dám làm điều này, là đã cố gắng phân loại mình
bằng một cách không được phép. Thậm chí dùng một từ
tượng trưng theo đúng nghĩa. Và với điều này đã dựng lên
một bản án trên đầu mình: bằng điều này thừa nhận mình
thuộc về đám đông.

Chỉ có một điều duy nhất có thể nói chắc chắn: giống
người mới cần phải hiểu hết tất cả những điều đang
diễn ra hôm nay, hiểu từ cái nhỏ nhất và hiểu đến cùng.
Cần phải từng trải qua quá trình đám đông hóa và quá trình
mông muội hóa để rồi chiến thắng nó. Cần đồng hóa và
thẩm thấu cái biển vô thức này vào mình, rồi vượt lên
khỏi nó. Không được phép vứt evestrum sang một bên: cần
phải hít nó vào và tiêu hóa nó.

Chỉ những người thuộc giống người mới này, những ai từ
bản thân sự mông muội của mình vươn lên và tự thanh lọc
mình- để trở thành một bộ phận sáng tạo ra cái cá nhân,
nhưng đã giác ngộ- đã trải qua nạn hồng thủy, và tham gia
đến tận cùng cơn chìm lụt này, giữa những Quyền lực đen
tối, những người đã trở nên vững mạnh và quay về phía
ánh sáng bằng một ý thức hoàn toàn.

- 21 –

Điều quan trọng nhất và thật tốt đẹp, nếu ai cũng ngồi
suy nghĩ lại một cách hoàn toàn nghiêm chỉnh.

Kẻ mông muội man rợ không phải là người cổ đại. Sự man
rợ mông muội xuất hiện trong quá trình thoái hóa trở lại,
là thứ rác rưởi rơi vãi từ những tai họa. Đấy là thứ tai
họa giống như khi xuất hiện các dân tộc primitiv.

Kết thúc của màn kịch đám đông hóa ngày càng lan rộng là
lúc đám đông chìm vào sự vô thức. Một bộ phận quay về
với rừng sâu. Một bộ phận khác chồng chất nhau trong các
thành phố lớn, trong các nhà máy, các trang trại. Đây chỉ là
vấn đề hình thức. Nhưng một lần và mãi mãi nó bị tách
rời ra khỏi thế giới sáng tạo, bởi nó đã biến thành vật
chất.

Con người đầu tiên và là con người cổ đại không phải từ
vật chất, từ sự tăm tối nổi trội lên, không, không phải
như những kẻ duy vật khẳng định, con người trong quá trình
phát triển đã từng là con vật, và bước ra khỏi biển vô
thức.

Con người đầu tiên có hình thức của thế giới cổ đại.
Là một hiện tượng vũ trụ. Là thực thể cổ đại mà trong
nó có ý thức rõ rệt về nguồn gốc xuất thân từ thượng
đế, từ vũ trụ.

Con người cổ đại là <em>homo aeternus</em>, - là con người vĩnh
hằng. Không phải từ vật chất và chưa bao giờ là, mà nó là
một thể thống nhất thiên nhiên - tinh thần - linh hồn, và
những ý tưởng được chọn lựa, những đặc trưng phản
chiếu từ các sức mạnh Siêu nhiên điều khiển sự tồn tại
của nó.

Đặc điểm của con người cổ đại là sự hiểu biết rộng
lớn và rõ ràng, hay nói đúng hơn là lối tư duy logic có trong
bản thân nó cùng với sự nhận thức những hài hòa cổ xưa
của các giác quan. Người cổ đại là cái tâm lý vĩ mô. Bởi
con người không phải một thực thể đất, vật chất, mà
chính là một thứ bậc vũ trụ. Con người cổ đại là con
người thượng đế.


<center>-22-</center>

Cần phải hiểu lại toàn bộ từ đầu các sự việc để
hiểu được tình thế hôm nay.

Hoặc, quan trọng hơn nữa: ai muốn hiểu được toàn bộ sự
việc trong tình cảnh mới, cần bắt đầu lại từ đầu.

Và còn có một thứ quan trọng hơn nữa: con người chưa bao
giờ lại cần đến ánh sáng tinh thần của thượng đế giúp
đỡ như bây giờ, khi cần phải hiểu lại từ đầu mọi sự
vật.

Đây là đại khái ý nghĩa của sự chuyển đổi của thế
giới khi quả Đất và nhân loại bước vào thời kỳ Bảo
Bình.

<strong>Nguyễn Hồng Nhung dịch từ nguyên bản tiếng
Hung</strong>
(Budapest.2011)

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/8730), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét