là gì.
Thuật ngữ này dùng để chỉ sự chệch đi, có thể do quá
trình chuyển dịch bấp bênh trên trục quay của trái Đất.
Chúng ta đều biết, điểm xuân phân, khi kinh độ Mặt trời
bằng 0, rơi vào chòm sao Bạch Dương và điểm thu phân, khi kinh
độ Mặt trời bằng 0 rơi vào chòm sao Thiên Xứng. Đấy là
lập Xuân và lập Thu.
Chỉ có điều, sự việc này không nhất thiết xảy ra đúng
như vậy. Sự chệch đi do trái Đất quay không thể đo được
từ năm nọ sang năm kia. Mặt trời mọc sớm hơn một chút.
Giữa hai năm sự khác biệt không là bao, nhưng sau một trăm năm
lại có thể đo được sự khác biệt này. Sau hai nghìn năm,
sự khác biệt vào khoảng ba mươi độ chệch ra sau, Lập xuân
sẽ sớm hơn. Điều này người ta gọi là precessio.
Sau hai nghìn năm, điểm xuân phân (kinh độ mặt trời bằng 0)
không rơi vào chòm sao Bạch Dương, mà, với ba mươi độ lùi ra
sau, rơi vào chòm sao Song Ngư. Hai nghìn năm tiếp nữa, rơi vào
chòm sao Bảo Bình.
Chiêm tinh học phương Đông gọi khoảng thời gian hai nghìn năm
là một tháng của vũ trụ. Mười hai tháng vũ trụ bằng
khoảng 26 nghìn năm, là một năm của vũ trụ. Chiêm tinh học
phương Đông có quan điểm sâu rộng, đi xa hơn và cơ bản hơn,
tìm ra mối quan hệ giữa sự chuyển dịch của sao và số phận
con người.
Từng tháng của vũ trụ là những thời kỳ lịch sử lớn,
tiếng Hy lạp gọi là: aion.
Những tháng vũ trụ khép kín đến nỗi sự quá độ chuyển
từ tháng nọ sang tháng kia rất đặc trưng. Giữa năm, sáu
tháng một lần xuất hiện những tai họa lớn. Tai họa xảy ra
gần đây nhất mười ba nghìn năm trước Công nguyên là sự
chìm xuống của biển Atlantik.
Chúng ta đang bước ra khỏi chòm sao Song Ngư. Tháng của vũ trụ
đang kết thúc và aion khóa lại. Thời kỳ vừa qua là thời kỳ
khủng hoảng, ai cũng tự mình nghiệm thấy. Giờ đây chúng ta
bước sang thời kỳ Bảo Bình.
Một cuộc sống khác hẳn bắt đầu, khi cái cũ đã khép lại.
Đây là sự xuất hiện của những sự kiện làm lay chuyển
đến tận gốc rễ cả quả Đất lẫn nhân loại, một dạng
của lời Sấm truyền.
Thời kỳ Song ngư như thế nào, chúng ta đã biết. Thời kỳ
Bảo Bình như thế nào, chưa ai biết. Cái gì đã xảy ra khi
từ thời kỳ Song Ngư chúng ta bước sang thời kỳ Bảo Bình?
<center>-2- </center>
Đây là thời kỳ, cách đây năm mươi năm Le Bon đã từng nói,
những hoạt động vô thức của đám đông thay thế cho những
hoạt động có ý thức của cá nhân.
Sự thay thế này lúc đó không chỉ có vẻ vô hại mà còn
được mong đợi. Một số người đã kích động đám đông
bạo động. Marx và các tông đồ của chủ nghĩa xã hội, thay
vì chỉ từ xa chiêm ngưỡng ý nghĩa những hành động của
mình, họ đã chuẩn bị cho một cuộc nổi loạn.
Giá họ biết, cái đám đông đang leo lên sự thống trị, sẽ
tuyệt đối không thực hiện lý tưởng của nhân loại như
họ nghĩ, thậm chí, đám đông ấy vì cần phải đeo theo chính
bản thân, cũng như đã từng mang theo bản chất và tính cách
tự nhiên của họ, cho nên đơn giản là họ sẽ gạt bỏ niềm
hy vọng vào cái khả năng thực hiện toàn bộ các lý tưởng,
thì chắc chắn rằng các thủ lĩnh tinh thần đã chẳng viết ra
những tài liệu hô hào cách mạng một cách nông nổi nhẹ dạ
đến như thế.
Nếu ngày hôm nay Marx, Engels, Lassalle hoặc bất kỳ ai trong đám
cách mạng đó tỉnh dậy, nhìn xem cái gì đã xảy ra, đã thức
tỉnh đám đông hào hứng thế nào, chắc chắn những người
này sẽ đắm chìm vào suy nghĩ: "Tôi quả thật không nghĩ nó
sẽ như thế này", kẻ tội nghiệp sẽ lắp bắp khi tự kết
án mình.
Đám tông đồ đều đã từng tin tưởng, thiên thần sẽ thức
tỉnh từ đám đông. Ngày nay giá họ nhìn thấy, không hề như
vậy. Quái vật đã thức tỉnh thì đúng hơn.
Thay thế hoạt động có ý thức của cá nhân là những hoạt
động vô thức của đám đông. Các tông đồ sẽ tận mắt
nhìn thấy, xã hội chỉ là chức năng của một cái gì khác.
Đám đông thống trị là những hoạt động hỗn loạn, mù
quáng, mờ mịt, vô thức thay thế những hoạt động sáng
sủa, có tri thức, có ý thức của cá nhân, dìm loài người
xuống sự tăm tối. Đấy chính là điều những người cách
mạng không nghĩ tới. Nhưng nhiều người khác đã nhìn thấu
suốt bản chất thống trị của đám đông. Họ hiểu, đây
không phải vấn đề thống trị. Tình thế của thế giới đã
thay đổi.
Quá trình này không phải là một quá trình xã hội mà còn sâu
sắc hơn: một quá trình cơ bản của đời sống. Trên bề mặt
xã hội, đám đông nổi trội lên, kèm theo, sự vô thức cũng
trồi lên như một sự tất yếu.
Tư duy và hoạt động tỉnh táo của cá nhân bắt đầu phụ
thuộc vào sự vô thức và hỗn loạn của đám đông. Thứ
giản dị có nội dung phụ thuộc vào thứ mù quáng và hỗn
loạn. Thứ phát triển cao phụ thuộc vào thứ thấp kém. Vị
trí lộn ngược tấn công, con người bắt đầu sống bằng cái
đầu lộn xuống dưới. Và những hậu quả của nó không thể
lường trước.
Thế hệ cách mạng thứ hai, Pareto và Sorel đã nhận ra, thực
chất không phải vấn đề tình huynh đệ, vấn đề tự do của
đám đông và bản khải hoàn ca của các lý tưởng nhân loại
lớn. Họ thôi không lập luận một cách ấu trĩ các khái niệm
của mình nữa.
Cuộc đấu tranh giai cấp giữa tư sản và vô sản là một
hiện tượng xã hội bề mặt, vì thực chất đây là cuộc
đấu tranh giữa ý thức tỉnh táo và sự vô thức mù quáng.
Pareto chua chát tuyên bố, tư tưởng nào càng ít giá trị sự
thật, đám đông càng bám chặt vào đó. Ông gọi sự mờ mịt
và phân vân này là một thứ cặn bã (reziduum). Thứ cặn bã vô
nghiã, đầy bản năng, không hợp lý, không dùng vào việc gì.
Đấy chính là đặc trưng tư duy của đám đông. Đặc biệt
không liên quan đến tư tưởng. Cũng như không liên quan đến
thứ Sorel gọi là thần tượng (mitos). Đám đông không suy nghĩ,
không nhận thức và không suy tính: thần tượng là sự kết
tinh của đam mê, dục vọng và bản năng.
Thế hệ thứ hai đã nhận ra đặc thù của hoạt động vô
thức của đám đông là sùng bái thần tượng và reziduum. Thế
hệ này nhận ra cuộc đấu tranh giữa duy trí và vô thức bắt
đầu và sẽ tiếp tục. Tại sao họ không nhận ra những cái
khác nữa, bởi khả năng của họ chỉ ở mức độ trung bình
thông thường.
Nhưng rốt cuộc, xuất hiện những kẻ ngay từ phút ban đầu
hiểu ra ngay tình thế. Trước hết là Kierkegaard và Nietzche. Sau
đó là cả một đạo quân nhỏ, không xếp theo thứ tự và
chưa đầy đủ: Feguet, Merezskovskij, Pannwitz, Evola, Bergyajev,
Valéry, Ortega, Jaspers.
Điều họ nhìn thấy: đám đông từ trước tới nay ở dưới
đáy bắt đầu xông lên những tầng lớp xã hội cao hơn. Đi
cùng với nó là sự tàn bạo, không như trước, trong thời kỳ
di dân, tấn công vào kẻ ở tầng lớp phát triển cao từ xa,
từ bên ngoài, mà giờ đây từ dưới lên và từ trong ra.
Trong con người vô thức nổi lên, trong xã hội, đám đông
xuất hiện. Đây là một dạng di dân mới, là sự đột nhập
thẳng thừng của sự tàn bạo. Tình thế không chỉ thay đổi
từ bên ngoài; mà trạng thái tâm lý con người cũng bị đảo
lộn cùng sự xua đuổi những cá nhân ưu tú và có vị thế cao
hơn.
Những gì đã từng ở trên, rơi xuống dưới, những gì từng
ở dưới giờ nổi lên trên. Vô thức lên trên và ý thức
xuống dưới. Tri thức không ở trên, mà là bản năng, không
phải ánh sáng, mà là sự tăm tối, không phải paradiso, mà là
inferno, không phải thứ phát triển mà là thứ thấp kém, không
phải trật tự và sự tử tế, mà là sự hỗn loạn và dục
vọng. Không phải thứ tư duy có ý thức, mà là một thứ cặn
bã (reziduum) và thần tượng (mitos). Bởi vậy trong sự chọn
lựa, trong cách đánh giá các giá trị, trong thứ bậc và trong
nhu cầu xuất hiện một trật tự đảo lộn.
Một tai họa giống như thế này chỉ xảy ra với con người khi
nạn hồng thủy tràn ngập quả đất, và loài người chìm
xuống biển. Nhưng lúc đó sự chết chìm này chỉ là bên
ngoài, như nạn di dân cũng chỉ là bên ngoài: ngày nay con
người chết chìm trong sự vô thức riêng của bản thân mình
và của đám đông riêng của xã hội mình. Biển chính là sự
vô thức, và sự vô thức chính là biển. Nạn hồng thủy chính
là sự chết chìm trong cái vô thức. Ngày hôm nay chúng ta đang
sống trong nạn hồng thủy từ bên trong.
<center>-3 –</center>
Trong tình thế, cái ở dưới nổi lên trên, cũng tuyệt vọng
như cái đang ở trên, bị chìm xuống dưới. Vị trí của đám
đông, của vô thức là ở dưới, theo số phận, nó nằm ở
vị trí đó. Con bò, nếu kéo xe hoặc cái cày, là con vật
thiêng liêng. Nhưng nếu bay lên, nó biến thành con rồng, không
bao giờ cày ruộng nữa, nó vứt cái tròng cổ đi, hóa điên và
phun lửa. Vị trí thống trị của nó ở trên, ở vị trí của
ý thức.
Thiên thần, nếu sống trên trời, là thần linh, nhưng nếu rơi
xuống đất, biến thành quỷ. Thiên thần không tỏa ánh sáng
nữa, và lửa của thiên thần biến thành núi lửa. Vô thức ở
dưới, nổi lên trên, sẽ biến thành ma quỷ, giống như ý
thức rơi xuống dưới.
Từ con vật thiêng vứt tròng cổ biến thành rồng, từ thiên
thần đầy ánh sáng biến thành quỷ. Ở dưới là con bò tận
tụy làm việc, lên trên biến thành quái vật. Thiên thần đầy
ánh sáng, xuống dưới sẽ thành qủy sứ. Con vật thiêng vứt
tròng cổ cũng gây tai họa chẳng kém gì thiên thần biến thành
quỷ sứ.
Tận đến ngày hôm nay vẫn có người tin, con vật hiền lành
vứt tròng cổ khổ sở thế là đủ rồi, đã đến lúc nó
cần thay thế vị trí của thiên thần, hãy để thiên thần đi
mà kéo cày.
Đáng lẽ cần chú ý điều này, phải chăng có thể đặt
bụng lên vị trí của đầu, đặt óc xuống vị trí của dạ
dày, giống như đề nghị cái cây hãy kéo rễ của nó lên
khỏi mặt đất và cắm cành xuống đất.
Đặt bụng lên cổ cũng rùng rợn chẳng kém gì đặt óc
xuống dạ dày. Nếu ruột biết suy nghĩ để thảo kế hoạch
thức ăn, đấy là những tư tưởng của ruột. Giống dấu
hiệu thống trị đầu tiên của đám đông là tư tưởng nổi
lên đầu tiên của ruột: ưu tiên cái gì là thức ăn, là kinh
tế, là dạ dày, là của cải vật chất. Hiện hữu của con
rồng chỉ là nhai ngấu nghiến và ngáy khò khò.
Nếu không no, nó đi ăn cướp, và hạ gục tất cả ai tới
gần. Nó cần nhiên liệu - khẩu hiệu của thời kỳ đám
đông: nhiên liệu.
Vì óc rơi xuống dưới, chiếm chỗ của ruột, nó cần nổi
loạn trong tối tăm, ở vị trí không quen thuộc, chống lại
sự tồn tại của nó. Giống như một người có tri thức rơi
xuống đáy ngày nay không là gì, khác ngoài một cuộc nổi
loạn thuần túy. Bộ óc nổi loạn độc ác không khác gì cái
ruột suy nghĩ. Cũng ma quái y như một cái cây rễ hướng lên
trên và cành cắm xuống đất. Thiên thần bị tròng ách vào
cổ cần phải biến thành quỷ sứ, cũng như con bò rơi vào
chiếc ghế thống trị cần biến thành con rồng.
<center>-4–</center>
Những lý thuyết Le Bon hoặc sau này MacDougall và Lévy Bruhl công
bố đều là những lý thuyết tâm lý học phổ quát.
Đám đông và đám đông giữa chúng không có gì khác biệt.
Như nhau, là ai cùng với ai, những nhà ngoại giao đến một
cuộc hội nghị, các viện sĩ hàn lâm đến một cuộc họp,
các dân biểu ngồi trong nhà quốc hội, trẻ con học cùng một
lớp, dân thường đi bỏ phiếu, công nhân công đoàn, nông dân,
đám đông trong tòa án hay trong nhà hát.
Tại sao đều như nhau?
Bởi trong một nhóm người bất kỳ như thế nào, cái gọi là
tri thức con người, tri thức cá nhân đã hình thành, đều
giảm sút. Trong đám đông, tri thức cá nhân bị thủ tiêu.
<div class="special_quote"><strong>Tin liên quan:</strong>
<ul>
<li><a href="http://danluan.org/node/395">Gustave Le Bon: Tâm lý đám
đông</a></li>
</ul></div>
Đám đông có một đặc tính hoàn toàn khác, độc lập hoàn
toàn với tất cả hành vi của một cá nhân. Chính vì vậy nó
là vô thức. Là sự cả tin, dao động, một chiều, lạc hậu,
chuyên quyền, tăm tối, u mê, hay thay đổi; đám đông không có
tri thức, không có khả năng phán xét, không biết đánh giá,
dễ dàng bị chinh phục, và còn dễ dàng bị lừa gạt và dẫn
dắt hơn nữa.
Người thông thái nhất rơi vào đám đông cũng từ từ trở
nên ngu đần. Bộ óc bị thả lỏng, hoạt động trí óc ngừng
lại, tri thức tắt dần, thay vào đó họ bước vào một sự
tê liệt phân vân, mờ mịt, hỗn loạn, là những đặc tính
đặc trưng cho đám đông. Trí tuệ sáng suốt và tỉnh táo ngủ
yên, những bản năng ngự trị con người không kiểm soát
được bắt đầu dẫn dắt họ. Và con người bị tan vào đám
đông một cách không để lại dấu vết. <em>The group is feeling
and acting as one soul</em>- người ta tan vào thành một linh hồn duy
nhất trong đám đông.
Đám đông không kết án, không suy nghĩ, không yêu, không cố
gắng hiểu, mà đám đông sợ hãi, gào rú, ngưỡng mộ, quyến
rũ, chinh phục. Nhưng trên tất cả, LeBon nói, đám đông tàn
phá.
Ông nói thêm: sự nổi dậy của đám đông bao giờ cũng đi kèm
kết quả tiêu cực, bởi vậy nhiệm vụ của đám đông là
thủ tiêu nền văn hóa.
Đám đông có thể là trạng thái cặn đáy của cá nhân, có
thể là trạng thái hậu cá nhân. Hành vi của linh hồn thay
đổi: trí tuệ tự thân trở nên u ám. Đến mức, theo Lévy
Bruhl con người đánh mất mình, và đồng hóa mình với người
khác.
Trong trạng thái tập thể con người tin vào một cái gì đấy,
mà bản thân nó không tin, chỉ tin một cách chung chung. Con
người không là một thực thể cá nhân, nó đồng hóa nó với
một cái gì đấy, bằng quan điểm, bằng cảm xúc, bằng hành
động, có thể đồng hóa với một vật gì đấy, hoặc có
thể đồng hóa mình với người khác.
Hiện tượng này người ta gọi là participation mystique.
Cái vô thức, không là một công cụ phân biệt ban đầu cần
thiết, cái vô thức này liên tục nhầm lẫn nó với một cái
gì hoặc với một ai khác, thể hiện ý kiến và sống cuộc
sống của kẻ khác, bởi vậy ý thức bản thân của nó trôi
nổi lộn xộn trong những bản năng mờ mịt.
<center>-5 –</center>
Một số người, như Merezskovskij, Pannwitz, Rathenau, Keyserling đã
viết một cách rất thuyết phục về một hiện tượng, được
gọi là cuộc tấn công của sự tàn bạo, hoặc cuộc nổi dậy
của đám đông, hoặc cuộc di dân mới, hoặc nạn hồng thủy
của linh hồn.
Tận đến hôm nay, chưa ai bổ sung quá trình bị chìm nghỉm vào
đám đông của cá nhân có ý thức, luôn đi kèm với sự nổi
dậy của đám đông. Sự song song này không chỉ là khả năng
Ngày nay là sự cưỡng bức, bắt buộc người ta phải nhận ra.
Nhân loại trở thành đám đông, ý thức cá nhân yên ngủ, một
phần bị dập tắt, hoạt động vô thức của đám đông thay
thế hoạt động có ý thức của cá nhân. Tâm lý đám đông là
một quá trình, một sự đột phá hung hãn của sự tàn bạo.
Thay thế vị trí tỉnh táo, tri thức sáng sủa của toàn thể
nhân loại là một thứ vô thức mê muội, tối tăm và dao
động, thứ không có chút trí tuệ, không biết đánh giá, thứ
xử sự như một trò bầu cử, hoặc như một phường chèo,
hoặc như một đứa trẻ đang đi học.
Toàn bộ nhân loại chuẩn bị tan thành một linh hồn duy nhất,
thứ linh hồn nông nổi, lạc hậu, độc đoán, không biết yêu,
không biết tư duy, chỉ biết sợ, run rẩy, gào rú, và đặc
biệt chỉ thích tiêu diệt, bởi nhiệm vụ của đám đông là
tàn phá nền văn hóa.
Con người rơi vào trạng thái cặn đáy của cá nhân, ý thức
riêng về bản thân mình lu mờ dần. Bài học của quá trình
này là cá nhân không được bảo vệ như đám đông. Trình
độ học thức, phẩm hàm chức tước, của cải, vị thế, giai
cấp, tri thức của con người chỉ là những cái bóng mờ mịt
to lớn có thể đạt đến, nhưng không bảo vệ được nó.
Mọi khả năng, tài năng, tinh thần, vị trí cao cả từ trước
tới nay con người thu được không đủ sức bảo vệ con
người khỏi sự chết chìm này. Quả trình mông muội hóa không
trừ ai mà tóm lấy, chôn vùi tất cả mọi người. Quá trình
này làm nguội tắt tinh thần, hạ thị hiếu đến mức sơ
đẳng nhất, từ tôn giáo nó tạo ra mê tín, từ thần linh nó
gây dựng thần tượng, thay thế những tư tưởng sáng sủa và
tỉnh táo bằng thứ tư tưởng cặn bã hồ đồ và thần
tượng rối rắm.
<center>- 6 –</center>
Quá trình mông muội hóa giờ đây cho thấy, nó có thể tấn
tới và đạt được những bước đi cơ bản đầu tiên. Là
thứ từ trước tới nay mới chỉ là từ ngữ, cho dù lan
truyền khắp nơi, ai cũng có thể tiếp cận, được giữ gìn
trong các cuốn sách. Những hậu quả và sự cân nhắc lâu dài
đã muộn. Trong tình thế ngày nay, để con người khỏi chờ
đợi thêm, nó đã chín muồi.
Quá nhiều sách vở đã nói đến con người nguyên thủy, mông
muội (primitiv) nhưng từ khi có nạn di dân từ dưới lên trên,
cần đặc biệt chú ý đến khái niệm này.
Các bộ môn dân tộc học, tâm lý học, khoa học xã hội, khoa
học tôn giáo đều nhất trí cho rằng con người nguyên thủy,
mông muội là tổ tiên, là nền tảng và là sự bắt đầu của
con người văn hóa.
Tổ tiên của chúng ta là những người nguyên thủy (primitiv)là
những thú dữ, những kẻ ăn thịt người, sống trong các khu
rừng, dùng đá đập vào đầu nhau, cướp bóc đàn bà, những
kẻ chưa biết đọc, biết viết, như Jung nói, chúng tôn thờ
thần linh bằng cách nhổ vào lòng bàn tay, rồi bôi nước dãi
khắp nơi và chỉ cho nhau khi mặt trời mọc.
Khoa học và sự hào hứng kiểu Rousseau khi nhắc đến người
nguyên thủy đã phát triển tới mức, dù nhắc đến Sophokles,
hay Shakespeare, hay nói về bản chất lời kinh hoặc về sự hy
sinh, trước hết bao giờ họ cũng kính cẩn đi tìm hiểu những
người Patagon và Papua.
Khi toàn bộ điều này loại trừ thành công khỏi hình thức
của chủ nghĩa thực chứng luận, nó lập tức quay trở lại
như một biến thế văn hóa.
Khoa học đã nhầm lẫn nguyên thủy(primitiv) với quá trình phát
triển (primer), nhầm lẫn sự mọi rợ với cái cổ xưa. Người
ta cho rằng, người nguyên thủy là tuổi trẻ, là mức độ
đơn giản, là khởi đầu ấu trĩ và chưa chín muồi của con
người đã tiến hóa.
Một người nào đó đi nghiên cứu về con người đã tiến
hóa, việc đầu tiên bao giờ họ cũng nghĩ cần nghiên cứu
người nguyên thủy, bởi ở đấy có tất cả mọi khởi
điểm. Thế là cả cuộc đời chúng ta bằng lòng đóng khung
trong nghiên cứu một làng cổ châu Phi.
Nếu ai đó tìm ra một hiện tượng nào đấy của ngày nay,
thế là thành công. Chỉ cần nói: đây là quá trình của sự
phát triển thế là tất cả mọi người hiểu bằng cách chắt
lọc, phức tạp hóa, nhào nặn, ngụy biện, thêm bớt, hiện
tượng đã hoàn thành trong hình dáng của ngày hôm nay một cách
nhợt nhạt.
<center>- 7 –</center>
Không thể bào chữa cho khoa học về nhận định ngu ngốc này.
Bởi trước tiên và trên hết, không có ngoại lệ hiện
tượng đời sống của người nguyên thủy thay vì đơn giản,
sáng sủa, thực chất, nó bị biến thành phức tạp, mờ nhạt,
hỗn độn và không hiện thực.
Trong những hiện tượng primitiv, con người không khám phá ra
một cách tự nguyện và trực tiếp những thành tố cổ xưa
của chính cuộc sống của họ. Người nguyên thủy(primitiv)
tuyệt đối không phải là người cổ đại. Cái gọi là thành
tố, là cổ xưa, là cái khởi điểm, là cái bắt đầu, không
tìm thấy ở người nguyên thủy, mà tìm thấy ở người đã
tiến hóa cao nhất, ở các bậc thiên tài( genius). Điều này
tự bản thân nó có thể hiểu được. Khoa học không dám từ
bỏ cái định đề sự vật bắt đầu từ dưới, và từ
dưới lên trên.
Trong điều này có cả chủ nghĩa lãng mạn Rousseau tin tưởng
rằng sự bắt đầu của văn hóa là ở trong rừng. Quan điểm
này trở nên táo tợn hơn, khi tự nhận đấy là hướng tích
cực. Quan điểm này vô ích cho rằng không phải nhà thờ của
thành phố xây dựng lên từ khuôn mẫu làng, người có học
thức suy nghĩ và ăn mặc không giống những tập quán nguyên
thủy, không phải thành phố thừa hưởng thị hiếu của làng
quê, mà ngược lại. Khoa học vẫn không thể từ bỏ niềm tin
cho rằng xuất xứ của sự vật từ dưới lên, để nhìn
thấy, những gì đơn giản hơn, rõ ràng hơn, chân thực hơn
không phải ở dưới, mà chính là cái ở trên.
Kẻ thiên tài gần với cái khởi điểm hơn một anh nông dân
hoặc một kẻ mọi rợ. Từ những hiện tượng cổ xưa, giản
dị sáng sủa, con người càng buớc đi xa càng rơi vào sự hỗn
loạn, phân vân, phức tạp và đan chéo vào nhau nhiều hơn.
<center>- 8 –</center>
Khi Lévy - Bruhl trong cuốn sách nói về người nguyên thủy lần
đầu tiên cho rằng tư duy của người nguyên thủy (primitiv)
cần gọi là tiền logic, một thứ tư duy đi trước tư duy logic,
Durkheim bằng trực giác tuyệt vời đã chống lại điều này.
Không thể, Durkheim nói, coi lối tư duy nguyên thủy là tiền
đề cho lối tư duy ngày nay. Khoa học, bằng sự cẩn thận vĩ
đại đã thừa kế những lầm lẫn này, và chính phương pháp
của khoa học cản trở khả năng sửa chữa sai lầm về sau
này. Bởi khi nhận ra sai lầm, chính phương pháp và sự cẩn
thận này lại rơi vào mối quan hệ của những lĩnh vực khác,
khiến không thể nào giải quyết được mọi liên hệ và dấu
vết của nó.
Từ nguyên lý tư duy tiền logic không biến thành một hệ
thống lý thuyết, nhưng dấu vết gián tiếp của nó có thể
bắt gặp trong khoa tâm lý học, khoa học tôn giáo, dân tộc
học, và trong toàn bộ lĩnh vực các khoa học xã hội.
Mallarmé định nghĩa lôgic, là ý thức hài hòa cổ xưa của sự
tồn tại. Theo đó, tư duy lôgic đồng nhất với tồn tại hài
hòa cổ xưa.
Người ta thường cho rằng lôgic hoàn toàn là công việc của
tinh thần, là định luật của lối tư duy theo quy tắc. Mallarmé
cho rằng lối tư duy đúng đắn không phải là đặc tính tự
thân của tinh thần con người; tinh thần đã nhặt nó ra từ
đâu đó.
Cái tinh thần khi hoạt động đúng đắn, hay khi hoạt động có
lôgic, mang một biểu mẫu: biểu mẫu này là sự hoài hòa của
trật tự cổ xưa của vũ trụ. Cái tinh thần luôn luôn nhìn
thấy ở đâu đó định luật này, và đọc được từ đó.
Từ đâu vậy? Trong trật tự thế giới của thượng đế. Tinh
thần không là gì khác, ngoài giác quan con người và tài năng,
để nhận biết ra trật tự của vũ trụ.
Hệ thống định luật logic là sự xuất hiện của trật tự
vũ trụ trong linh hồn con người. Tư duy có logic không phải là
thứ tư duy khô khan, trừu tượng, máy móc, ngược với tự
nhiên, mà là lối tư duy hòa hợp với trật tự của vũ trụ:
đấy là lối tư duy dản dị, hợp lý, tỉnh táo và rõ ràng.
Khi khoa học giả thiết, con người thuở hoang sơ không biết suy
nghĩ một cách logic, như vậy phải chăng họ không nhận biết
sự hài hòa cổ xưa của vũ trụ.
Điều ấy có nghĩa rằng con người thuở hoang sơ không tồn
tại trong sự hài hòa cổ xưa với vũ trụ. Đúng là như vậy;
chỉ khác một điều kẻ có tư duy phi logic không phải là
người cổ đại mà chính là kẻ nguyên thủy, mông muội (
primitiv)
<center>- 9 –</center>
Kẻ mông muội, nguyên thủy (primitiv) không phải người cổ
đại, người rừng không phải cổ đại. <em>Der Urstand des
Menschen ist gewiss nicht der der Primitivenstufe</em> – trạng thái căn
nguyên của con người chắc chắn không phải là ở cấp độ
mông muội, sơ khai.
"Cái gọi là primitiv là sự đánh dấu một tình huống rơi
ngược trở về sự lạc hậu trước thời kỳ phát triển của
lịch sử." Kẻ man rợ không phải con người đầu tiên, mà là
một thực thể lạc hậu với thời đại của nó và mắc kẹt
lại.
Hiện tượng này "có thể tìm thấy ở giống người Fellah ở
Ai cập, người Maja ở Mexiko, và ở nơi khác, những nơi cho
thấy sự man rợ không là gì khác ngoài sự tha hóa của linh
hồn sau thời khởi điểm>".
Con người ở giai đoạn cuối, khi một aion khép lại, ý thức
cá nhân bị lu mờ, thay thế vào hoạt động có ý thức của
cá nhân là hoạt động vô thức của đám đông. Con người bị
rơi vào tâm lý tập thể biến thành đám đông. Nó trở thành
mông muội(primitiv) hay nói cách khác bắt đầu thời kỳ thoái
hóa linh hồn, rơi ngược trở về sự lạc hậu trước thời
kỳ phát triển của lịch sử (<em>vorgeschichtlicher Spätzustand
seelischer Rückbildung</em>)
Con người biến thành đám đông chìm xuống trạng thái quên
sạch tư duy logic, sự tính táo sáng sủa có quy tắc, có tri
thức. Mối quan hệ với sự hòa hợp cổ xưa của vũ trụ
dừng lại. Tinh thần bị suy sụp. Cái trạng thái người ta
gọi là tiền logic, nhưng té ra đấy là hậu logic.
Quá trình man rợ, mông muội hóa, hay còn gọi là quá trình tập
thể hóa nhấn chìm sự tồn tại cá nhân, thay vào đấy là
đời sống của đám đông. Sự đánh giá không có, tri thức
biến mất, khả năng nhận thức mờ mịt, nhu cầu thị hiếu
thấp xuống. Nổi bật lên là sự bực bội, nỗi ghen tị, sự
dao động, mê muội, sự nhẹ dạ, nỗi lo sợ không tên, sự
tôn thờ và lòng căm thù không lý do, sự mê tín và thờ thần
tượng.
Con người, kẻ được gọi là mông muội (primitiv) không xuất
hiện với thời kỳ đầu tiên của thời gian mà vào thời kỳ
cuối cùng của thời gian. Đây là con người hậu lịch sử.
Đây không phải là nhân dân, thứ phát triển từ lịch sử, mà
là đám đông, thứ bị mắc lại và quật trở lại sau sự
diễn ra của một quá trình lịch sử. Sự mông muội là một
thứ cặn bã rác rưởi rơi tách ra từ vũ trụ, rồi vón lại
thành cục và quay ngược hướng phát triển: đi về phía bóng
tối, trượt chệch hướng, và trở thành thứ quái vật lệch
lạc.
<center>- 10 –</center>
Cái hiện tượng được gọi là sự nổi dậy của đám đông
chính là sự nổi dậy của sự vô thức. Bởi vì hiện tượng
xảy ra này không ở bên ngoài mà ở bên trong. Và sự nổi dậy
của vô thức không là gì khác ngoài sự bắt đầu của một
quá trình phát triển ngược.
Đám đông ngày nay bắt đầu chìm ngược trở lại sự lạc
hậu trước thời kỳ phát triển của lịch sử. Con người
biến thành mông muội, ý thức cá nhân ngủ yên, thay thế vị
trí của các thần linh là các thần tượng và vật thờ, toàn
bộ là những điều man rợ, kinh khủng, kích thích, làm lạc
hướng, bành trướng, thay thế cho tư tưởng là hệ thống
đẳng cấp, con người không biết tự phân biệt mình với
người khác, và đồng nhất mình với những thứ không liên
quan gì với mình.
Sự đột nhập thẳng thừng của thô bạo là dấu hiệu nhãn
tiền của tai họa đang diễn ra trong thế giới linh hồn vô
hình: sự thay đổi là ở bên trong, vô thức giống như biển
trào dâng phủ lấy ý thức của con người.
Đây là nạn hồng thủy trong số phận con người ngày hôm nay.
Nó không chỉ đe dọa. Nó đã tới, và bao trùm lên một bộ
phận lớn của nhân loại. Toàn bộ nhân loại chìm vào sự
mơ hồ cuả vô thức, và chìm xuống sự sống tăm tối của
những kẻ man rợ. Một sự man rợ đã văn minh hóa, hay còn
gọi là sự thô bạo máy móc hóa. Những đặc điểm bên ngoài
của môi trường sống chưa bao giờ có thể cải hóa được
vị trí vũ trụ thật sự của con người, và thay đổi nó càng
không thể.
Các nhà tư tưởng viết về sự thô bạo hóa của nhân loại,
tưởng rằng nỗi nguy hiểm này đe dọa tinh thần, văn hóa và
con người cao cấp. Nhưng tai họa của vô thức chỉ làm hại
con người, nếu bản chất hiện sinh của nó không cao cấp.
Chỉ con người đám đông mới biến thành kẻ dã man và mông
muội.
(Còn tiếp)
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/8729), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét