sau khi viếng mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái (nhà hoạt động
trong Phong trào Đông Du và là người đặt bom ám sát toàn
quyền Đông Dương Martial Merlin vào năm 1924 khi tên này trên
đường quay về sau công du Nhật, ghé qua Quảng Châu), <a
href="http://www.chungta.com/Desktop.aspx/Tac-gia/Tac-gia/Phan_Boi_Chau/">cụ
Phan Bội Châu</a> bị mật thám Pháp-Anh tại ga Bắc Trạm, đưa
vào tô giới Thượng Hải, bị giải về Hương Cảng rồi về
Hải Phòng, sau cùng bị giam tại nhà giam Hỏa Lò, Hà Nội. Ðể
tránh việc làm cho dư luận quá xôn xao về tin Phan Bội Châu
bị bắt, thực dân Pháp gắn cho ông tên tù quốc phạm là
Trần Văn Ðức.
Thực dân Pháp âm mưu bí mật thủ tiêu Phan Bội Châu, nhưng
việc bị bại lộ, nên phải đưa ra xử ở Tòa đề hình Hà
Nội.
Trước đó, cụ đã bị kết án tử hình vắng mặt năm 1913
(trong một phiên tòa xử 3 ngày), sau hai vụ thành viên Việt Nam
quang phục hội ném bom ở Thái Bình và Hà nội Hôtel. (13/4/1913
- Phạm Văn Tráng liệng tạc đạn giết chết tuần phủ tỉnh
lỵ Thái Bình; 26/4/2913 - Nguyễn Khắc Cần và Nguyễn Văn Túy
dùng tạc đạn giết chết hai trung tá Pháp và sáu tên khác bị
thương tại Hà nội Hôtel)
Hay tin Phan Bội Châu có thể bị án tử hình, phong trào vận
động ân xá cho ông nổi lên rầm rộ. Đơn cử vài hoạt
động:
<ul><li>Hội Thanh Niên Việt Nam in ra bốn ngàn lá đơn gửi đến
các cơ quan chính phủ Pháp, các sứ thần liệt quốc ở Ba Lê,
các tổ chức quốc tế yêu cầu can thiệp. Việt kiều ở Pháp
họp đại hội bênh vực Phan Bội Châu, gởi điện tín kháng
nghị hoặc yêu cầu tới những cơ quan có liên hệ đến vụ
án Phan Bội Châu.</li>
<li>Để tranh thủ dư luận người Pháp ở Đông Dương cũng như
ở chính nước Pháp, Phạm Quỳnh đã cho đăng trên tờ Indochine
Républicaine bài lên tiếng công khai bênh vực Phan Bội Châu, yêu
cầu khoan hồng cho nhà chí sĩ chỉ có "một tội" là "tội
yêu nước như bất kỳ người Pháp nào yêu nước Pháp"
(Chính Đạo: Hồ Chí Minh con người có huyền thoại, tập 2,
1925-1945, Văn hóa, Houston, Mỹ, trang 49, chú thích 8). </li>
<li>Tháng 9/1925, trong dịp Varenne (Va-ren) sang Đông Dương nhận
chức Toàn quyền… Nguyễn Ái Quốc đã viết bài "Những trò
lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu" nhằm mục đích cổ động
phong trào đòi trả lại tự do cho cụ Phan Bội Châu, vạch
trần chủ trương bịp bợm, xảo trá của chủ nghĩa thực dân
Pháp, làm cho người Pháp tiến bộ thấy rõ tinh thần yêu
nước của dân Việt Nam.</li>
<li>Một phong trào bãi khóa, bãi công, bãi thị rầm rộ khắp
cả nước, mức độ chưa từng thấy ở Việt Nam đòi thả Phan
Bội Châu.</li></ul>
Sáu tháng sau ngày bị bắt, 8 giờ 30 phút ngày 23/11/1925, Tòa
Ðề hình nhóm xử dưới sự chủ tọa của viên giám đốc
Brida, Ðốc lý Hà Nội là Dupuy và đại úy Bollie làm phụ
thẩm, Boyer làm bồi thẩm và Arnoux Patrick làm lục sự. Hội
đồng Đề hình cử luật sư Bona ở Hà Nội và luật sư Larre
ở Hải Phòng biện hộ cho Phan Bội Châu. "Tội danh Hội đồng
Đề hình Pháp buộc tội Phan Bội Châu là: trong 8 tội đó có 6
tội đáng phạt đi đầy, 1 tội đáng khổ sai chung thân và
một tội đáng tử hình" là các tội bạo động, phá hoại
chính phủ bảo hộ và phá rối trị an (theo Bùi Đình: Vụ án
Phan Bội Châu, NXB Tiếng Việt, Hà Nội, 1950).
Từ sáng sớm dân chúng đã lũ lượt kéo đến tòa án để theo
dõi vụ xử công khai. Tòa án đầy người từ ngoài sân đến
trong phòng xử.
Sau khi viên biện lý đứng lên buộc tội cụ Phan và yêu cầu
kết án tử hình, thì nhà nho Nguyễn Khắc Doanh - một người
thân hình nhỏ bé, mặt gân guốc len ra khỏi đám đông, xông
thẳng ra trước vành móng ngựa, ngay trước mặt quan tòa, đòi
chịu tù thay nhà chí sĩ, làm náo động phiên tòa và nói một
câu: "<em>Xin được chết thay cho ông</em>".
Trước những lời lẽ buộc tội gắt gao của Hội Ðồng Ðề
Hình, Phan Bội Châu ung dung và chậm rãi đối đáp một cách rõ
ràng khúc chiết. Ðể bênh vực cho hành động hợp lý và quang
minh chính đại của mình.
<div class="special_quote">'<em>Nước Nam cũng là một nước xưa
nay chịu ở dưới quyền chuyên chế, dân tình khổ cực đã
lâu. Vua quan đối với dân xa cách nhau, ức chế nhau, lại tệ
dân tình không có cách gì thượng đạt. Nhờ có chính phủ
bảo hộ là một nước văn minh, nói rằng sang khai hóa cho, tôi
đã chắc rằng dân Giao Chỉ mấy ngàn năm đã đến kỳ mở
mày mở mặt.</em>
<em>Chẳng ngờ, chính phủ sang cai trị 20 năm mà chính sách
không có điều gì thay đổi. Đến năm 1904 mà Trung, Bắc Kỳ
chỉ có hai trường, trường Hà Nội và trường Huế, mà là
trường chỉ dạy làm thông ngôn. Người du học không cho, lối
thi cũ vẫn để, hình luật không chịu thi hành hình luật Pháp,
quan tham, lại nhũng hối lộ công hành. Tôi là người Nam, tôi
muốn đánh thức cho dân tộc Việt Nam. Tôi thấy thế sinh ra
cái tư tưởng phản đối chính trị. Nếu mà tôi, trong tay có
mấy trăm vạn hải quân, mấy mươi vạn lục quân, binh tinh,
lương túc, súng đủ, đạn nhiều, tàu chiến có, tàu bay có,
thì có lẽ tôi hạ chiến thư, đường đường chính chính
đánh lại với chính phủ thực. </em>
<em>Thế nhưng tôi là một kẻ thư sinh, túi không có một đồng
tiền, tay không có một tấc sắt, không thể lấy vũ lực mà
phản đối được. Vậy tôi chỉ dụng văn hóa, nghĩa là
trước thư lập ngôn để cổ đng nhân dân, yêu cầu chính phủ
cải lương chính trị. Chẳng ngờ chính phủ ngờ vực bắt
bớ, tôi phải trốn ra ngoại quốc để hành động cho đoạt
cái mục đích của tôi.</em>
<em>Tôi có chiêu tập các bạn đồng chí, gom tiền góp sức
để phái người đi du học, và làm sách gửi về cho nhân dân.
Việc làm của tôi chỉ là dụng cái lưỡi và ngòi viết, mục
đích của tôi chỉ là cải lương chính trị, cử động của
tôi rất là chính đại quang minh.</em>
<em>Nếu tôi là người có tội thì tôi chỉ có 4 tội như
sau:</em>
<em>1. Chính phủ sang bảo hộ nước Nam, không có ai phản đối,
mà mình tôi phản đối, muốn cho nước Nam độc lập.</em>
<em>2. Nước Nam xưa nay là chính thể chuyên chế mà tôi muốn
cho nước Nam thành một dân quốc.</em>
<em>3. Nhà nước cấm không cho người đi du học ngoại quốc mà
tôi trốn đi và rủ người đi ngoại quốc.</em>
<em>4. Tôi trước thư lập ngôn để cổ động dân Nam thức
dậy, yêu cầu chính phủ cải lương chính trị, làm hết cái
thiên chức khai hóa của mình. </em>(Phan Bội Châu -Thân thế và
thơ văn - của Thế Nguyên)</div>
Tới đây tòa lại hỏi:
- Ông phản đối chính trị của chính phủ bảo hộ hay là
chính trị của nước Nam?
Cụ Phan đáp:
- <em>Tôi phản đối chính trị của chính phủ bảo hộ, chứ
nước Nam có nước đâu và có chính trị đâu mà tôi phản
đối. Ấy, tội tôi chỉ có thế, chính phủ chiếu luật gia
hình bắt tội thế nào tôi cũng chịu.</em>
Phan Bội Châu khẳng định ông chỉ đấu tranh bằng vũ khí văn
hóa, và văn hóa cũng chỉ đơn thuần là sách, những bài luận
và thơ văn. Mục tiêu đấu tranh cũng chỉ là cải lương về
phương diện chính trị thuộc chế độ thống trị của Pháp:
"<em>Tôi phản đối là phản đối chính trị mà thôi, còn về
chủng tộc, về tôn giáo, tôi không hề phản đối. Ai ai cũng
là con Thượng Đế, người Nam, người Pháp vẫn là anh em một
nhà. Tôi muốn rằng người Pháp, người Nam dìu dắt nhau mà
cùng mưu lợi chung, miễn là chính thể cải lương cho được
công bằng, cho có nhân đạo</em>" (Lời cãi trước tòa của
Phan Bội Châu)
"<em>Tôi phản đối là phản đối chính thể mà thôi, sao lại
gọi là phá hoại chính phủ Bảo hộ được!</em>
<em>Dân Việt Nam mất nước, như đàn con mất mẹ, chính phủ
Bảo hộ tự nhận làm người mẹ nuôi ôm lấy mà trông nom
dạy bảo cho. Tôi cũng là người trong nhà, trông thấy anh em
mồ côi mồ cút cũng thương, lẽ đâu muốn cho anh em mất
người mẹ nuôi ấy! Tôi cổ động là cổ động cho đồng bào
biết hợp quần, biết ái quốc, biết yêu cầu cải lương
chính trị, chớ có cổ động cho nhân dân làm loạn đâu?...
Vả, nếu là kẻ có ý muốn làm loạn, thì tôi cứ ở ngay trong
nước theo với Đề Thám cũng có thể làm được, có cần gì
phải bỏ vợ, bỏ con, bỏ nhà, bỏ nước mà trốn đi ngoại
quốc làm gì? Năm 1913, tôi nghe tin buộc tôi vào tội tử hình
thì tôi vẫn đi lại ở Thượng Hải, có sợ gì đâu, vì tôi
tự biết là vô tội</em>" (Lời cãi trước tòa của Phan Bội
Châu)
Để phản bác sự buộc tội của Pháp, chúng cho rằng Phan Bội
Châu đã "phản đối" chúng vì động cơ chức quyền phú
quý: "<em>… cuốn "Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư" là tôi làm
từ trước, có đưa cho ông Phan Chu Trinh và cụ thượng Cao Xuân
Dục xem, như vậy có phải là vì bất đắc chí với khoa cử
rồi muốn tiếng ái quốc để cầu lợi lộc gì đâu?</em>".
"<em>Nước Nam mà không thành được dân quốc, tôi nhận cái
danh tổng thống thời quý hóa gì, ví như một nhà, ông Cường
Để là người chủ mà tôi chỉ là người giúp việc; việc
chưa nên cơ ngũ gì, tôi viết báo, làm sách lấy tiền nuôi
thân và nuôi các đồng chí; trong các sách đó, cũng có cuốn
tôi viết, cũng có cuốn người khác mượn tên tôi mà viết.
Trong các sách tự tay tôi viết, có chỗ ví người Pháp như
thần thánh, ví dân Nam như gà như lợn. Tôi khuyên người Nam
nên cố học cho bằng người Pháp để yêu cầu quyền độc
lập, chớ tôi có xui ai làm việc bạo động bao giờ! Những
kẻ bạo động chắc là không ai đọc sách tôi, không đọc
sách tôi nên mới lấy gà lợn mà chống lại thần thánh. Vả
chăng những việc ấy là việc vô nhân đạo, nước Nam mà
độc lập, tôi mà có quyền thế, quyết nhiên cũng không dung
túng những kẻ làm việc bạo động như vậy, vì làm thế là
làm hại cho người Nam</em>" (Lời cãi trước tòa của Phan
Bội Châu)
Quan tòa thực dân Pháp lại buộc tội và hạ bệ Phan Bội
Châu: "<em>Ông Phan Chu Trinh là bạn của ông, cũng là người
phản đối chính trị, song cách của ông Trinh là cách hòa bình,
không như cách của ông là cách kịch liệt. Bao nhiêu sách viết
ra truyền bá cái tư tưởng cừu thị người Pháp, bao nhiêu
lần chủ trương việc bạo động, đó là cái tang chứng rõ
ràng. Vì ông mà bao nhiêu người sa lạc vào con đường tội
lỗi. Khi đem ra các tòa án xét mỗi một việc này, hỏi mỗi
người một lúc, thế mà chúng khẩu đồng từ, đều nói tại
ông xúi giục chủ trương. Bao nhiêu công việc họ làm đều là
tội ở ông cả. Những người ấy vì ông sai khiến quyến rũ
mà đến nỗi thế. Thế mà hỏi thì ông chối. Nhiều việc
khác trong khi dự thẩm, khi thì ông đổ lỗi cho ông Nguyễn
Thượng Hiền, khi thì ông đổ lỗi cho Cường Để. Xem đấy
đủ biết cái cách chống chế của ông không khéo, không có can
đảm, không phải là người anh hùng…"</em> (Lời của quan
tòa người Pháp)
Quan tòa thực dân Pháp cho rằng Phan Bội Châu không phải là
một anh hùng khi ông ngụy biện, chối tội –, Phan Bội Châu
đã thú nhận về "chiêu bài phù Nguyễn", cụ thể là phù
Cường Để của mình:
"<em>Tôi phản đối chính trị cố nhiên là phải cần có
người, cần có của, và phải lợi dụng ông Cường Để, cho
người trong nước, đã in sâu cái óc quân chủ, vui lòng giúp
rập. Điều đó tôi không chối.</em>
<em>Đến như hội "Duy Tân" thì là một học hội. Tôi có
chiêu tập hàng thiếu niên anh tuấn trong nước ra ngoài cầu
học. Ông Cường Để làm hiệu trưởng mà tôi thì làm giám
đốc. Một hội như thế, có việc gì đáng tội đâu. Chẳng
may chính phủ Nhật Bản cấm cách, chúng tôi phải trở về
Tàu. Cái hội "Việt Nam Quang Phục" là người Tàu thương
chúng tôi mà dung cho, trong đó có cả người Tàu, song nói rằng
có ông Nguyễn Thượng Hiền thì thật là oan cho ông ấy quá.
Điều đó tôi không chịu. Bấy giờ ông Nguyễn Thượng Hiền
ở Sơn Tây chớ có ở Quảng Đông đâu! Vả chăng mục đích
hội cũng chỉ là cầu học. Tôi định cổ động cho trong
nước có nhiều người du học; khi có nhiều tay trí thức, bấy
giờ mới yêu cầu chính phủ Bảo hộ trả lại quyền tự
trị, lập thành một nước dân quốc. Trước sau tôi vẫn chủ
trương dùng văn hóa mà phản đối chính trị, văn hóa không
xong thì tôi mới dùng đến võ lực. Chính trị còn một ngày
bất lương, tôi còn một ngày phản đối. Chính trị mà có
một ngày cải lương thì lập tức tôi đình chỉ sự phản
đối ấy ngay</em>" (Lời cãi trước tòa của Phan Bội Châu)
<div class="boxright220"><img
src="http://danluan.org/files/u1/Cuong%20De%20-%20Phan%20Boi%20Chau.jpg"
width="220" height="326" alt="Cuong De - Phan Boi Chau.jpg" /><div
class="textholder">Cường Để và Phan Bội Châu. Cường Để
(1882-1951) là cháu trực hệ của hoàng tử Cảnh, tức là cháu
đích tôn 6 đời của vua Gia Long. Vì dòng dõi hoàng thân nhà
Nguyễn, nên nhiều nhà ái quốc như Phan Đình Phùng, Phan Bội
Châu đã có kế hoạch liên lạc với gia đình ông để lập
lại ngôi vua, thay vua Khải Định vì vị vua này hợp tác với
thực dân Pháp. Năm 1906 Phan Bội Châu cùng ông trốn sang Nhật
cổ động phong trào Đông Du. Ông có tư tưởng quân chủ lập
hiến và nhận làm người lãnh đạo Việt Nam Phục quốc Đồng
minh Hội.</div></div>
Trong những đoạn tranh luận khá đanh thép với quan tòa thực
dân Pháp, Phan Bội Châu vẫn tiếp tục khẳng định "chủ
nghĩa Pháp – Việt đề huề" của mình:
"<em>Cái tên Phạm Văn Tráng về đây tôi mới biết. Trong hội
"Việt Nam Quang Phục" không có tên người ấy. Một người
không quen biết bao giờ khi nào lại có thể lấy cái quan
tước, cái phú quý mười phần chưa chắc chắn phần nào mà
dụ người ta làm những việc như việc ném bom, là sự mười
phần chắc chết cả mười được. Họ đổ cho tôi là chủ
sự, chẳng qua là họ nghe tiếng tôi ra nước ngoài viết báo
làm sách, ai ai cũng biết, và nếu những người ấy có quả
thật là người trong đảng tôi nữa, thì đầu đảng tôi là
ông Cường Để, chủ sự tất tự ông Cường Để chớ sao
lại tự tôi? Còn những việc mà tôi nói tự ông Cường Để,
tự ông Nguyễn Thượng Hiền là sự thật.</em>
<em>Tôi chối làm gì?</em>
<em>Ngay từ lúc tôi làm việc phản đối chính trị, tôi đã
cầm chắc hai phần: một là nước Nam được độc lập, hai là
tôi phải mất đầu. Về đây, chắc chết rồi, đổ tội cho ai
nữa mà mong cho nhẹ tội? Hội đảng chúng tôi dựng lên là
cần có tiền, cần có người, song nhờ có ông Cường Để có
thế lực với dân trong Nam, ông Thuật, ông Nguyễn Thượng
Hiền có thế lực với dân ngoài Bắc, có các ông ấy thì mới
có đủ thu được nhân vọng Nam, Bắc; còn tôi, tôi chỉ có
thế lực ở tỉnh Nghệ, cùng mấy tỉnh Trung Kỳ mà thôi. Sự
đó là sự thật, không phải tôi chối. Chúng tôi dắt nhau ra
ngoài, trước hết là cần phải tìm cách để nuôi được nhau
đã, vì thế nên có nhờ người Tàu giúp tiền của thật
[…].</em>
<em>Những tội lỗi của những kẻ bạo động kia mà cho là
tội lỗi của tôi cả, điều đó chi phải một nửa, nghĩa là
chỉ phải về một phương diện mà thôi. […] chớ về phương
diện pháp luật thì khi nào tội người em lại có thể là tội
người anh, tội người con có thể là tội người bố được.
[…] Tôi phản đối chính trị, nhưng chỉ dùng cách hòa bình,
chớ không dùng cách kịch liệt. Thân tôi thì chẳng qua như con
muỗi, mà nhà nước thì binh lực như trời như biển, tôi
chống sao cho lại mà tính chuyện bạo động? Đến nay hơn 20
năm trời, chiếc thân cơ khổ, một việc không nên, như thế
tôi sao có thể là kẻ anh hùng cứu quốc được. Nước Nam mà
ra nước Nam, thời có hàng ngàn người hơn tôi đứng ra lo toan
việc nước, chớ như tôi, sao có đáng là bậc anh hùng. Tôi tuy
là kẻ không anh hùng, song tôi thật không phải là kẻ tiểu
nhân, chỉ tham đồ phú quý…</em>" (Lời cãi trước tòa của
Phan Bội Châu)
"<em>Tôi cũng cảm ơn Hội đồng đã đem tôi ra trước mặt
công chúng xét xử, lại cử hai trạng sư biện hộ. […] nhưng
nếu nhà nước Bảo hộ lấy văn minh sang khai hóa cho các dân
tộc ở Đông Dương, thời thiết tưởng như tôi thật đáng
được tha tội</em>" (lời cãi trước tòa của Phan Bội Châu)
Sau cụ Phan, hai luật sư Larre va Bona, Luật sư do Pháp chỉ
định làm nhiệm vụ bênh vực bị cáo, đã thay nhau cãi, chống
đỡ cho cụ Phan.
Sau đây là lời bào chữa của luật sư Bona, người Pháp, về
động cơ hoạt động của Phan Bội Châu: "<em>Cụ đem cái ý
tưởng ấy bàn với các đại thần, thì bọn này lại dọa
nạt cụ bằng câu xử tử. Cái máu nóng gặp phải những phản
đối như vậy lại càng như sôi như đốt…</em>" (lời bào
chữa của trạng sư Bona)
Bona bào chữa tiếp cho bị cáo Phan Bội Châu: "<em>Cụ có dự
định dùng võ lực thật, nhưng chỉ dùng trong trường hợp
vận dụng văn hóa không thành công mà thôi. Vả lại võ lực
có chính đáng thì cụ mới làm, nghĩa là luyện tập lấy lục
quân, hải quân, đại bác, phi cơ, khi nào đầy đủ mới
đường đường chính chính đem quân ra khai chiến.</em>
<em>Nhưng đó là tư tưởng cụ về trước. Còn gần đây thời
cụ là người thế nào? Ngay khi vẫn còn tự do, tự chủ,
được tha hồ vùng vẫy nơi hải ngoại, cụ cũng đã soạn ra
hai bộ sách mới. Cuốn thứ nhất là "Dư cửu niên lai, sở
trì chi chủ nghiã", trong đó cụ khuyên đồng bào nên từ bỏ
hẳn lối bạo động, lối võ lực, theo gương Arabie và Phi
Luật Tân, có tiến lên bằng văn hóa thì người Pháp phải cho
tự trị. Cuốn thứ hai là "Pháp - Việt đề huề luận",
trong đó cụ khuyên người Nam nên đồng lao cộng tác với
người Pháp.</em>
<em>Trong cuốn sách này cụ có đoán rồi sau này thế nào cũng
có một cuộc Pháp – Nhật chiến tranh, và khi đó người Việt
Nam phải thế nào? Cụ khuyên đồng bào nên đi đôi với Pháp
mà chống lại Nhật, không phải về võ bị Nhật có kém gì
người Pháp, nhưng cụ viện ra bốn lẽ sau đây…</em>". […]
<em>Bởi vậy cụ Phan khuyên người Việt nam phải đồng tâm
với Pháp vì họ đãi mình được công bằng nhân đạo hơn.
[…]</em>
<em>Như thế chẳng phải là một bằng chứng xác thực là cụ
đã biến cải cái ý tưởng trước kia của cụ đấy hay sao?
[…]</em>
<em>Như vậy thời lúc này chẳng phải là lúc nên đem cái ý
kiến Pháp - Việt đề huề của cụ Phan đã khuyên người
đồng bang ra mà thực hành hay sao</em>?"
Bona còn nói thẳng, việc tha bổng cho Phan Bội Châu là một
"hành động chính trị khôn khéo": "Thưa các Ngài, các Ngài
nên dung thứ cho cụ Phan Bội Châu, vì như vậy, chẳng những
các Ngài đã làm được một hành động quảng đại đối với
lương tâm, mà các Ngài còn làm được một hành động chính
trị khôn khéo nữa, và do đó, người Pháp chúng ta, ai là kẻ
thức giả cũng phải đem lòng mến phục các Ngài" (lời bào
chữa của trạng sư Bona)
Luật sư Bona (người Pháp) cũng đã xưng tụng cụ như sau:
"<em>Cụ Phan là người quả không hổ là kẻ ái quốc chân
chính. Dù tôi là người Pháp, đối với cụ Phan tôi cũng phải
ngưỡng mộ. Tôi ngưỡng mộ là ngưỡng mộ cái thân thế quang
minh, cái tinh thần cao thượng, cái nghị lực bất di, bất
khuất đã chứng tỏ ra trong việc làm của cụ</em>".
Phiên tòa xử đã kéo dài từ 8 giờ 25 sáng đến 8 giờ tối,
tòa mới nghe xong lời bị cáo và lời biện hộ của luật sư.
Cuối cùng, sau một ngày xét xử, Hội Đồng Đề Hình vào trong
nghị án. Do lo sợ hậu quả của vụ án nếu xét xử tử hình
nên Hội đồng ra tuyên án: <span class="underlined-text">Khổ sai
chung thân</span>. (Nguyễn Quang Tô: Sào Nam Phan Bội Châu con
người và thi văn, tủ sách Văn học, bộ Văn hóa Giáo dục và
Thanh Niên, Sài Gòn 1974).
Trước bản án khổ sai chung thân của cụ Phan, một phong trào
đòi ân xá cụ Phan đã bộc phát khắp nơi. Xin ghi tóm tắt
một số cá nhân và đoàn thể:
1. Điện văn của luật sư Bona và Larre cùng ông Clement, chủ
nhiệm báo Argus Indochinois gửi toàn quyền Varenne. Phần đầu
điện văn viết: 'Với tư cách ký giả báo chí, tôi đã theo
dõi các diễn tiến phiên tòa đặc biệt xử án nhà ái quốc
Phan Bội Châu ... Rất xúc động trước phán quyết của tòa
án. Phần lớn người Pháp và An Nam hiện diện tại phiên tòa
cũng xúc động như tôi. Hầu nâng cao thời đại của ngài và
dư luận được trấn tĩnh, dám xin ngài gia ân cho nạn nhân
của chế độ thuộc địa này'.
2. Ban Trị Sự hội Trung Kỳ Tương Tế ở Hà Nội gửi điện
văn xin ân xá cụ Phan và toàn quyền Varenne đã trả lời, đại
ý là sẽ xét lại hồ sơ vụ án và sẽ thi hành một chế độ
khoan hồng.
3. Nữ giáo viên và nữ sinh Đồng Khánh Huế đã gửi điện
văn cho toàn quyền Varenne với nội dung: 'Chúng tôi, tất cả
nữ giáo viên và nữ sinh trường Đồng Khánh, xin ngài vì lòng
khoan dung, ân xá cho nhà ái quốc Phan Bội Châu'.
4. Điện văn của sinh viên trường Cao Đẳng Hà Nội: 'Chúng
tôi, sinh viên Trường Cao Đẳng Đông Dương, bị kích thích
mạnh mẽ vì cách buộc tội nhà đại ái quốc và duy tân Phan
Bội Châu, dám xin ngài rộng lòng ân xá cho cụ. Thi hành một
việc khoan dung như vậy, ngài sẽ chứng tỏ được lòng trung
thành với lý tưởng và thiên chức khai hóa nhân đạo của
nước Pháp. Nhân dân An Nam sẽ không bao giờ quên ơn ngài'.
5. Hội Việt Nam Thanh Niên tại Hà Nội đã gửi truyền đơn
tới nhiều cơ quan quốc tế yêu cầu lên tiếng đòi ân xá cụ
Phan. Trong đó có thể kể:
- Hội Vạn Quốc
- Tòa Án Quốc Tế ở La Haye.
- Nghị Viện Pháp.
- Giám Quốc Pháp.
- Bộ trưởng bộ Thuộc địa Pháp.
- Toàn Quyền Đông Pháp.
- Sứ Thần Trung Hoa.
- Sứ Thần các nước tại Paris.
6. Trong phong trào đòi ân xá cụ Phan, tại Hà nội đã có 2 vụ
đạo đạt thỉnh nguyện thư đặc biệt nhân dịp toàn quyền
Varenne từ Sài Gòn ra Hà Nội:
- Khi xe Varenne tới cuối phố Hàng Đường, một nhóm hàng trăm
phụ nữ, người đứng đầu là một bà cụ 70 tuổi, tóc bạc
phơ, đã qùy nghiêm chỉnh ở giữa đường, đưa bức thư xin
ân xá cụ Phan.
- Ở một địa điểm gần nhà ga, trên đường tới phủ Toàn
Quyền, có hơn 200 học sinh, chia làm 3 nhóm, đứng ở 3 chỗ,
đón đường Varenne. Mỗi toán cầm một lá cờ, trên nền cờ
viết 3 dòng chữ:
Chúc nhà xã hội Varenne trường thọ. (Chữ đỏ, biểu hiệu cho
đảng xã hội).
Xin xá thứ cho cụ Phan Bội Châu. (Chữ đen, màu tang chế, nói
lên nỗi đau của thiếu niên Việt Nam trước cái án của cụ
Phan).
Chấm dứt chủ nghĩa thuộc địa áp chế. (Chữ đỏ, nói lên
tinh thần tranh đấu).
Khi Varenne đi qua, các toán học sinh đã nâng cao lá cờ và hô
lớn các khẩu hiệu đó.
<center><img src="http://danluan.org/files/u1/Tranh-Phan-Boi-Chau.jpg"
width="318" height="392" alt="Tranh-Phan-Boi-Chau.jpg" /></center>
<center><em>Tranh vẽ Phan Bội Châu, tác giả Hiếu
Đệ</em></center>
Trước sự công phẫn của nhân dân, ngày 24/12/1925, một tháng
một ngày sau hôm xử án tại Hà Nội kết án khổ sai chung
thân, Toàn quyền Varenne – Đảng viên Đảng Xã hội Pháp, sau
khi điện về Pháp đề nghị, đã ký quyết định
"<em><strong>ân xá</strong></em>" cho nhà chí sĩ yêu nước. Sau
khi được ân xá, Toàn quyền Varenne đưa Phan Bội Châu về an
trí ở miền sông Hương núi Ngự (Huế) gọi là đi dưỡng già
nhưng kỳ thật là giam lỏng ông, kiềm chế và theo dõi mọi
hoạt động.
Ông dựng một túp lều ở bến Ngự và sống ở đấy suốt 15
năm cuối đời. Nơi đây biến thành nơi tập trung của thanh
thiếu niên và học sinh Huế, tới để yết kiến, chiêm
ngưỡng vị anh hùng dân tộc. Nơi đây cũng thường lui tới
một số công chức còn nặng tình dân tộc, sùng bái các vị
anh hùng, vĩ nhân đã hiến trọn cuộc đời cho đất nước
(theo Nguyễn Quang Tô, sách đã dẫn).
Để giao lưu tâm tình với bạn hữu và những người đồng
chí hướng, Phan Bội Châu mở ra Mộng Du thi xã, kêu gọi mọi
người gửi thơ văn đến xướng họa. Lời kêu gọi của nhà
yêu nước được hưởng ứng sôi nổi. Thơ từ các nơi gửi
về cho Mộng Du thi xã rất nhiều.
Mặc dù sống tiếp cuộc đời "cá chậu chim lồng" nhưng cụ
vẫn tự làm thơ văn để nói nỗi khổ nhục của người dân
mất nước, trách nhiệm của người dân đối với nước...
Đó là các tác phẩm: Nam quốc dân tu tri, Nữ quốc dân tu tri,
Bài thuốc chữa bệnh dân nghèo, Cao đẳng quốc dân, Luân lý
vấn đáp, Lời hỏi thanh niên... Phan Bội Châu niên biểu, Lịch
sử Việt Nam diễn ca. Đó còn là các công trình biên khảo hết
sức đồ sộ như Khổng học đăng, Phật học đăng, Xã hội
chủ nghĩa, Chu dịch, Nhân sinh triết học, cùng với trên 800
bài thơ Nôm các loại, mấy chục bài phú, văn tế, tạp văn
khác.
Trong những ngày đầu, có tư liệu cho rằng Pháp gửi Phan Bội
Châu vào tạm sống tại nhà một người đồng chí cũ của
ông, từ khá lâu y đã về đầu thú và nhận chức sắc của
Pháp. Đó là Nguyễn Bá Trác, người mà theo tương truyền, là
tác giả của bài thơ "Hồ trường" bi tráng nổi tiếng.
Thậm chí, hơn thế nữa, Phan Bội Châu cònđóng phim, một loại
phim có lẽ để tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp – Việt đề
huề!
Tuy vậy, bốn năm sau (1929), khi đã ổn định tinh thần, Phan
Bội Châu lại viết hồi kí. Đó là công việc ông đã từng
làm, và bỏ dở nửa chừng. Cuốn sách bị bỏ dở ấy có tên
là "Ngục trung thư". Nay, trong túp nhà ở Bến Ngự (Huế),
Phan Bội Châu lại viết tiếp, đồng thời chỉnh sửa lại
những trang đã viết. Đó là cuốn "Tự phán" (tự xét
định về mình) hay "Phan Bội Châu niên biểu".
Phan Bội Châu mất ngày 29/10/1940, thọ 74 tuổi. Mai táng ngay
trong chiều hôm sau tại phía trước ngôi nhà cụ ở Bến Ngự -
Huế, theo đúng di chúc của Cụ. Trước giờ lâm chung, ông đã
cố gắng đọc lên một bài khẩu chiến có những lời lẽ
thống thiết như sau:
Nay đang lúc tử thần chờ trước cửa
Có vài lời ghi nhớ về sau
Chúc phường hậu tử tiến mau.
Phan Bội Châu để lại Bản di chúc có tên gọi là "Mấy lời
vĩnh quyết" với những lời ngẫm ngợi với hậu thế:
<div class="special_quote">"<em>Phan Bội Châu, một tên dân Việt
Nam, trước lúc gần chết mà chưa tắt hơi, kính có mấy lời
thành thực từ biệt cùng anh em đồng bào.</em>
<em>Trước kia không kể, kể từ năm 1906… khiến cho người
nước kẻ ở người đi, kẻ còn người mất và bị lụy rất
nhiều, toàn là tội ác về tay tôi gây nên. Mà may quá! Từ 1925
tôi mang cái sống thừa về nước đến giờ, anh em đồng bào
đã không ai trách tội tôi mà lại quá thương yêu tôi, tôi
thực là hổ thẹn với đồng bào ta và cảm ơn vô cùng. Trải
mười lăm năm nay, nằm co trong túp lều ở Bến Ngự cùng
chiếc đò trên sông Hương, đoạn đời sống thừa của tôi,
không việc gì đáng nói và đồng bào đã rõ thừa. Bây giờ
tôi đã đến lúc lâm biệt, xin có lời từ biệt.</em>
<em>Bội Châu từ xưa tới nay, đối với đồng bào đã không
chút gì là công, mà lại tội ác quá nặng. Bây giờ tôi chết,
thiệt là một tên dân trốn nợ và vỗ nợ, đồng bào có thứ
lượng cho tôi thì xác tôi tuy chết mà tinh thần tôi vẫn cảm
ơn đồng bào luôn luôn.</em>
<em>"Người đến khi gần chết, lời nói hẳn lành". Nay tôi
đã đến lúc "gần chết" đó, xin có mấy lời gan phổi tỏ
lời hy vọng cuối cùng với đồng bào:</em>
<em>Đồng bào Việt Nam ta có trên hai mươi triệu, bấy nhiêu
đầu óc, bấy nhiêu tai mắt, bấy nhiêu chân tay, nếu không
biết thân yêu nhau, đồng lòng hợp sức làm cái bổn phận
quốc dân đối với Tổ quốc… Không thế, trên mặt địa
cầu sau này sẽ không có hình bóng dân tộc Việt Nam nữa, thì
Bội Châu này dầu có trốn nợ, vỗ nợ cũng may mà được
chết trước anh em, tôi lấy làm một điều hạnh phúc.</em>
<em>Mấy lời trên, tôi xin từ biệt mà cảm ơn đồng
bào…</em>
<em>Kính,</em>
<em>Phan Bội Châu quyết biệt</em>"</div>
<h2>Vài tư liệu tham khảo:</h2>
"Phan Bội Châu toàn tập", tập 4, Chương Thâu sưu tầm &
biên soạn
"Phan Bội Châu -Thân thế và thơ văn" - của Thế Nguyên
"Lời cãi trước phiên tòa đề hình ngày 23-11-1925", Bùi
Đình
"Vụ án Phan Bội Châu", Bùi Đình, Nxb. Tiếng Việt, Hà Nội,
1950
Sào Nam Phan Bội Châu con người và thi văn, Nguyễn Quang Tô, Tủ
sách Văn học, bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh Niên, Sài Gòn 1974
"Chủ nghĩa Pháp - Việt đề huề của Phan Bội Châu", Trần
Xuân Am, 2006
<div class="special_quote"><h2>Phụ Lục: Những trò lố hay là Va-ren
và Phan Bội Châu</h2>
Tác giả: Nguyễn Ái Quốc
Do sức ép của công luận ở Pháp và ở Đông Dương, ông Va-ren
đã nửa chính thức hứa sẽ chăm sóc vụ Phan Bội Châu. Ông
hứa thế; giả thử cứ cho rằng một vị toàn quyền Đông
Dương mà lại biết giữ lời hứa đi chăng nữa, thì chúng ta
vẫn được phép tự hỏi liệu quan Toàn quyền Va-ren sẽ "chăm
sóc" vụ ấy vào lúc nào và ra làm sao.
Trước hết, ngài chỉ muốn chăm sóc đến khi nào yên vị
thật xong xuôi ở bên ấy đã.
Nhưng ngài lại chỉ vừa mới xuống tàu, mà hành trình từ
Mác-xây đến Sài Gòn kéo dài chừng bốn tuần lễ cơ. Như
vậy có nghĩa là trong bốn tuần lễ đó, Phan Bội Châu vẫn
bị giam trong tù.
Nhưng chúng ta hãy theo dõi, theo dõi bằng đôi cánh của trí
tưởng tượng, những trò lố chính thức của ông Va-ren. Hãy
theo ông đến tận Hà Nội, tận cổng nhà lao chính, tận xà lim
nơi người đồng bào tôn kính của chúng ta đang rên xiết.
Ôi thật là một tấn kịch! Ôi thật là một cuộc chạm trán!
Con người đã phản bội giai cấp vô sản Pháp, tên chính khách
đã bị đồng bọn đuổi ra khỏi tập đoàn, kẻ đã ruồng
bỏ quá khứ, ruồng bỏ lòng tin, ruồng bỏ giai cấp mình, lúc
này mặt đối mặt với Người kia, con người đã hy sinh cả
gia đình và của cải để xa lánh khỏi thấy mặt bọn cướp
nước mình, sống xa lìa quê hương, luôn luôn bị lũ này săn
đuổi, bị chúng nhử vào muôn nghìn cạm bẫy, bị chúng kết
án tử hình vắng mặt, và giờ đây đang bị, vẫn chúng, đeo
gông lên vai đày đoạ trong nhà giam, ngày đêm bị bóng dáng
của máy chém như một bóng ma ám kề bên cổ.
Giữa kẻ phản bội nhục nhã và bậc anh hùng, vị thiên sứ,
đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong
vòng nô lệ tôn sùng, giữa hai con người đó xẩy ra chuyện gì
đây?
- Tôi đem tự do đến cho ông đây! Va-ren tuyên bố vậy, tay
phải giơ ra bắt tay Phan Bội Châu, còn tay trái thì nâng cái
gông to kếch đang xiết chặt (Phan) Bội Châu trong nhà tù ảm
đạm. "Nhưng, có đi phải có lại, tôi yêu cầu ông lấy danh
dự hứa với tôi là sẽ trung thành với nước Pháp, hãy cộng
tác, hãy hợp lực với nước Pháp để tiến hành ở Đông
Dương một sự nghiệp khai hoá và công lý.
"Ông Phan Bội Châu, tôi biết rõ tâm hồn cao thượng và cuộc
đời đầy hy sinh, nhiều nguy nan của ông, và chính tôi, tôi xin
là người đầu tiên, với tư cách là Toàn quyền Đông Dương,
được bày tỏ tấm lòng rất mực quý trọng ông. Song những ý
tưởng hào hiệp nhất phải chăng bao giờ cũng hay nhất? Phải
chăng bao giờ cũng thực hiện được? Than ôi, không đâu, ông
ạ! Vả lại, Trời ơi! tại sao chúng ta lại cứ cố chấp cãi
lộn nhau mãi thế này, trong lúc ông và tôi, tay nắm chặt tay,
chúng ta có thể làm được biết bao công việc tốt đẹp cho
xứ Đông Dương này? Chúng ta có thể cùng nhau làm cho nước
ông trở thành một quốc gia tân tiến lớn, một xứ tự trị,
một nước Pháp ở châu Á!
"Ô! ông nghe tôi, ông Phan Bội Châu này! Ông hãy để mặc đấy
những ý nghĩ phục thù của ông, hãy từ bỏ đi những mưu
đồ xưa cũ, và, thôi, chớ tìm cách xúi giục đồng bào ông
nổi lên chống lại chúng tôi nữa; trái lại, ông hãy bảo họ
cộng tác với người Pháp, và, làm như vậy ông sẽ được
tất cả, được cho đất nước ông, được cho bản thân ông!
"Về chuyện này, tôi có thể kể ông nghe gương của một trong
những trợ thủ cũ của ông, là ông Nguyễn Bá Trác; ông biết
đấy, ông này đã biết điều rồi và hiện nay thì đã đứng
về phía chúng tôi. Nhưng nếu gương của người đồng bào
ông, ông cho là chưa đủ, thì tôi xin kể gương đồng bào của
chính tôi cho ông nghe, gương các bạn học của tôi từ hồi
còn nhỏ, các chiến hữu của tôi, Guy-xta-vơ, A-lếch-xăng,
A-ri-xtit, An-be, Pôn và Lê-ông. Những vị ấy, ngày nay lừng danh
cả, đều đã lần lượt đốt cháy những cái mà mình đã tôn
thờ và đang tôn thờ những cái mà mình đã đốt cháy. Như
vậy các vị ấy có sao không? Chẳng sao cả. Nền dân chủ của
chúng tôi, nhờ Chúa! rất là tốt! Thật thế, nền dân chủ
hào hùng của nước Pháp, mà hôm nay tôi được vinh dự thay
mặt giữa các ông, khoan dung với những người, như tôi, đã
đoạn tuyệt với những lầm lạc của tuổi trẻ.
"Nhưng sao thế, ông hãy nhìn tôi này, ông Phan Bội Châu! trước
tôi là đảng viên xã hội đấy, và giờ đây thì tôi làm Toàn
quyền...!"
Ừ thì Phan Bội Châu nhìn Va-ren. Nhưng, lạ chưa! những lời
nói của Va-ren hình như lọt vào tai (Phan) Bội Châu chẳng khác
gì "nước đổ lá khoai", và cái im lặng dửng dưng của (Phan)
Bội Châu suốt buổi gặp gỡ hình như làm cho Va-ren sửng sốt
cả người.
Không phải vì một bên nói tiếng Nam, một bên nói tiếng Tây:
đã có một viên quan ở đấy làm thông ngôn cơ mà. Nhưng cứ
xét binh tình, thì đó chỉ là vì (Phan) Bội Châu không hiểu
Va-ren cũng như Va-ren không hiểu (Phan) Bội Châu.
* * *
Cuộc gặp giờ chấm dứt ở đấy, hay ít ra là không ai biết
được gì hơn nữa. Chỉ có anh lính dõng An nam bồng súng chào
ở cửa ngục là cứ bảo rằng, nhìn qua chấn song, có thấy
một sự thay đổi nhẹ trên nét mặt người tù lừng tiếng.
Anh quả quyết - cái anh chàng ranh mãnh đó - rằng có thấy đôi
ngọn râu mép người tù nhếch lên một chút rồi lại hạ
xuống ngay, và cái đó chỉ diễn ra có một lần thôi.
Nếu quả thật thế, thì có thể là lúc ấy (Phan) Bội Châu có
mỉm cười, mỉm cười một cách kín đáo, vô hình và im lặng,
như cánh ruồi lướt qua vậy.
Nguyễn Ái Quốc
T.B - Một nhân chứng thứ hai của cuộc hội kiến Va-ren - Phan
Bội Châu (xin chẳng dám nêu tên nhân chứng này) lại quả
quyết rằng (Phan) Bội Châu đã nhổ vào mặt Va-ren; cái đó
thì cũng có thể.</div>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/8392), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét