Phan Thế Hải - Cuộc chơi ngân hàng và 3 cái chết

(VEF.VN) - Vốn điều lệ tăng lên 3.000 tỷ đồng, khó khăn chung
của nền kinh tế và giá cổ phiếu từ từ giảm đang làm
nhiều ngân hàng TMCP "chết" từ từ. Cuộc chơi ngân hàng, xem
ra, nhiều đại gia đang ngậm phải quả đắng.

Như đã nói ở bài trước, khi phong trào thành lập công ty
chứng khoán lắng xuống, các đại gia chuyển sang thành lập
ngân hàng thương mại.

Chuyện này cũng dễ hiểu, vì hồi đó, các ngân hàng đang huy
động lãi suất từ 5 đến 7%/năm, cho vay ra trên 12%/năm. Có
ngân hàng, khắc có người đến mở tài khoản, có người
đến gửi tiền, có người đến vay tiền. Nền kinh tế ổn
định, tăng trưởng tín dụng đạt trên 30%/năm. Có huy động,
có cho vay, có chênh lệch lãi suất là có thu nhập... Chẳng có
gì chắc ăn bằng việc sở hữu nhà băng.

Trước hết, không chỉ vì đây là thị trường béo bở mà ở
khía cạnh khác, với những đại gia tiền bạc đã rủng rỉnh,
cái họ cần không kém là có một ghế, Chủ tịch hoặc Tổng
giám đốc, kể cả uỷ viên hoặc phó tổng, đủ để dọa
nạt thiên hạ. Ông chủ nhà băng, một khái niệm mà không chỉ
ở xứ ta, cả xứ Tây nghe cũng phát thèm.

Vậy là, lại nhà nhà đua nhau làm hồ sơ, đặc biệt các tổng
công ty, gửi lên Ngân hàng Nhà nước xin thành lập nhà băng.
Trước tháng 6 năm 2007, điều kiện thành lập ngân hàng khá
thoáng. Theo đó chỉ cần vốn điều lệ 70 tỷ đồng coi như
xong. Còn sau đó, quyết định 24/2007/QĐ-NHNN quy định điều
kiện thành lập ngân hàng mới, mức vốn điều lệ tối thiểu
của một ngân hàng thương mại cổ phần đô thị tăng từ 70
tỷ đồng lên 1.000 tỷ đồng.

Khi thị trường chứng khoán bùng phát, chuyện huy động ngàn
tỷ không khó. Các thủ tục, chỉ cần chịu chi, sẽ có tư
vấn lo từ A đến Z. Ban vận động chỉ việc họp, thông qua
điều lệ, phân định ghế, tìm kiếm văn phòng trụ sở, kiếm
nhân sự chủ chốt, coi như xong.

Chính vì sự thông thoáng đó, mà trước đây, Việt Nam chỉ có
4 ngân hàng thương mại đều là của nhà nước, thế mà chỉ
trong vòng mấy năm khi Bill Clinton, cựu Tổng thống Hoa Kỳ, bỏ
lệnh cấm vận, con số này đã tăng lên gấp nhiều lần.
Trước khi gia nhập WTO thì số ngân hàng thương mại ở Việt
Nam đã gần 30. Chưa dừng, các hồ sơ xin thành lập mới lại
liên tục gửi lên, gửi lên.

Bạn tôi làm ở Ngân hàng Nhà nước cho hay, tính đến hết
tháng 8/2007, đã có 25 bộ hồ sơ được gửi lên Ngân hàng Nhà
nước xin cấp phép thành lập ngân hàng thương mại cổ phần
(TMCP) mới. Nhiều người nộp hồ sơ, nhiều người chờ đợi,
ắt sẽ bị nghẽn. Nghẽn vì chen nhau, nghẽn vì cơ quan quản
lý Nhà nước chẳng dại gì lại không khép bớt cửa lại. Ai
muốn qua, phải "biết điều".

Mấy đại gia, cậy có súng to đạn nhiều, tìm cách gõ nhiều
cửa, tranh thủ có được nhiều công văn của cấp có thẩm
quyền để tác động. Song, chuyện được cấp giấy phép hay
không lại do Ngân hàng Nhà nước.

Từ đầu năm 2006 kéo qua 2007, thị trường tài chính tăng
đẹp, giá cổ phiếu của các ngân hàng thương mại tăng gấp
nhiều lần mệnh giá. Một ngân hàng thương mại mới ra đời,
ngoài cổ đông sáng lập không được phép chuyện nhượng, còn
các cổ đông phổ thông, cứ mua bán qua giấy viết tay, cũng
được dăm sáu chấm. Nghĩa là có thể dùng tay không bắt
giặc, cũng kiếm bộn tiền.

Một số ngân hàng đã có giấy phép, chỉ cần tăng vốn điều
lệ, gọi cổ đông mới tham gia, bán ưu tiên cũng kiếm lãi
gấp ba gấp bốn. Việt Nam, từ chỗ có dăm bảy vị tư bản
"cỏ", vốn liếng ít ỏi, bỗng dưng xuất hiện hàng trăm
triệu phú đô la Mỹ, nhiều như nấm mọc sau mưa.

Nhiều triệu phú, thậm chí là tỷ phú đô la Mỹ, lực lượng
này bắt đầu can thiệp vào việc ra chính sách. Họ tham vấn
cho Chính phủ chính sách thanh toán không dùng tiền mặt. Đầu
năm 2008, chính sách này được phê duyệt, tiền lương được
chuyển vào tài khoản, muốn tiêu dùng thẻ để rút. Văn minh
không kém gì Hoa Kỳ. Hơn thế là cơ hội lớn cho các ngân hàng
thương mại. Huy động vốn qua dịch vụ thẻ tăng vọt.

Trở lại chuyện đã nói ở phần trước, bạn tôi từ Ba Lan
trở về, có vài chục triệu đô, lại kiếm được bằng tiến
sĩ kinh tế, muốn khoe khoang. Không có sự lựa chọn nào tốt
hơn là thành lập ngân hàng thương mại.

Thời điểm 2007, phải có số tiền tối thiểu 1.000 tỷ đồng.
Tiền tươi, thóc thật, được duy trì số dư tiền gửi tại
một ngân hàng trong suốt thời gian từ khi chấp thuận về
nguyên tắc cho đến khi khai trương hoạt động. Bao nhiêu vốn
liếng từ Đông Âu, dồn về Việt Nam, ra chợ đen đổi đô ra
Việt Nam đồng để làm chuyện ấy. Nhiều tháng trời, khoản
tiền đó bị giam chết một chỗ, không sinh lợi.

Cũng như với các công ty chứng khoán, với các ngân hàng
thương mại, tìm kiếm nguồn nhân lực cũng là chuyện đau
đầu. Sinh viên tốt nghiệp ra trường nhiều như quân nguyên,
dưng không thạo việc. Để vận hành một doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, cần có đội ngũ am
hiểu thực tiễn, thành thạo chuyên môn. Chưa nói chuyện bộ
khung quản lý, cán bộ chủ chốt.

Khi số lượng các NHTM đột ngột tăng cao, người làm được
việc đắt hàng. Các ngân hàng thương mại vẫn áp dụng chiêu
cũ: Lôi kéo cán bộ của nhau với những lời hứa về chức
sắc, thu nhập, tiền thưởng, điều kiện làm việc và lớn
hơn là cổ phiếu. Trong số đó, các ngân hàng thương mại Nhà
nước được coi là những cái kho về nhân sự.

Một người bạn đang giữ ghế trưởng ban ở Agribank bỗng
dưng được mời gọi về làm Phó tổng một ngân hàng cổ
phần, lương tính bằng đô-la Mỹ, cao ngất ngưởng.

Rồi nữa, bài toán mở rộng mạng lưới, chi nhánh. Muốn giữ
khách, muốn hút tiền nhàn rỗi của dân, không cách nào khác
phải gần dân. Các chi nhánh cứ thế tăng liên tục như tàu con
thoi. Những khu dân cư đông đúc, những khu đô thị mới, ai có
nhà mặt tiền hoặc tầng một đều có cơ hội hốt bạc.

Đoạn đường Kim Liên - Ô chợ Dừa mới mở dài chưa đầy
cây, chỉ trong có vài tháng đã có 8 chi nhánh và phòng giao
dịch ngân hàng. Tầng một của hai toà nhà 18 T1 và 18 T2, sát
nhau tại khu đô thị Trung Hoà - Nhân Chính, cũng có mặt tới 5
ngân hàng thương mại.

Không chỉ là chi phí, mà các ngân hàng còn phải tranh địa
điểm với nhau. Có ngân hàng vừa thoả thuận với chủ nhà
xong, chưa kịp nhận tiền đặt cọc thì đã có ngân hàng khác
đến thuê với giá cao hơn. Thậm chí, đã nhận đặt cọc
rồi, chủ nhà còn trả lại tiền, chịu phạt để được ký
với đối tác khác giá cao hơn.

Ngoài ra là hàng loạt thách thức khác, như: công nghệ, quản
trị điều hành, đặc biệt là quản trị rủi ro, đa dạng hoá
nghiệp vụ kinh doanh, chất lượng và uy tín của dịch vụ, thu
hút khách hàng... Chỉ riêng việc xây dựng hệ thống
core-banking (ngân hàng lõi) cho một ngân hàng thương mại đã
tốn khoảng 4 triệu USD.

Chuyện giành giật về nhân sự, cạnh tranh về phát triển
mạng lưới, thuê địa điểm đẹp, tưởng đã là những rào
cản khó vượt qua. Chưa hết, tháng 10 năm 2008, Ngân hàng Nhà
nước chắp bút cho Chính phủ ra quyết định mới về điều
kiện thành lập ngân hàng thương mại.

Theo đó, vốn điều lệ của một ngân hàng TMCP mới sẽ không
dưới 3.000 tỷ đồng, cao gấp 3 lần quy định cũ. Ngoài ra,
mỗi ngân hàng phải có ít nhất 100 cổ đông, trong đó mỗi DN
là cổ đông sáng lập phải có ít nhất 500 tỷ đồng vốn
chủ sở hữu và phải đảm bảo làm ăn có lãi trong vòng 3 năm
liên tiếp trước khi xin thành lập ngân hàng.

Trước rào cản lớn như vậy, hầu hết các Ban chuẩn bị
thành lập ngân hàng đều bỏ cuộc. Một cán bộ Ngân hàng Nhà
nước cho biết, tính đến tháng 8/2008, cơ quan này đã nhận
được tổng cộng 37 bộ hồ sơ xin thành lập mới ngân hàng
TMCP. Trong số các hồ sơ trên, chỉ có Liên Việt và Tiên Phong
được chấp nhận thành lập và đã đi vào hoạt động.

Ít lâu sau, Bảo Việt Bank cũng được Thủ tướng chấp thuận.
Số còn lại đang nằm ở Ngân hàng Nhà nước chờ cấp phép
bỗng dưng trở thành mớ giấy lộn. Không ít người dở khóc
dở cười chỉ vì đã trót bỏ ra hàng trăm tỷ đồng cho công
tác chuẩn bị.

Đây được coi là cách chết thứ nhất.

Cũng như các công ty chứng khoán, các ngân hàng thương mại
cũng sống trong cảnh đìu hiu của thị trường tài chính.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu chưa kịp phục hồi lại bị
bồi thêm chuyện động đất ở Nhật, rồi chuyện nổ nhà máy
điện hạt nhân, nghe mà hãi.

Trước những tin dữ đó, đầu tư khu vực tư nhân giảm vẫn
chưa khá lên, tiêu dùng nội địa và quốc tế phục hồi
chậm. Nhà nước thắt chặt tín dụng, thắt chặt giao dịch
vàng, ngoại hối. Cạnh tranh hàng nhập khẩu tăng mạnh, niềm
tin của nhà đầu tư yếu...

Điều này đang báo hiệu một cách chết thứ ba: chết từ từ.
Giá cổ phiếu của các ngân hàng thương mại giảm có lý do
từ bệnh tật này. Theo Vietnam Credit 2009, công ty chuyên về xếp
hạng tín nhiệm, có hơn chục ngân hàng thương mại phải xếp
hạng CCC, nghĩa là, doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao, nếu
điều kiện bất lợi thì ít khả năng thực hiện được các
cam kết tài chính của mình.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/8191), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét