Hoàng Tụy đã từ lâu phát biểu, đặc biệt câu sau đây [1]
trích trong Kỷ Yếu Sĩ phu Thời nay: <em><strong>Thật ra, giáo
dục và khoa học của ta không chỉ tụt hậu mà đi lạc ra
ngoài con đường chung của thế giới, hết sức 'không giống
ai' và đó là nguồn gốc của mọi vấp váp, khó khăn khi hội
nhập nếu không kịp chấn chỉnh."</strong></em>
<h2>1- Triết học không phải là một giáo điều</h2>
Đại cương, sinh viên ngành triết học được hướng dẫn về
phương pháp suy luận và cách thức đặt vấn đề nhằm tìm
hiểu sự thật trong cuộc sống nội tâm, cũng như khám phá ra
những quy luật vận hành của xã hội, của vũ trụ nhân sinh.
Triết học cũng trình bày cho sinh viên hiểu biết được lịch
sử phát triển về tư tưởng và nhận thức của con người,
nhờ vào những tìm kiếm nhẫn nại không ngừng của các triết
gia tại Đông cũng như Tây phương, liên tục từ biết bao năm
trường. Nói chung, môn triết học cung cấp cho chúng ta một
chân trời luôn mãi mở rộng, một viễn tượng toàn cầu, một
tầm nhìn thật là bao quát và thông thoáng. Đó là kim chỉ nam,
tấm bản đồ giúp cho con người hướng thượng để đi tới
mãi trong cuộc hành trình lâu dài của mỗi cá nhân, cũng như
của toàn thể cộng đồng nhân lọai, mà không sợ bị lạc
lối trong cái mê hồn trận của cuộc sống mỗi ngày một thêm
phức tạp xáo động trong xã hội ngày nay.
Cũng như môn khoa học tự nhiên, triết học là cả một kho
tàng kiến thức vô cùng phong phú và quý báu mà nhân loại đã
tích lũy được, trải qua bao nhiêu thế hệ tìm kiếm, phân
tích và đãi lọc thành những sản phẩm tinh hoa của trí tuệ
con người, không phân biệt sắc tộc, màu da hay khuynh hướng
chính trị, học thuật và tôn giáo nào. Và như vậy, việc
giảng dậy môn triết học không bao giờ chỉ tập trung, đóng
khung chật hẹp vào một triết thuyết độc tôn duy nhất nào,
mà trái lại cần phải giới thiệu cho các sinh viên tìm hiểu
được nhiều trường phái triết học, các lý thuyết cổ xưa
cũng như hiện đại của các nhà tư tưởng kiệt xuất của
nhân loại từ Đông sang Tây, Bắc xuống Nam.
Xin trích dẫn mấy dòng ngắn ngọn sau đây[2] về sự tương
đồng cũng như khác biệt giữa khoa học và triết học:
Triết học nghiêm túc giống khoa học đích thực ở hai điểm:
1- đều dựa vào một số nguyên lý. Những nguyên lý này, ta
chỉ có thể tán thành hay không, không chứng minh tuyệt đối,
vĩnh viễn được. Do đó phát triển khoa học hay triết học
đều đòi hỏi ý thức tự do và sáng tạo.
2- trên cơ sở đó, đòi hỏi một kiểu suy luận khắt khe,
chặt chẽ, nhất quán xuyên qua những bộ ngôn từ tương xứng.
Thiếu ngôn ngữ khoa học, không thể tiếp thu và phát triển tư
duy khoa học. Thiếu ngôn ngữ triết học "cho ra hồn", không
thể tiếp thu và phát triển tư duy triết.
Triết học và khoa học khác nhau ở hai điểm:
1 - Giá trị của lý thuyết khoa học được xác định bằng
thử nghiệm: ứng dụng nó thì hành động đạt được kết
quả đã dự đoán. Lý thuyết khoa học đúng hay sai là phải do
thực nghiệm kiểm chứng được hay không.
2 -Giá trị của triết thuyết được xác định qua nghiệm sinh
của con người ở đời. Có thể bỏ mạng mà vẫn đáng sống.
Cả hai đều cần thiết để làm người. Nếu chua thêm được
tí ti văn nghệ trong cuộc sống thực thì tuyệt.
Vậy mà từ lâu rồi theo Trần Đức Thảo "<em>ở Việt Nam
không có triết học mà chỉ có chính trị</em>", đặt nội
dung giáo dục ý thức hệ Marx-Lenin làm trọng tâm. Trẻ vào
mẫu giáo đã nghe những bài hát chính trị. Người soạn sách
giáo khoa nhiều khi cũng cố lồng chính trị vào, coi đó là
một thành tích [3]. Việc giảng dạy môn triết học Marx-Lenin
tại các trường ở Việt nam từ mấy chục năm nay là một
hạn chế khiên cưỡng, sinh viên phải học tập duy nhất có
một học thuyết mà không được tiếp cận trên cùng một bình
diện cả một vườn hoa tư tưởng muôn màu muôn sắc của nhân
lọai. Rõ ràng là triết học do Karl Marx khởi xướng từ trên
150 năm nay và sau đó bổ sung bởi Lenin đã và tiếp tục là
một đóng góp đáng kể cho nhân lọai, tuy nhiên nó không phải
là một đường lối tư tưởng duy nhất, tuyệt đối và vĩnh
viễn. Như vậy, thì lại càng không thể đem học thuyết này
mà áp đặt trên quần chúng học sinh, sinh viên, buộc thế hệ
thanh niên phải chấp nhận nó như một giáo điều chính thức
của quốc gia. Sự áp đặt như vậy nào có khác chi việc
thiết lập một thứ quốc giáo độc quyền, độc tôn trên
toàn thể dân tộc?
Qua sự trình bày trên, thiết nghĩ ta cần phải dứt khoát thay
đổi lề lối và nội dung của việc giảng dạy môn triết
học hiện nay. Cụ thể trong thời buổi hội nhập này là nên
áp dụng các phương thức phổ quát trên thế giới, đó là
hướng dẫn cho sinh viên nâng cao tầm nhận thức và trình độ
hiểu biết rộng rãi, thấu đáo hơn mãi về lịch trình tiến
triển của tư duy loài người từ xưa đến nay, thông qua những
tìm kiếm vô cùng phong phú và kiên trì của biết bao lớp nhà
tư tưởng ưu tú vĩ đại của nhân lọai. Chứ không phải chỉ
đóng khung hạn hẹp trong bất kỳ một học thuyết duy nhất
nào. Khác nào xưa kia thời quân chủ phong kiến hàng ngàn năm
bên Đông Á, học thuyết cửa Khổng sân Trình đã thống trị
tư duy thần dân. Cũng như Cơ đốc giáo với giả thuyết điạ
tâm sai lầm bên Âu châu đã đưa Giordano Bruno lên dàn hỏa
thiêu (1600) và Galileo Galilei (1633) phải quỳ gối tự chối bỏ
tác phẩm đặt nền tảng cho Vật lý và Thiên văn hiện đại.
Điển hình gần đây hơn là thời Stalin đã dùng quyền lực
chính trị để áp đặt lý thuyết về di truyền của Lysenko,
gây tai hại trầm trọng cho nền khoa học của Liên Xô vào
giữa thế kỷ XX vậy. Cũng vậy giáo điều phát xít Đức đã
đẩy lùi nền khoa học Âu châu trong bao năm.
Chúng ta hãy lắng nghe ý kiến sau đây[4]:
"<em>Tôi đề nghị chúng ta vẫn giữ học thuyết Marx-Lenin,
nhưng chúng ta không chỉ biết và vận dụng duy nhất học
thuyết Marx-Lenin, mà cần phải biết và vận dụng những học
thuyết tinh hoa của nhân loại như chúng ta bắt đầu làm từ
khi đổi mới. Từ đó Đảng ta mới phát huy được dân chủ,
tự do trong Đảng, trong nhà nước và trong xã hội ta. Vì chỉ
có dân chủ tự do mới có thể có điều kiện thật sự cho
sự phát triển vững mạnh, mới có sức mạnh vô địch để
vượt qua mọi khó khăn thử thách, bảo vệ được thành quả
của Cách mạng và không ngừng đưa Cách mạng Việt Nam tiến
lên phía trước cùng với bạn bè năm châu bốn biển</em>".
Các nước tư bản họ cũng làm như vậy. Họ vẫn nghiên cứu
và giảng dạy chủ nghĩa Mác-Lênin ở các trường đại học.
"<em>Giữ học thuyết Marx-Lenin</em>" không phải để tôn sùng
và mù quáng vâng theo mà có chăng chỉ để gạn đục khơi
trong, để ôn cũ biết mới.
Muốn có dân chủ cần phải có sự phát triển tinh thần đa
dạng, nhiều chiều, nghĩa là triết học cũng phải đa dạng,
nhiều chiều, chứ không thể giáo điều theo một hướng hẹp;
đi theo một hướng hẹp là tạo mảnh đất đánh mất dân
chủ. Điểm son của triết lý giáo dục tiến bộ trên thế
giới là sự bao dung, tôn trọng và bàn cãi tự do những tư
tưởng, văn hóa, chính kiến, tín ngưỡng khác nhau, chúng bổ
túc cho nhau. Tư duy độc lập, phê phán, phản biện, tự vấn
không ngừng là những yếu tố quyết định của một nền giáo
dục tiến bộ và phổ quát. Không thể áp đặt một hệ tư
tưởng bất luận nào đó - cho dù ưu việt đến mấy trong một
thời - lên sự nghiệp giáo dục đào tạo con người. Nó chỉ
kìm hãm tư duy sáng tạo. Triết lý giáo dục công lập ở Pháp
dựa trên hai nền tảng : nhà trường thế tục và cộng hòa.
Nhà nước tôn trọng và trung lập đối với mọi tín ngưỡng,
chính kiến, tư tưởng, nhân sinh quan, triết học. Nhà trường
là nơi hòa trộn mọi thành phần, không phân biệt nguồn gốc,
chủng tộc, giai cấp xã hội của học sinh.
<h2>2- Nhân sự giảng dạy và nghiên cứu</h2>
Đại học, nơi tụ hội những tinh hoa của xã hội, mặc nhiên
có vai trò làm gương mẫu cho mọi sinh hoạt. Nó phải là một
môi trường lành mạnh, đạo đức để phục hồi và củng cố
niềm tin của tuổi trẻ. Sự nghiệp của đại học là khai
sáng tư duy, là đào tạo chất lượng cao về tri thức tổng
quan và chuyên ngành. Những tiêu cực như giả dối, nạn dỏm
trong nhân sự phải tuyệt đối vắng mặt, thày ra thày, trò ra
trò. Đó là điều kiện tiên quyết của nền giáo dục nói
chung mà đại học cần mở đường. Người sinh viên phải
được hưởng quyền nổi loạn trong học thuật. Họ có quyền
tụ tập để tranh luận học thuật dưới mọi hình thức và
về bất cứ chủ đề nào[5].
Đội ngũ nhân sự giảng dạy đại học cần phải có trình
độ tiến sĩ theo tiêu chuẩn quốc tế, số lượng tiến sĩ
đủ tiêu chuẩn này hiện nay quá nhỏ so với số sinh viên,
hiện tượng thạc sĩ dạy cử nhân cần phải giảm đi đến
mực tối thiểu. Chuyển giao tri thức chuyên môn cho sinh viên
chỉ là một trong hai nhiệm vụ chính của giảng viên đại
học, điều quan trọng không kém là nghiên cứu khoa học theo
tiêu chuẩn quốc tế để cập nhật thường xuyên tri thức
chuyên môn, đào sâu tăng trưởng kiến thức và tìm tòi sáng
tạo. Tiến sĩ chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để
thành giảng viên đại học, chức vụ này đòi hỏi một thời
gian 'sau tiến sĩ' (postdoc) khá gian nan để đạt tới sự
độc lập chín chắn trong quá trình giảng dạy và khám phá,
mở rộng trao đổi với các môi trường khác nhau để sàng
lọc, đua tranh lành mạnh nhưng gay gắt. Tiêu chuẩn quốc tế
được hiểu theo nghĩa sau đây:
(a) công trình khảo cứu khoa học đăng trên các tạp chí đẳng
cấp quốc tế (hầu hết bằng tiếng Anh mà ISI thu thập). Trong
hàng chục ngàn tạp chí của ISI, có nhiều cái cũng chỉ vừa
phải về chất lượng, vậy có lẽ nên linh động hơn, đừng
thái quá về vai trò quyết định của ISI. Trong mỗi ngành
chuyên môn, ai cũng rõ cấp bậc nọ kia (xếp loại theo impact
factor cao là một thí dụ) của các tạp chí để tự mình chọn
mặt gửi vàng đến các tạp chí với hệ thống bình duyệt và
phản biện nghiêm túc. Mỗi ngành nghề chuyên hẹp chỉ có
chừng vài chục tạp chí đủ chất lượng cao mà ta cần tập
trung vào đó. (b) số lần trích dẫn (hay/và H index) các công
trình khoa học bởi đồng nghiệp khắp thế giới, (c) sách giáo
trình cao học phát hành bởi các nhà xuất bản uy tín (d) báo
cáo trong hội nghị quốc tế và sự giao lưu thường xuyên với
các cơ quan giảng dạy-nghiên cứu trên thế giới, (e) sự
nghiệp đào tạo các nghiên cứu sinh và tiến sĩ, (f) đối với
các ngành khoa học ứng dụng, văn bằng sáng chế và cộng tác
với các công ty kỹ nghệ mang lợi nhuận cho cơ quan.
Ðó là ít nhiều hành trang thông thường của nhân viên giảng
dạy-nghiên cứu của một đại học chuẩn mực quốc tế mà
nền đại học Việt Nam cần đạt tới. Qua các tiêu chí (a) -
(f), ta thấy rõ sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và
giảng dạy, sự thăng chức thăng ngạch trong mỗi hàm nên tùy
thuộc chủ yếu vào các công trình nghiên cứu khoa học. Cũng
như ở nhiều nước phát triển cao, tổng số giờ giảng dạy
trong một năm của giáo sư đại học ở Pháp chỉ có khoảng
130 giờ để thấy rõ tầm quan trọng mà họ phải bỏ hết
thời gian còn lại làm nghiên cứu. Vì thế họ mang tên gọi là
nhân viên giảng dạy-nghiên cứu (enseignant-chercheur).
Chương trình dài hạn đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế (bằng
cách tuyển chọn sinh viên tài năng gửi đi soạn cao học, tiến
sĩ và hậu tiến sĩ ở các nước khoa học tiền tiến) một
đội ngũ mới giảng viên đại học để tiếp nối dần thế
hệ trước, phải là ưu tiên hàng đầu của nền đại học.
Đội ngũ nhân viên giảng dạy cần được coi là trọng tâm
của mọi sinh hoạt trong đại học, ban quản lý chỉ có nhiệm
vụ duy nhất là hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi sao cho
được tối ưu hai sự nghiệp chính của giảng viên là chuyển
giao tri thức và nghiên cứu khám phá. Ngoài ra vai trò quan trọng
của hai môn Triết học Mác-Lê và Lịch sử Đảng chiếm
khoảng 15% học trình của các ngành khoa học tự nhiên là
điều hoàn toàn khác lạ với tiêu chuẩn quốc tế. Nên coi môn
trước nằm trong kiến thức chung của triết học nhân loại và
môn sau trong lịch sử thăng trầm quốc gia. Trong hồ sơ các
sinh viên trong nước sang ghi tên du học về ngành khoa học tự
nhiên, hai môn kể trên có hệ số tính điểm khá cao chẳng thua
các hệ số về toán, lý, hoá, sinh, ngoại ngữ. Ở các nước
phát triển, không đâu có hai môn bắt buộc này trong học trình
của các ngành khoa học tự nhiên. Nhiều bạn bè trên thế
giới đã mất công sức giải bầy với đồng nghiệp và bộ
máy hành chính của đại học mình khi họ xét hồ sơ tuyển
chọn sinh viên Việt Nam sang du học. Ðể so sánh công bằng với
sinh viên các nước khác trong việc tuyển chọn vào đại học,
hai môn 'không khoa học tự nhiên' này bị loại bỏ tự
động, làm lãng phí thời gian tiền của.
Rồi chuyện học hàm học vị nhiêu khê của hệ thống giáo
dục hiện nay; nhiều người có học vấn thật bị đứng vào
chỗ văn hoá giả tạo, và ngược lại. Chức giáo sư, phó giáo
sư đại học cần phải hiểu theo những tiêu chuẩn phổ quát
quốc tế, đó chỉ là chức vụ để giảng dạy-nghiên cứu
với trách nhiệm cụ thể trong các đại học, chứ không phải
là phẩm hàm quí tộc hình thức để quản lý hay hoạt động
ngoài môi trường đại học. Nguyên tắc để xác nhận hai khả
năng giảng dạy-nghiên cứu nói trên cần giản dị, minh bạch,
không gây khó khăn bởi những thủ tục hành chính xa lạ với
chất lượng nghiêm túc.
Ngoài vấn đề đội ngũ giảng dạy ra, quy chế tự chủ và
tự do trong môi trường học thuật, chính sách đãi ngộ và
đồng lương tương xứng, hướng nghiên cứu và phương pháp
đào tạo, mở rộng cộng tác với các cơ quan và chuyên gia
nước ngoài là những điều vô cùng quan trọng cần thực hiện
để đảm bảo cho sự thành công của đại học chất lượng
cao theo tiêu chuẩn quốc tế. Sự liên kết mật thiết giữa
Đại học và Viện Khoa học & Công nghệ (VAST) nên phát huy tận
lực, cơ chế hành chính của hai cơ quan cần điều hòa ra sao
để hai bên cùng có lợi trong sự nghiệp nâng cao chất lượng
đào tạo và nghiên cứu. Đó là điều mà các nước khoa học
tiền tiến đã từ lâu thực hiện.
Tăng cường và xây dựng nhanh chóng cơ sở vật chất, phòng
làm việc thường trực của nhân viên giảng dạy-nghiên cứu,
thư viện phong phú với sách giáo trình và tạp chí khoa học
quốc tế, máy tính và truy cập internet, cư xá cho sinh viên thuê
giá rẻ, học bổng trợ cấp sinh viên chăm chỉ tài năng mà gia
cảnh thiếu thốn.
Với hàng ngàn vạn tuổi trẻ trong và ngoài nước đang thành
công tốt đẹp trong nhiều lãnh vực trên trường quốc tế,
chúng ta tin tưởng rằng khi có môi trường thuận lợi, con
người Việt còn có thể vươn cao hơn nữa. Thí dụ tượng
trưng, trong các cựu sinh viên sang du học ở Pháp khoảng hơn
mươi năm nay gần đây, một số đã trở thành giảng sư các
Đại học hay nghiên cứu viên của Trung tâm Quốc gia Khảo cứu
Khoa học (CNRS). Ðó là tiềm năng chất xám quý báu của dân
tộc ta, chất xám ấy lại mang thêm một đặc điểm nữa mà
hiếm các quốc gia khác có được, đó là sự phong phú đa
dạng của các thành phần đến từ nhiều chân trời văn hóa
khác nhau nhưng bổ túc cho nhau, từ Ðông qua Tây Âu, từ Bắc
đến Nam Mỹ, Đông Bắc đến Tây Nam Á, Úc, được thử thách
chọn lọc theo tiêu chuẩn quốc tế. Lại thêm biết bao tài
năng, đặc biệt với thế hệ thứ hai, nằm trong cộng đồng
ba triệu người Việt ở nước ngoài sinh hoạt trên khắp năm
châu.
Thực ra vấn đề xuất cảng rồi sớm muộn trở thành giao lưu
chất xám đã xảy ra từ lâu rồi ở các nước lân cận Việt
Nam. Do lòng gắn bó với cội nguồn, môi trường hoạt động
thoải mái thoáng đãng và chính sách đãi ngộ thích ứng ở
các nước đó, phần đông các nhân tài đã trở về cố hương
đóng góp cho sự phát triển kỳ diệu của nước họ, trong đó
các đại học và viện công nghệ mang tầm quốc tế giữ vai
trò không nhỏ.
Người viết tâm tình với lòng tin là nền đại học Việt Nam
không thể không đạt tới chuẩn quốc tế, vấn đề chỉ là
thời gian khoảng mươi năm. Nó đến sớm hay muộn là ở trong
tay chúng ta từ chính quyền đến người dân hữu trách, và
lời chúc đầu năm là chúng ta sẽ thành công nhanh hơn và trội
hơn ước tính.
<em>Phạm Xuân Yêm</em>
Nguồn: Bài viết cho Kỷ yếu 200 năm Humboldt (HN 2011).
<h2>Trích dẫn: </h2>
[1] Kỷ Yếu Sĩ phu Thời nay, nxb Tri Thức (2008), trang 161
[2] Phan Huy Đường, Tạp chí Tia Sáng (2010),
http://amvc.free.fr/PHD/LangThangChuNghia/TrietHoc-KhoaHoc.htm
[3] Trong cuốn giáo trình "Nhiệt động lực học và Vật lý
thống kê, nxb Đại học Quốc gia Hanoi (1996), ngay ở trang 11,
tác giả, một nhà vật lý, viết: Như Lenin đã chỉ rõ " Khái
niệm nhân quả của con người …", điều chẳng liên đới
chút nào đến toàn bộ nội dung cuốn sách.
[4] Nguyễn Văn An, nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên trưởng
Ban Tổ chức TƯ Đảng, nguyên Chủ tịch Quốc hội qua những
trả lời phỏng vấn " Tuần Việt Nam " ngày 12 tháng 12 năm
2010.
[5] Phạm Anh Tuấn, <a
href="http://boxitvn.wordpress.com/2010/11/30/khi-tm-h%E1%BB%93n-con-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-b%E1%BB%8B-t%C6%B0%E1%BB%9Bc-do%E1%BA%A1t/">Khi
tâm hồn con người bị tước đoạt</a>, tham luận trong hội
thảo "Sự xuống cấp văn hóa và đạo đức trong xã hội
ngày nay" do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức ngày 27.11.2010
tại Hà Nội
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/7745), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét