Tuần Việt Nam - Sự thật về sự kiện Hoàng Sa 1974

Cách đây hơn 3 thập kỷ, ngày 19/01/1974, quân đội Trung Quốc
đã tấn chiếm quần đảo Hoàng Sa, lúc này đang do chính quyền
Sài Gòn quản lý.

Vậy mà, ngày 19/1/2011, mạng Văn phòng Báo chí Quốc vụ viện
Trung Quốc (www.scio.gov.cn) đăng tin dưới dạng sự kiện về
việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam
với nội dung như sau: "<em>Ngày 19/1/1974, quân và dân quần đảo
Tây Sa của ta (Trung Quốc) tiến hành tự vệ phản kích nguỵ
quân miền Nam Việt Nam - kẻ đã liên tục xâm phạm lãnh hải,
không phận, cướp chiếm các đảo và gây thương vong cho ngư
dân ta, bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ</em>".

Vậy sự thật của sự kiện Hoàng Sa tháng 1/1974 là gì? Là
một cuộc đáp trả tự vệ của quân dân Trung Quốc như mạng
thông tin trên tuyên bố, hay là một cuộc xâm lược một vùng
đất có chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam?

<h2>Chủ quyền không thể chối cãi</h2>

Hơn ba thập kỷ qua, trong bối cảnh quan hệ Việt-Trung có
những bước thăng trầm, Việt Nam vẫn luôn khẳng định Hoàng
Sa cùng với Trường Sa là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng
của mình. Bởi vì chủ quyền ấy đã được minh chứng bằng
thời gian và lịch sử của nhiều thế kỷ những cư dân và
Nhà nước Việt Nam đã quản lý và khai thác vùng lãnh thổ
trên biển Đông này.

<center><img src="http://danluan.org/files/u1/sodotancong.jpg" width="450"
height="324" alt="sodotancong.jpg" /></center>
<center><em>Sơ đồ các hướng tấn công trận hải chiến Hoàng
Sa ngày 19-1-1974</em></center>

Sự xác lập chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa (cũng như với
Trường Sa) được minh chứng không chỉ bằng những tài liệu
do người nước ngoài ghi chép như sách Hải ngoại ký sự của
Thích Đại Sán viết năm 1696, hay của nhiều tác giả Tây
phương như Le Poivre(1749), J,Chaigneau (1816-1819), Taberd (1833),
Gutzlaff (1849)...; cũng như những di sản văn hoá vật thể và phi
vật thể liên quan đến hoạt động của các Đội Hoàng Sa xưa
ở cửa biển Sa kỳ và đảo Lý Sơn (Cù lao Ré), mà còn được
ghi lại trên nhiều thư tịch, trong đó có những văn bản mang
tính chất Nhà nước của Việt Nam.

Cho đến nay chúng ta vẫn có bằng chứng đầy đủ về chủ
quyền của nhà nước Đại Việt (gồm cả Đàng Ngoài của các
chúa Trịnh và Đàng Trong của các chúa Nguyễn đều tôn phò
nhà Lê) qua Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư trong Hồng Đức Bản
Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ Bản Đồ (của
Đỗ Bá Công soạn năm Chính Hoà thứ 7-1686) và sách Phủ Biên
Tạp Lục của bác học Lê Quý Đôn (1776)...

Tấm bản đồ trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ được vẽ theo
bút pháp đương thời với lời chú rất rõ ràng:

"<em>Giữa biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng
(Hoàng Sa) dài tới 400 dặm... Họ Nguyễn mỗi năm và cuối mùa
Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được
phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn...</em>"

Còn bản đồ vẽ trong Toản Tập An Nam Lộ thì ghi chú rất rõ
địa danh Bãi Cát Vàng trên biển khơi phía trước của những
địa danh trên đất liền như các cửa biển Đại Chiêm, Sa
Kỳ, Mỹ Á, phủ Quảng Nghĩa và các huyện Bình Sơn, Chương
Nghĩa, Mộ Hoa.

<div class="boxright300"><img
src="http://danluan.org/files/u1/biachuquyen.jpg" width="305" height="405"
alt="biachuquyen.jpg" /><div class="textholder">Bìa chủ quyền Hoàng Sa
ở Việt Nam được dựng vào những năm 1930. Ảnh: chụp tại
phòng lữu trữ tư liệu Hoàng Sa, Đà Nẵng</div></div>
Với sách Phủ Biên Tạp Lục của nhà bác học Lê Quý Đôn
(1776), Hoàng Sa còn được mô tả kỹ hơn. Năm 1775, Lê Quý Đôn
được Chúa Trịnh cử vào vùng đất Phú Xuân lãnh chức Hiệp
trấn để lo việc bình định hai trấn mới thu hồi được từ
Chúa Nguyễn là Thuận Hoá và Quảng Nam. Sách dành nhiều trang
để mô tả về các "Đội Hoàng Sa" và "Bắc Hải" của chúa
Nguyễn tổ chức cho dân vùng Tư Chính, Quảng Ngãi tổ chức
thường kỳ việc vượt biển đến Hoàng Sa để thu luợm các
sản vật đem về đất liền. Những tư liệu thu thập tại
địa phương xã An Vĩnh (Cù lao Ré) còn nói tới "Đội Quế
hương" cũng là một hình thức tổ chức do dân lập xin phép
nhà nước được ra khai thác ở Hoàng Sa.

Qua thời Nguyễn, kể từ đầu thế kỷ XIX, trong điều kiện
nước Việt Nam (dưới triều Gia Long) và Đại Nam (kể từ
triều Minh Mạng) đã chấm dứt tình trạng cát cứ và phân
tranh, thống nhất quốc gia thì việc quản lý lãnh thổ được
ghi chép đầy đủ và lưu trữ tốt hơn. Tấm bản đồ được
lập thời Minh Mạng Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ vẽ rất rõ
cả một dải lãnh thổ gồm những đảo trên biển Đông
được ghi chú là "Vạn lý Trường Sa" (tên gọi chung cả hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo quan niệm đương thời).

Hai bộ sách địa lý quan trọng của triều Nguyễn là phần Dư
Địa Chí trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (1821) và sách
Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833) đều đề cập tới Hoàng Sa trong
phần viết về phủ Tư Nghĩa và đều chép lại những nội dung
của các tài liệu trước, trong đó có hoạt động của các
"Đội Hoàng Sa".

Bộ chính sử Đại Nam Thực Lục do Quốc sử quán triều
Nguyễn biên soạn liên tục cho đến thập kỷ đầu của thế
kỷ XX đều nhiều lần ghi lại các sự kiện liên quan đến
Hoàng Sa và Trường Sa như một bộ phận của lãnh thổ quốc
gia. Ngay trong phần Tiền Biên chép về các tiên triều, bộ biên
niên sử này cũng nêu lại những sự kiện từ thời các Chúa
Nguyễn liên quan đến các quần đảo này.

Một thống kê cho thấy trên bộ sử này, trong phần chính biên
ghi chép cho đến thời điểm in khắc đã có 11 đoạn viết về
những sự kiện liên quan đến hai quần đảo này. Nội dung cụ
thể như là việc nhà nước điều cho thuỷ quân và Đội Hoàng
Sa ra đảo để "xem xét và đo đạc thuỷ trình" (quyển
50,52...đời Gia Long); cử người ra Hoàng Sa "dựng miếu, lập
bia, trồng cây", "vẽ bản đồ về hình thế", "cắm bài gỗ
dựng dấu mốc chủ quyền" (quyển số 104, 122, 154, 165 đời
Minh Mạng).

Ngoài ra còn các bộ sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự
Lệ(1851) cũng ghi rõ những công việc nhà nước Đại Nam đã
thực thi trên lãnh thổ Hoàng Sa. Và đặc biệt quý giá là
những châu bản của các vị vua triều Nguyễn (tức là có thủ
bút của nhà vua) có liên quan đến Hoàng Sa. Giá trị của
những văn bản gốc này là sự thể hiện quyền lực của
người đứng đầu quốc gia đối với vùng lãnh thổ này. Ví
như, phê vào phúc tấu của bộ Công ngày 12-2 năm Minh Mạng
thứ 17 (1836), nhà vua viết :"Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa
phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước (ta),
rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ "Năm Bính Thân Minh Mạng thứ
17, họ tên cai đội thuỷ quân phụng mệnh đi đo đạc, cắm
mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu"; hay các châu phê về việc
thưởng phạt người có công tội khi thực thi trách nhiệm ở
Hoàng Sa, đạc vẽ bản đồ v.v...

Mãi đến năm 1909, lần đầu tiên Trung Quốc mới đề cập
đến chủ quyền của mình đối với khu vực lãnh thổ này.
Điều đó cho thấy, trong suốt 3 thế kỷ trước đó (XVII-XIX),
các tài liệu thư tịch của Nhà nước Việt Nam kế thừa nhau
đã liên tục thể hiện chủ quyền lịch sử và thực tiễn
quản lý‎ đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa.

Đến cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20, Pháp với tư cách
bảo hộ Việt Nam đã tiến hành quản lý Hoàng Sa - Trường Sa.
Trong những lần tranh cãi giữa chính quyền bảo hộ Pháp và
Trung Quốc về vấn đề Hoàng Sa, Pháp đã 2 lần yêu cầu Trung
Quốc đưa vấn đề ra toà án quốc tế giải quyết, nhưng Trung
Quốc không đồng ý.

Chủ quyền của Việt Nam còn được các nước thừa nhận ở
một Hội nghị quốc tế quan trọng. Tháng 9/1951, tại Hội
nghị Sanfrancisco, với 46/51 phiếu, các nước đã bác bỏ đề
nghị trao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Cũng tại Hội
nghị này, đại diện chính quyền Việt Nam lúc đó đã tuyên
bố chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với 2
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không có nước nào phản
đối.

Chính phủ Sài Gòn, sau đó là cả Chính phủ Sài Gòn và Chính
phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, cũng
đều thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần
đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Dưới đây là một vài bằng chứng:

Năm 1956, lực lượng hải quân của Chính quyền Sài Gòn tiếp
quản các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi Pháp rút quân
về nước.

Năm 1956, Sở Hầm mỏ, kỹ nghệ và tiểu công nghiệp miền Nam
tổ chức một cuộc khảo sát với sự giúp đỡ của hải quân
của Chính quyền Sài Gòn trên 4 đảo: Hoàng Sa (Pattle), Quang
Ảnh (Money), Hữu Nhật (Robert), Duy Mộng (Drumond).

Ngày 22-10-1956, Chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Trường Sa
trực thuộc tỉnh Phước Tuy.

Ngày 13-7-1961, Chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Hoàng Sa,
trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, vào tỉnh Quảng Nam và thành
lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải,
trực thuộc quận Hoà Vang và đặt dưới quyền một phái viên
hành chính.

Từ 1961 đến 1963, chính quyền Sài Gòn lần lượt cho xây bia
chủ quyền ở các đảo chính của quần đảo Trường Sa như:
Trường Sa, An Bang, Song Tử Tây, v v...

Ngày 21-10-1969, Chính quyền Sài Gòn sáp nhập xã Định Hải vào
xã Hoà Long cũng thuộc quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam.

Tháng 7-1973, Viện Khảo cứu nông nghiệp thuộc Bộ Phát triển
nông nghiệp và điền địa Sài Gòn tiến hành khảo sát đảo
Nam Ai (Nam Yết) thuộc quần đảo Trường Sa.

Tháng 8-1973, với sự hợp tác của Công ty Nhật Maruben
Corporation, Bộ Kế hoạch và phát triển quốc gia Sài Gòn tiến
hành khảo sát phốt phát ở quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 6-9-1973, Chính quyền Sài Gòn sáp nhập các đảo Trường
Sa, An Bang, Itu Aba, Song Tử Đông, Song Tử Tây, Loại Ta, Thị
Tứ, Nam Ai, Sinh Tồn và các đảo phụ cận vào xã Phước Hải,
Quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

<h2>Trận hải chiến sinh tử tháng 1/1974</h2>

Có ý thức về chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối
với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, các chính
quyền miền Nam Việt Nam đều bảo vệ chủ quyền đó mỗi khi
có nước ngoài biểu thị ý đồ tranh giành hay xâm chiếm đảo
nào đó trong hai quần đảo.

Ngày 16-6-1956, Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn tuyên bố một
lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với
quần đảo Trường Sa. Đồng thời cũng trong năm này, Chính
quyền Sài Gòn đã kịch liệt phản đối việc Trung Quốc
chiếm nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Ngày 22-2-1959, Chính quyền Sài Gòn bắt giữ trong một thời gian
82 "ngư dân" Trung Quốc đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy
Mộng và Quang Hoa trong quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 20-4-1971, Chính quyền Sài Gòn khẳng định một lần nữa
quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Ngày 13-7-1971 Ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn khẳng định
một lần nữa chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo
đó trong cuộc họp báo ngày 10-7-1971.

Đỉnh điểm xung đột xảy ra vào tháng 1/1974, khi nhiều tàu
chiến của quân đội Trung Quốc tiến hành đánh chiếm cụm
đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 11-1-1974 khi Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố các quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa, đang được chính quyền Sài Gòn quản
lý, là một phần lãnh thổ của họ. Ngay sau tuyên bố nói
trên, hải quân Trung Quốc đã mở màn chiến dịch xâm chiếm
Hoàng Sa bằng cách tung nhiều chiến hạm và tàu đánh cá vũ
trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa.

Ngày 12-1-1974, ngoại trưởng Vương Văn Bắc của chính quyền
Sài Gòn đã cực lực bác bỏ luận điệu ngang ngược và lên
án hành động gây hấn của Trung Quốc

Ngày 16/1/1974, Chính quyền Sài Gòn đã ra tuyên bố với những
bằng chứng rõ ràng về pháp lý, địa lý, lịch sử của Việt
Nam đối với hai quần đảo. Đồng thời Bộ tư lệnh Hải
quân Sài Gòn đã đưa bốn chiến hạm ra vùng biển Hoàng Sa
để ngăn chặn các hoạt động vi phạm chủ quyền Việt Nam
đối với quần đảo Hoàng Sa của lực lượng vũ trang Trung
Quốc nhưng với thái độ ôn hoà, kiềm chế.

Ngày 18/01/1974, Trung Quốc tăng viện thêm quân, chiến hạm tới
quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 19/01/1974, Trung Quốc và Việt Nam Cộng hoà đã có trận
hải chiến ở khu vực đảo Quang Hoà.

Ông Lữ Công Bảy, người đã có mặt trong cuộc hải chiến
Hoàng Sa 35 năm trước trong vai trò là thượng sĩ giám lộ trên
chiến hạm HQ-4 hồi tưởng lại: "Đúng 8g30, phía Trung Quốc
nổ súng trước. Một loạt đạn đại liên và cối 82 bắn vào
đội hình người nhái Việt Nam làm hai binh sĩ tử thương và
hai bị thương. Nhưng chỉ huy phía Việt Nam không thể ra lệnh
cho các tàu nổ súng vì lực lượng người nhái đang ở vị
trí cực kỳ nguy hiểm.

Đúng 10g20, bốn chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-10, HQ-16 đồng loạt
khai hỏa. Như đã chuẩn bị trước, hạm trưởng Vũ Hữu San ra
lệnh "bắn". Chiến hạm di chuyển với tốc độ cực nhanh,
khói đen bốc lên ngùn ngụt, thân tàu rung lên bần bật vì
trúng đạn, vì tiếng dội của các khẩu đại bác vừa khai
hỏa.

Chiến hạm HQ-4 chạy uốn lượn như con rắn, hết sang phải
lại sang trái nên đã tránh được loạt đạn đại bác của
đối phương. Thế rồi các cột nước bùng lên, đạn rít xung
quanh tàu vèo vèo. Một mảnh đạn phạt lủng đài chỉ huy,
văng ra trúng chân trung úy Roa đang cố gắng theo dõi tàu Trung
Quốc qua màn hình rađa. Thượng sĩ nhất giám lộ Ry trúng mảnh
đạn nơi cánh tay trái. Hạ sĩ giám lộ Phấn, xạ thủ đại
liên 30 trên nóc đài chỉ huy, bị thương nơi ngực, máu thấm
đỏ cả áo. Tiếng la ơi ới của các anh em bị thương vọng
lên đài chỉ huy.

Trong bộ đàm tôi đã nghe tiếng bạn tôi, trung sĩ nhất giám
lộ Vương Thương, báo cáo: HQ-10 đã bị trúng đạn, hạm
trưởng Ngụy Văn Thà tử thương, hạm phó Thành Trí trọng
thương ngay bụng. Hầu hết sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ
trên đài chỉ huy đều bị tử thương và bị thương rất
nặng" (Trích Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau: 30 phút và 35
năm - Nguồn: Tuổi Trẻ).

Trận hải chiến chỉ diễn ra trong vòng 30 phút. 74 binh sỹ
Việt Nam Cộng hòa đã hi sinh.

Ngày 20/01/1974, Trung Quốc đã điều động thêm máy bay oanh tạc
các đảo VNCH đóng giữ. Tính đến thượng tuần tháng 02/1974,
Trung Quốc đã tạm chiếm quần đảo Hoàng SA và thiết lập
căn cứ quân sự tại đây.

<center><img src="http://danluan.org/files/u1/tancong.jpg" width="500"
height="325" alt="tancong.jpg" /></center>
<center><em>Tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc chặn đường tàu VN
trên đường ra Hoàng Sa. Ảnh tư liệu</em></center>

Ngay sau khi Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm toàn bộ các đảo
phía tây quần đảo Hoàng Sa do VN quản lý, ngày 19-1-1974 và
14-2-1974 chính quyền Sài Gòn đã ra tuyên cáo về việc Trung
Quốc "xâm lăng trắng trợn bằng quân sự" và tái khẳng
định về chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa.

Ngày 20-1-1974, ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn cũng đã gọi
điện và gửi thư cho chủ tịch Hội đồng Bảo an và tổng
thư ký Liên Hiệp Quốc đề nghị những biện pháp cần thiết
trước tình hình khẩn cấp về việc Trung Quốc dùng vũ lực
xâm chiếm Hoàng Sa.

Trong khi đó, ngày 26-1-1974, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng
hòa miền Nam VN cũng đã ra tuyên bố phản đối hành động xâm
chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc và công bố lập trường
"<em>về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ</em>" của VN.

Hành động dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của
Trung Quốc đã vi phạm Điều 2 của Hiến chương LHQ. Trước
các hành động đó, các nước như Liên Xô, Hà Lan, New Zealand,
Indonesia..., các tổ chức quốc tế như Tổng Liên đoàn Lao
động thế giới, các lực lượng thanh niên Italia, Hội đồng
công dân Australia, Viện Nghiên cứu xã hội Australia, Ủy ban
Đại học Australia bảo vệ Đông Dương,... đã lên tiếng phản
đối hành động xâm lược lãnh thổ bằng vũ lực của Trung
Quốc. Đồng thời, cũng trong năm 1974, HĐBA LHQ đã thông qua
Nghị quyết 3314 định nghĩa về hành vi xâm lược bằng vũ
lực.

Sau ngày miền Nam giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời
Cộng hòa miền Nam VN đã nhiều lần tuyên bố khẳng định
Hoàng Sa là của VN. Và ngày 5-6-1976, người phát ngôn Bộ Ngoại
giao Cộng hòa miền Nam VN đã lên tiếng bác bỏ những thông tin
xuyên tạc về Hoàng Sa - Trường Sa và khẳng định hai quần
đảo này là thuộc chủ quyền VN, từ trước đến nay đều do
người VN quản lý.

Vậy đã rõ sự thật lịch sử về sự kiện Hoàng Sa 19/01/1974.
Lịch sử vốn không thể che đậy, càng không thể tô vẽ hay
xuyên tạc. Sử liệu còn đó, nhân chứng vẫn còn đó.

Trong khi lãnh đạo hai Đảng, hai nước luôn nhấn mạnh phương
châm mười sáu chữ vàng và "bốn tốt" trong quan hệ Việt -
Trung, những bài viết như trên đáng phải phê phán bởi nó sẽ
làm vẩn đục tình hữu nghị, hợp tác mà lãnh đạo và nhân
dân hai nước đang nỗ lực xây dựng.


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/7908), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét