Trần Ðỗ Cẩm - Trận Hải chiến Hoàng Sa theo Tài liệu Trung Quốc

Kính tặng thủy thủ đoàn các chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-10, HQ-16
Hải quân VNCH đã anh dũng tác xạ vào tàu địch trong trận
hải chiến lịch sử lẫy lừng nhất của quân sử Hải quân
VNCH...

<h2>MỞ ÐẦU</h2>

Trận hải chiến giữa Hải quân VNCH và Hải quân Trung Quốc
tại quần đảo Hoàng Sa xảy ra vào ngày 19/1/1974, tình đến nay
đã hơn 35 năm. Ngay sau đó, phát ngôn viên quân sự VNCH đã
công bố một số chi tiết liên quan tới trận hải chiến. Báo
chí tại miền Nam Việt Nam cũng viết nhiều bài tường thuật
dựa theo nguồn tin chính thức. Riêng Bộ Tư Lệnh (BTL) Hải
quân VNCH đã dành riêng một số báo Lướt Sóng viết về biến
cố quan trọng này.

Gần đây tại hải ngoại, một số các nhân chứng trực
tiếp tham dự cũng đã viết nhiều bài khá trung thực và giá
trị. Tuy nhiên đa số những bài viết kể trên đều căn cứ
vào tài liệu và quan điểm của VNCH. Vì cần phù hợp với
tình hình chính trị và đường lối uyển chuyển trên lãnh
vực ngoại giao vào thời điểm 1974, một số chi tiết quan
trọng đã không được tiết lộ chính xác. Điển hình, phát
ngôn viên quân sự VNCH trong một cuộc họp báo chính thức cho
biết các chiến hạm Trung Quốc đã nổ súng trước nên phía
Hải quân VNCH phải bắn trả để tự vệ.

Thật ra, nhiều nhân chứng có mặt tại chỗ đã xác nhận trong
những bài viết sau này, chính các chiến hạm VNCH đã nổ súng
trước để đánh đuổi bọn xâm lăng. "Giặc đến nhà thì
phải đánh," hành động đầy chính nghĩa, hợp lý và hợp
pháp này nếu chưa thích hợp để công bố vào năm 1974, thì
bây giờ rất cần làm sáng tỏ để chứng minh người Việt
Nam, nhất là HQVNCH dù phải đối đầu với quân xâm lược
mạnh hơn gấp bội, vẫn không ngần ngại nổ súng để bảo
vệ bờ cõi.

Tuy nhiên, dù đã có nhiều bài viết về trận hải chiến Hoàng
Sa, thiết tưởng việc tường thuật trung thực vẫn không thể
đầy đủ nếu thiếu phần tài liệu của "phía bên kia"
tức là Trung Quốc. Vào thời điểm 1974, vì có sự cách biệt
quá lớn về ý thức hệ giữa hai khối Tự do và Cộng sản
nên những tin tức trao đổi giữa đôi bên rất giới hạn.
Hầu như những tin tức từ phía cộng sản đều bị chế độ
độc tài cố tình ngăn chận bởi bức "màn sắt," nên khó
lọt ra ngoài. Thảng hoặc, nếu có chi tiết nào cố tình
được "Đảng và Nhà Nước" công bố thì cũng chỉ thuộc
loại tuyên truyền quá lố như "dân quân Trung Quốc bò tới
gần các chiến hạm VNCH ném lựu đạn vào lỗ châu mai," vì
vậy chẳng có một giá trị nào trong việc truy nhận sự thật.

Rất may mắn, trong vòng mấy năm gần đây, cao trào Tự do Dân
chủ đã khiến các nước khối XHCN tan rã như Liên Xô và các
quốc gia Đông Âu. Trung Quốc và Việt Nam cũng bắt buộc phải
"đổi mới" để sống còn. Người dân Trung Hoa nhờ thế,
đỡ bị "bịt mồm, bóp miệng," có thể nói lên phần nào
sự thật.

Lại nữa, phương tiện truyền thông qua mạng Internet đã khiến
việc trao đổi tin tức trở nên dễ dàng hơn. Vả lại, trận
hải chiến Hoàng Sa xảy ra đã khá lâu, khía cạnh tuyên truyền
không còn được đặt nặng bằng nhu cầu tìm hiểu sự thật.
Vì vậy trong khoảng thời gian gần đây, chúng tôi đã may mắn
tìm được một số các tài liệu của Trung Quốc liên quan tới
trận hải chiến do chính những nhân chứng tham dự thuật lại.
Nhìn chung, tuy vẫn còn nặng mang hơi hướm "Mao Chủ tịch,"
nhưng nếu gạn bỏ khía cạnh tuyên truyền như đề cao dân
quân quá đáng, che dấu thiệt hại, dành phần thắng về mình
v.v. chúng ta vẫn có thể tìm được một số chi tiết khá giá
trị. Khi tổng hợp những chi tiết này với những tài liệu
đã được công bố từ trước, chúng ta có thể nhìn được
khá gần sự thật.

Do đó, mục tiêu của bài này không phải tường thuật lại
những chi tiết liên quan tới trận hải chiến Hoàng Sa là
điều các tác giả khác đã viết khá chi tiết và đầy đủ.
Chúng tôi chỉ muốn bổ túc một số chi tiết về trận hải
chiến Hoàng Sa dựa theo các tài liệu của Trung Quốc mới sưu
tầm được để tìm hiểu một số quyết định quan trọng
của họ liên quan tới trận hải chiến như: kế hoạch lấn
chiếm Hoàng Sa, các chiến hạm tham chiến, diễn tiến trận
hải chiến, hệ thống chỉ đạo, chiến lược chiến thuật,
trường hợp hy sinh bi hùng của Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo. Ngoài
ra chúng ta cũng có thể suy đoán được khá chính xác về
những thiệt hại của phía Trung Quốc.

Ðể dễ theo dõi và tránh ngộ nhận "tuyên truyền cho
địch," tưởng cũng cần nhấn mạnh đa số những điểm
chính nêu lên trong bài này đều là những ghi nhận và quan
điểm căn cứ vào tài liệu và nhãn quan của Trung Quốc, do đó
có những đoạn trích dẫn có thể gây xúc động cho những
người "nhạy cảm." Phụ thêm vào đó là một số nhận
định riêng của người viết, không nhất thiết phản ảnh quan
điểm của HQVNCH.

Khi đề cập tới những chiến hạm VNCH, phía Trung Quốc
thường dùng tên hiệu như Tuần Dương Hạm (TDH) Lý Thường
Kiệt, Khu Trục Hạm (KTH) Trần Khánh Dư v.v. trong khi các bài
viết của chúng ta lại hay sử dụng chỉ số như HQ-16, HQ-4 thay
vì tên hiệu như họ. Ðây là sự khác biệt khá quan trọng. Vì
bài viết này căn cứ vào tài liệu Trung Quốc nên chúng tôi
cũng sử dụng tên hiệu của các chiến hạm VNCH để phần
tường thuật được rõ ràng và nhất quán.

<h2>KẾ HOẠCH LẤN CHIẾM HOÀNG SA CỦA TRUNG QUỐC</h2>

Sau khi cưỡng chiếm nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite Group) vào ngày
21/12/1956, đến năm 1974, dùng chính sách ngoại giao "bóng
bàn" bang giao được Hoa Kỳ, Trung Quốc đã chuẩn bị khá kỹ
càng kế hoạch bành trướng tại Biển Đông. Ngoài tầm quan
trọng về mặt quân sự, với dân số quá đông trên 1 tỷ
người, Trung Quốc cần tận dụng các tài nguyên về ngư sản
và khoáng sản tại vùng biển chưa được khai thác này để
sống còn. Người Mỹ lúc đó đã rút quân khỏi Việt Nam và
cũng đã có kế hoạch triệt thoái khỏi toàn vùng Đông Nam Á
bằng cách đóng cửa các cơ sở quân sự quan trọng tại Phi
Luật Tân như căn cứ Không Quân Clark Air Base, căn cứ Hải Quân
Subic Bay.

Lo ngại rằng sự vắng mặt của mình sẽ tạo cơ hội tốt cho
Nga bành trướng nên Hoa Kỳ cũng muốn có một lực lượng
tương đối mạnh khả dĩ có thể thay thế họ ngăn chận và
cầm chân lực lượng đối thủ chiến tranh lạnh hàng đầu.
Trung Quốc đang có tham vọng bành trướng tại Biển Đông, còn
Hoa Kỳ muốn ngăn chận ảnh hưởng của Nga tại vùng này nên
chúng ta không ngạc nhiên khi "kẻ cắp bà già" bắt tay nhau,
Hoa Kỳ đã ngầm thỏa thuận để Trung Quốc ngang nhiên lấn
chiếm quần đảo Hoàng Sa của VNCH và sau này tiến xa hơn tới
tận Trường Sa, cách lãnh thổ Trung Quốc cả ngàn cây số.

Để mở đầu kế hoạch lấn chiếm, trên mặt ngoại giao, Bộ
Ngoại giao Trung Quốc đột nhiên lên tiếng đòi chủ quyền
tại Hoàng Sa, đồng thời lén lút cho ngư thuyền vũ trang chở
quân lính giả dạng dân đánh cá đổ bộ lên một số đảo do
VNCH kiểm soát từ lâu trong vùng Hoàng Sa. Dự đoán thế nào
phía VNCH cũng phản ứng mạnh mẽ, chính phủ Trung Quốc từ
các giới chức cao cấp nhất như Chủ tịch Mao Trạch Đông
đến Đặng Tiểu Bình, Châu Ân Lai và toàn bộ Quân ủy Trung
ương đã đồng thanh quyết định sẽ dùng biện pháp quân sự
để đánh chiếm Hoàng Sa từ tay VNCH nếu cần.

Khởi đầu, họ đổ quân lên các đảo, đồng thời cho tàu bè
và chiến hạm khiêu khích lực lượng VNCH. Nếu các chiến hạm
VNCH lặng lẽ cúi đầu bỏ đi như lời một viên tướng Hoa
Kỳ tại Việt Nam đe dọa "nếu các chiến hạm Việt Nam nổ
súng tại Hoàng Sa, HQVNCH sẽ bị xoá tên ngay," Trung Quốc sẽ
ngang nhiên chiếm Hoàng Sa theo chiến thuật tiệm tiến "tầm
ăn dâu" lấy từng đảo một như họ làm tại Trường Sa sau
này. Ngược lại, nếu VNCH tham chiến, dù các Hải Quân VNCH có
chiến thắng đánh chìm tất cả các chiến hạm Trung Quốc tại
chỗ nhưng vẫn không thể giữ được Hoàng Sa vì lực lượng
tăng viện Trung Quốc gồm nhiều chiến hạm tối tân và có cả
phi cơ tham chiến sẽ kéo tới đánh chìm các chiến hạm VNCH
dễ dàng. Vì vậy, khi TDH Lý Thường Kiệt được phái ra Hoàng
Sa vào ngày 15/1/1974 để thám sát, chính phủ Trung Quốc liền
lập tức sử dụng phương tiện quân sự. Tài liệu Trung Quốc
tóm lược kế hoạch lấn chiếm này như sau:

Lo ngại VNCH khiêu khích để chiếm Hoàng Sa, quân trên đảo báo
cáo về Trung uơng và lập tức được trình lên thượng cấp.
Các đồng chí Zhou Enlai và Phó Chủ tịch nhà nước Ye Jianying
đệ trình một kế hoạch phản công bằng quân sự và được
chủ tịch Mao Zedong mau chóng chấp thuận. Kế hoạch này bao
gồm việc tăng cường chiến hạm tuần tiễu và dùng biện
pháp quân sự để giữ đảo. Đồng chí Đặng Tiểu Bình cùng
giới lãnh đạo quân sự thảo kế hoạch đánh chiến hạm
địch, tái chiếm các đảo bị VNCH xâm lấn, đồng thời kiểm
soát hoàn toàn vùng Hoàng Sa.

Như vậy, chúng ta thấy rõ sách lược bành trướng tại Biển
Đông đã được Trung Quốc chuẩn bị kỹ càng, khởi đầu
bằng việc gây hấn tiến chiếm Hoàng Sa. Đây là một quốc
sách quan trọng đã được hoạch định từ lâu nên trận hải
chiến tại Hoàng Sa đã được cố ý dự trù, tiên liệu,
chuẩn bị và thiết kế chu đáo. Về phía VNCH, trong lúc phải
đối đầu trong trận chiến một mất một còn với VC trong
nội địa, việc tham chiến tại Hoàng Sa chỉ là một sự tình
cờ, cũng như TDH Lý Thường Kiệt HQ-16 ra Hoàng Sa với nhiệm
vụ chính chở phái đoàn Công Binh thám sát thiết lập phi
trường, tình cờ phát hiện ngư thuyền và quân Trung Quốc trong
vùng. Sau đó, VNCH mới hối hả phái các chiến hạm khác ra
tăng cường.

Đến đây tưởng cũng nên ghi nhận một điểm son về Tổng
thống Nguyễn Văn Thiệu lúc đó đã đích thân thăm viếng Bộ
Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải để duyệt xét tình hình
và ra lệnh bằng thủ bút cho phép Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ
Thoại, Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải (TL/HQ/V1DH), được
toàn quyền hành động, kể cả việc sử dụng vũ lực để
bảo vệ Hoàng Sa. Phó Ðề Ðốc Thoại đôi lúc cũng cảm thấy
đơn độc, đã thi hành đúng đắn chỉ thị của thượng cấp
khi ra lệnh "Khai Hỏa." Trong lúc chiến trường quốc nội gay
go sôi động, ngoài biển Trung Quốc đe dọa lấn chiếm Hoàng
Sa. Hành động "quyết chiến" đối đầu với kẻ thù
truyền kiếp để bảo vệ lãnh thổ của vị nguyên thủ VNCH
phải được coi là quyết định lịch sử, có thể đem so sánh
với thời "Hội Nghị Diên Hồng." Sau đó, viên Tư Lệnh
Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải và các chiến sĩ HQVNCH nhất nhất
tuân hành quân lệnh do vị Tổng Tư Lệnh ban hành, chiến đấu
rất anh dũng tại Hoàng Sa theo đúng truyền thống chống ngoại
xâm của tiền nhân Việt tộc.

<h2>CÁC CHIẾN HẠM THAM CHIẾN</h2>

Khi các chiến hạm VNCH được phái tới Hoàng Sa, phía Trung
Quốc cũng tăng cường lực lượng hải quân của họ. Lúc
đầu chỉ có 2 ngư thuyền võ trang 402 và 407, sau đó thêm
nhiều chiến hạm nhập vùng. Về tổng số chiến hạm tham
chiến, tài liệu của Trung Quốc ghi rất rõ ràng. Họ cho biết
như sau:

Ngày 17/1, Quân ủy Trung ương ra lệnh Hạm Đội Nam Hải lập
tức phái chiến hạm tuần tiễu tại Hoàng Sa, đồng thời ra
lệnh Quân Khu Hải Nam gửi quân lính theo tàu ra giữ đảo. Theo
lệnh Quân ủy Trung ương, Quân Khu Quảng Châu ra lệnh Hạm Đôi
Nam Hải phái hai Trục Lôi Hạm 396 và 389 (ghi chú của tác giả:
tạm gọi tắt là T-396 và T-389) thuộc Phân Đội Trục Lôi 10
căn cứ tại Quảng Châu và hai Hộ Tống Hạm loại Kronstadt 271
và 274 (ghi chú của tác giả: tạm gọi tắt là K-271 và K-274)
thuộc Phân Đội chống Tiềm Thủy Đĩnh (TTÐ) 73 căn cứ tại
Yulin, lên đường ra Hoàng Sa vào các ngày 17 và 18 để tuần
tiễu. Ngoài ra, Quân Khu Hải Nam còn phái 4 đại đội Bộ Binh
để chiếm đóng các đảo Vĩnh Lạc, Cam Tuyền và Quang Hòa.
Thêm vào đó, Căn Cứ Hải Quân Quảng Châu còn phái 2 Tuần
Duyên Hạm 281 và 282 thuộc Phân Đội Chống TTĐ 74 tới Hoàng Sa
sau đó làm lực thành phần tiếp ứng.

Toàn thể lực lượng được đặt dưới quyền chỉ huy của
Tư Lệnh Phó Hạm Đội Nam hải tên Wie Ming Sen lúc đó có mặt
tại căn Cứ Hải Quân Yulin nằm vế phía Nam đảo Hải Nam. Bộ
Tư Lệnh Hành Quân được đặt trên soái hạm K-271 thuộc Phân
Đội 73. Về không yểm, quân khu Quảng Châu ra lệnh Phi Đoàn 22
thuộc Hạm Đội Nam Hải cử 2 phi cơ túc trực bao vùng, đồng
thời yêu cầu Không Quân thuộc Quảng Châu sẵn sàng yểm trợ.
Nếu nhìn vào lực lượng Hải, Không và Lục quân được phái
ra Hoàng Sa, mọi người đều thấy chúng ta chỉ đưa ra một
lực lượng quân sự rất hạn chế với mục đích bảo vệ
Hoàng Sa chứ không phải tiêu diệt hạm đội địch.

Khi phân đội K-271 và K-274 trên chở một trung đội Bộ Binh
tới vùng Hoàng Sa cũng là lúc hai KTH Trần Khánh Dư và TDH Lý
Thường Kiệt của VNCH đang săn đuổi và đe dọa các ngư
thuyền 402 (Nam Ngư 1) và 407 (Nam Ngư 2) của Trung Quốc. Các
chiến hạm Trung Quốc lập tức phản ứng bằng cách gửi tín
hiệu yêu cầu chiến hạm VNCH rời vùng. Tối 17/1, TDH Trần
Bình Trọng (HQ-5) và HTH Nhựt Tảo (HQ-10) rời quân cảng Đà
Nẵng và tới Hoàng Sa vào buổi chiều ngày 18/1. Phía Trung Quốc
dùng chiến thuật "khiêu khích," cho các ngư thuyền bám sát
chiến hạm VNCH để cản đường. Về những vận chuyển cắt
đường và những hành động khiêu khích trên biển, tài liệu
Trung Quốc tường thuật như sau:

Sáng ngày 18/1, sau khi tuần tiễu vùng Hoàng Sa, các chiến hạm
VNCH một lần nữa lại có những hành động thù nghịch, tiến
gần ngư thuyền 407 và dùng loa phóng thanh đuổi ngư thuyền này
ra khỏi vùng. Tuy phải đối diện với tàu lớn và đại pháo,
thuyền trưởng ngư thuyền 422 vẫn không sợ hãi trả lời:
"Đây là lãnh hải Trung Quốc, các anh phải rời xa ngay."
Phía VNCH có một sĩ quan đe dọa: "Nếu các anh không lập tức
rời vùng sẽ bị đánh chìm." Khi thấy ngư thuyền 407 vẫn
không bỏ đi, chiến hạm Trần Khánh Dư trở nên giận dữ,
dùng hết tốc lực đụng vào khiến phòng lái ngư thuyền 407
bị thủng một lỗ lớn. Lúc này toán chiến hạm K-271 cũng
nhập vùng, lại gửi tín hiệu yêu cầu các chiến hạm VNCH
rời khỏi vùng biển Hoàng Sa. Tới đêm 18/1, tình hình rất
căng thẳng, đôi bên canh chừng lẫn nhau nhưng không có đụng
độ.

Phía Trung Quốc đã tả lại khá rõ ràng biến cố KTH Trần
Khánh Dư cố ý đụng vào ngư thuyền 407 khiến đài chỉ huy
bị phá hủy, phòng lái bị thủng một lỗ lớn, nhưng chi tiết
"dùng hết tốc lực" có vẻ hơi quá đáng. Theo Hải Quân
Trung tá Vũ Hữu San, Hạm Trưởng KTH Trần Khánh Dư, cho biết
lúc đó, tình hình rất căng thẳng, các ngư thuyền Trung Quốc
cố ý vận chuyển chận đường các chiến hạm VNCH, ngăn cản
không cho lại gần hải đảo để bảo vệ quân Trung Quốc trên
đó. Thoạt đầu HQ-4 đã dùng mọi biện pháp "hòa bình"
đúng theo luật đi biển yêu cầu họ rời khỏi lãnh hải VNCH
nhưng các ngư thuyền này vẫn không bỏ đi.

Muốn tìm hiểu thêm về quyết định cố ý "đụng tàu" có
tính toán này, chúng ta cần biết rõ nhiệm vụ của Hạm
Trưởng HQ-4 lúc bấy giờ. Theo đúng lệnh hành quân, cho tới
ngày 18 /1, Hạm Trưởng HQ-4 vẫn còn kiêm nhiệm chức vụ Chỉ
huy Trưởng Hành Quân bảo vệ quần đảo Hoàng Sa. Để chu toàn
trọng trách, chiến hạm VNCH phải đổ quân để lấy lại các
đảo đã bị quân Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp. Vì
tàu Trung Quốc đang tuần tiễu quanh các đảo có thể liều
lĩnh đụng chìm hay bắn vào các xuồng đổ bộ nên trước
hết phải tìm cách cô lập hóa lực lượng yểm trợ này để
bảo đảm an toàn cho toán đổ bộ. Thượng cấp lại đã ra
lệnh "chiếm lại các đảo bằng biện pháp hòa bình"
trước khi sử dụng vũ lực. Do đó Hạm Trưởng HQ-4 chỉ có
thể biểu lộ quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ bằng cách ủi
vào ngư thuyền Trung Quốc như một hành động cảnh cáo có
tính toán buộc chúng phải rời vùng, trong lúc hải pháo sẵn
sàng yểm trợ cho toán đổ quân nếu Trung Quốc nổ súng
trước.

Vì vậy, Hạm Trưởng San mới ra lệnh dùng mũi tàu "ủi
nhẹ" vào ngư thuyền 407 thấp hơn để cảnh cáo và cũng
tượng trưng việc "đẩy" ngư thuyền Trung Quốc ra khỏi
hải phận VNCH. Nếu bị KTH Trần Khánh Dư cao lớn "dùng hết
tốc lực" đụng vào, chắc ngư thuyền 407 đã về với hà
bá, đâu còn cơ hội để kể lại chuyện này. Theo lời các
thủy thủ trên các chiến hạm Việt Nam, các thủy thủ trên
tàu Trung Quốc đều có những cử chỉ khiêu khích thô tục,
chửi bới khiến nhân viên Việt Nam rất tức giận, nhưng vì
tuân lệnh "chạm trán hòa bình" nên buộc phải tự chế.
Việc KTH Trần Khánh Dư đụng vào ngư thuyền 407 đã khiến các
thủy thủ Việt Nam "lên tinh thần," hăng hái như đã trả
được thù.

Về biến cố "đụng tàu" này, tác giả Ðào Dân hiện diện
trên TDH Lý Thường Kiệt được chứng kiến tận mắt, thuật
lại như sau:

Bốn chiếc tàu, 2 lớn ở ngoài, 2 nhỏ ở giữa vẫn
thả trôi bình yên để mặc cho con người đấu khẩu. Có lẽ
không còn kiên nhẫn được nữa, HQ-4 nổ máy đâm thẳng ngang
hông tàu địch, đẩy nó ra khơi. vì vận tốc chậm, có lẽ
khoảng 2 máy tiến 1, nên không có thiệt hại nào cho bên
địch, nếu có, có lẽ bát đũa nồi nêu cơm nước bị đổ
bể tùm lum trong phòng ăn và nhà bếp. Trước thái độ quyết
liệt của HQ-4, tàu Trung Quốc đành nhượng bộ, mở máy, từ
từ tăng tốc độ chạy về phía Nam của 2 đảo Duy Mộng và
Quang Hòa, để lại chiến trường một vùng nước bọt trắng
xóa. Chúng tôi toàn thắng mà không tốn một viên đạn (chỉ
tốn một cái húc của Trung tá Vũ Hữu San). Ðến đây người
viết cần phải ngừng lại một chút vừa để hoan nghênh Hạm
Trưởng San.

Riêng đối với Hạm trưởng San, chuyện đụng tàu trên
biển này chắc cũng đã gây ra không ít suy tư, vì theo công
pháp quốc tế, chiến hạm hay thương thuyền của một quốc gia
được coi như lãnh thổ của quốc gia đó. Như trước đây, Hoa
Kỳ đã buộc Nhật Bản ký văn bản đầu hàng vô điều kiện
chấm dứt Thế chiến II tại Thái Bình Dương trên Thiết Giáp
Hạm Missouri bỏ neo trong vịnh Tokyo, một hành động tượng
trưng coi như Nhật Bản đã phải ký hòa ước trên đất Hoa
Kỳ. Làm Hạm trưởng, việc để chiến hạm mắc cạn hay
đụng vào tàu khác là điều tối kỵ thường đưa tới việc
mất chức. Hạm trưởng San đã cố ý đụng tàu Trung Quốc,
chẳng khác nào tự ý "xâm lăng" Trung Quốc có thể đưa
tới những hậu quả nghiêm trọng. Trong trường hợp có đối
thoại hay dàn xếp thương thuyết Việt-Hoa, Ông rất có thể
trở thành "vật hy sinh" và bị cả hai quốc gia kết tội là
kẻ gây nên chiến tranh. Thiết tưởng đây là một hành động
can đảm tuy tự chế, chẳng khác danh tướng Trần Quốc Toản
đời Trần đã vì tức giận giặc Tàu xâm lăng đã bóp nát
quả cam trong tay lúc nào không biết!

Một chi tiết khác khá quan trọng là Trung Quốc cũng gửi 2
tiềm thủy đĩnh tham dự chiến dịch Hoàng Sa, nhưng sau khi
trận chiến đã kết thúc. Tác giả Lu Qi Minh trong bài viết nhan
đề Tiềm Thủy Ðĩnh Trung Quốc Ðầu Tiên Tham Dự Chiến Dịch
cho biết như sau:

Vì lo ngại Hoa Kỳ và VNCH không chịu rút lui dù đã bị thất
bại, nên Hạm Ðội Trung Quốc vẫn phải gửi chiến hạm tăng
cường lực lượng tại Hoàng Sa. Lúc đó trời bão, biển
động mạnh nên các chiến hạm không rời bến được, do đó
hai tiềm thủy đĩnh được lệnh công tác tại Hoàng Sa. Ðây
là lần đầu tiên tiềm thủy đĩnh dược dùng vào công tác
chiến đấu nên phải có sự chấp thuận đặc biệt của chủ
tịch Mao Trạch Ðông. Hai tiềm thủy đĩnh dùng trong công tác
mang số hiệu 282 và 289.

Tóm lại về lực lượng tham chiến, phía Trung Quốc có 2 ngư
thuyền vũ trang mang số 402 và 407, hai trục lôi hạm mang số 389
và 396, hai chiếc Kronstadt mang số 271 và 274 và hai Tuần Duyên
Hạm 281 và 282 tăng viện. Trong số này, chỉ có 4 chiến hạm
T-389, T-396, K-271 và K-274 trực tiếp tham chiến. Còn hai Tuần
Duyên Hạm 281 và 282 tới Hoàng Sa vào hồi 11 giờ 49 ngày 19/1,
lúc đó trận hải chiến đã kết thúc (vào hồi 11 giờ). Chính
hai chiến hạm mới đến này đã bắn chìm HTH Nhựt Tảo. Hai
tiềm thủy đĩnh mang số 282 và 289 cũng tới Hoàng Sa sau đó
để tăng cường tuần tiễu và đề phòng lực lượng VNCH trở
lại tái chiếm quần đảo.

<h2>TRẬN HẢI CHIẾN</h2>

Tài liệu Trung Quốc nói về trận hải chiến được tóm lược
như sau:
Rạng sáng ngày 19/1/1974, các chiến hạm VNCH chia thành hai phân
đội. TDH Lý Thường Kiệt và HTH Nhựt Tảo hoạt động trong
vùng lòng chảo, từ phía Bắc gần đảo Hoàng Sa tiến về
hướng Nam gần đảo Quang Hòa. Trong khi đó, KTH Trần Khánh Dư
và TDH Trần Bình Trọng bọc từ phía ngoài biển cũng tiến về
đảo Quang Hòa từ hướng Tây Nam. Nếu nhìn vào tầm cỡ và
trọng tấn, phía VNCH gồm 3 chiến hạm lớn, trọng tấn khoảng
1,770 tấn mỗi chiếc và một chiến hạm nhỏ trọng tấn
khoảng 650 tấn, như vậy tổng cộng trọng tấn phía VNCH
khoảng 6,000 tấn, trong khi phía Trung Quốc có hai chiến hạm
loại Kronstadt trọng tấn 570 tấn và hai trục lôi hạm (TLH)
loại T-43 trọng tấn 300 tấn, tổng cộng khoảng 1,760 tấn. Về
vũ khí, phía Trung Quốc cỡ súng lớn nhất là 85 ly đôi trong
khi VNCH có súng cỡ 127 ly. Như vậy về hỏa lực, phía VNCH cũng
trội trội hơn. Các chiến hạm VNCH với hải pháo lớn chiếm
vị trí bên ngoài lợi thế hơn, trong khi các chiến hạm Trung
Quốc ở phía trong gần các đảo.

Trước ý đồ gây hấn của VNCH, theo chỉ thị của Quân ủy
Trung ương, Quân Khu Quảng Châu đã đặt các đơn vị trực
thuộc trong tình trạng báo động khẩn cấp, đồng thời ra
lệnh cho các chiến hạm tại Hoàng Sa sẵn sàng đối phó nếu
bị tấn công. Các chiến hạm Trung Quốc được lệnh phối trí
tại vùng đảo Quang Hòa để bám sát các chiến hạm VNCH.
Trước các họng đại pháo của chiến hạm VNCH, các chiến
hạm Trung Quốc tuy nhỏ hơn nhưng không hề nao núng.

Hai TLH T-396 và T-389 có nhiệm vụ bám sát TDH Lý Thường Kiệt.
Mặc dù nhỏ hơn với trọng tấn chỉ bằng một phần tư, T-396
vẫn không giảm tốc độ khi cản đường. TDH Lý Thường Kiệt
ỷ vào súng lớn và vỏ tàu dầy hơn, chẳng những không đổi
hướng mà còn dùng mũi đụng vào T-389 khiến sườn tàu và
pháo tháp bị hư hại, sau đó còn cắt ngang đội hình Trung
Quốc. Các chiến hạm VNCH còn tiến về phía đảo Quang Hòa
thả xuống 4 xuồng cao su trên chở khoảng 40 quân VNCH để đổ
bộ. Tuy lần đầu tiên đụng độ, nhưng dân quân Trung Quốc
vẫn nổ súng khiến VNCH bị chết 1, bị thương 3 khiến toán
đổ bộ VNCH phải rút lui. Khi thấy cuộc đổ bộ bị thất
bại, phía VNCH đổi chiến thuật, lợi dụng ưu thế về hỏa
lực và vị trí thuận lợi để tấn công các chiến hạm Trung
Quốc.

Trước hỏa lực hùng hậu của phía VNCH, các chiến hạm Trung
Quốc lần lượt bị trúng đạn. Phía Trung Quốc lập tức
phản công. Các HTH K-271 và K-274 tấn công các KTH Trần Khánh Dư
và TDH Trần Bình Trong của VNCH, trong khi các TLH T-396 và T-389
đối đầu TDH Lý Thường Kiệt và HTH Nhựt Tảo. Các chiến
hạm VNCH khai triển đội hình cố giữ khoảng cách lớn hơn
hầu tận dụng hải pháo tầm xa, nhưng các chiến hạm Trung
Quốc có vận tốc cao hơn nên khoảng cách đôi bên mỗi lúc
càng giảm, có lúc gần như sát vào nhau. Vì vậy, các chiến
hạm Trung Quốc tuy cỡ súng nhỏ, nhưng có nhịp bắn cao hơn
nên chiếm được lợi thế. Sau mười ba phút giao tranh, hàng
ngũ chiến hạm VNCH đâm ra rối loạn.

Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư là soái hạm của Hải Đội VNCH
nên bị hai HTH K-271 và K-274 dồn nỗ lực vây đánh. Mặc dầu
KTH Trần Khánh Dư đã tận dụng hỏa lực dữ dội để mong
làm chủ chiến trường, nhưng vẫn bị yếu thế vì hỏa lực
Trung Quốc tập trung vào các giàn hải pháo chính và bị trúng
đạn hư hại nhiều nơi khác, khói đen tỏa ra nhiều nơi, vì
vậy phải rời vòng chiến. K-274 không bỏ lỡ cơ hội, theo sát
KHT Trần Khánh Dư. Thấy vậy TDH Trần Bình Trọng vội chận
đánh K-274 ngay bên ngang hông để cứu nguy cho Soái Hạm.

Bị hỏa lực của hai chiến hạm VNCH tấn công cả hai phía
trước và sau, K-274 bị trúng đạn nhiều nơi, tay lái bị bất
khiển dụng phải dùng hệ thống lái tay, nhưng vẫn chạy hết
tốc lực, cuối cùng chiếm lại được thế thượng phong. Tuy
được lợi thế trong lúc cận chiến, nhưng cũng dễ bị trúng
đạn đại pháo của các chiến hạm VNCH. K-274 bị một viên
đạn bắn trúng đài chỉ huy khiến nhiều người chết và bị
thương nên hệ thống truyền tin bị rối loạn nên phải dùng
thủ lệnh. Tuy vậy, chiến hạm vẫn phản công khiến KTH Trần
Khánh Dư bị trúng đạn tại nhiều chỗ, hiệu kỳ bị bắn
đứt bay xuống biển.

Xa hơn về phía Bắc, các TLH T-396 và T-389 nghênh cản TDH Lý
Thường Kiệt và HTH Nhựt Tảo. Lúc đầu, chiến hạm Trung
Quốc tập trung hỏa lực vào mục tiêu lớn hơn là TDH Lý
Thường Kiệt, nhưng bị HTH Nhựt Tảo chận bắn dữ dội. Các
chiến hạm Trung Quốc chuyển xạ nhắm vào HTH Nhựt Tảo khiến
kho đạn phát nổ, hầm máy bị cháy không còn vận chuyển
được nữa. TDH Lý Thường Kiệt cũng bị trúng đạn nên rời
vòng chiến. Thấy vậy, các chiến hạm VNCH Trần Khánh Dư và
Trần Bình Trọng cũng hối hả rời vùng.

Phần tường thuật của Trung Quốc về cuộc hải chiến, tuy có
đôi chút trung thực, nhưng nặng hơn về mặt tuyên truyền. KTH
Trần Khánh Dư đã không rời vùng dù bị hai chiến hạm Trung
Quốc vây đánh gây thiệt hại, có tới 912 vết đạn trên vỏ
tàu. KTH Trần Khánh Dư là loại chiến hạm tấn công, kiến
trúc khoẻ nhất trong hải đội với 4 phòng hầm máy chính và
nhiều phòng kín nước khác, sức chịu đựng rất cao. Khi tàu
Trung Quốc bắt đầu rút về hướng Tây, rơi vào đúng ngay
tầm bắn hữu hiệu của hải pháo 76.2 ly, các chiến hạm Trung
Quốc, đặc biệt K-274 bị trúng thêm mấy trái đạn lớn nữa,
đến độ tê liệt.

<h2>CHIẾN LƯỢC CHIẾN THUẬT</h2>

Ðể đối đầu với hai phân đội chiến hạm VNCH, phía Trung
Quốc cũng chia các chiến hạm thành hai phân đội. Các HTH K-271
và K-274 phối trí tại vùng Tây Nam đảo Quang Hòa để đối
đầu với các KTH Trần Khánh Dư và TDH Trần Bình Trọng, trong
khi các TLH T-389 và T-386 chiếm vị trí xa hơn về phía Bắc để
ngăn chận các TDH Lý Thường Kiệt và HTH Nhựt Tảo. Nhìn chung,
các chiến hạm VNCH chiếm vị trí hình cánh cung bên ngoài đảo
Quang Hòa, trong khi các chiến hạm Trung Quốc cũng dàn hình cánh
cung đối đầu, nhưng nằm bên trong, gần đảo hơn. Các chiến
hạm Trung Quốc tuy nhỏ, nhưng có vận tốc cao và nhịp bắn
nhanh hơn nên đã sử dụng chiến thuật "cận chiến." Tài
liệu Trung Quốc mô tả như sau:

Chiếm được lợi thế vì phối trí ở vòng ngoài và lợi
dụng hải pháo có thể bắn xa hơn, các chiến hạm VNCH khai
triển đội hình, gia tăng khoảng cách. Các chiến hạm Trung
Quốc nhỏ và hỏa lực yếu hơn lại ở vào vị thế bên trong
bất lợi nên phải thu hẹp chiến trường bằng cách mở hết
tốc lực tiến về phía chiến hạm địch nhiều khi như cập
vào nhau nên cỡ súng tuy nhỏ nhưng bắn nhanh nên các loạt
đạn đều trúng mục tiêu.

Trong lúc cận chiến, các chiến hạm Trung Quốc cũng tuân hành
chiến thuật và lời dạy của Mao Chủ tịch dồn sức mạnh
để tiêu diệt bộ phận đầu não địch, các chiến hạm 271
và 274 tập trung hỏa lực vào KTH Trần Khánh Dư là soái hạm
địch, trong lúc các TLH 396 và 389 hướng mọi họng súng vào TDH
Lý Thường Kiệt. Do đó, hai chiến hạm VNCH bị thiệt hại
nặng nề.

Ðến đây, chúng ta thấy rõ cấp chỉ huy Trung Quốc đã sai
lầm khi xác quyết "KTH Trần Khánh Dư là soái hạm địch"
nên đã tập trung hỏa lực quyết tiêu diệt chiến hạm này.
Thực tế, chúng ta đều biết soái hạm của hải đội VNCH là
TDH Trần Bình Trọng. Vì sự nhận định không chính xác nói
trên nên lúc khởi đầu trận chiến, các chiến hạm Trung Quốc
đã bám sát "soái hạm" Trần Khánh Dư và "tập trung hỏa
tiêu diệt các giàn hải pháo chính và thượng tầng kiến trúc
khiến hệ thống truyền tin bị hư hại."

Vì bị hai chiến hạm Trung Quốc dồn nỗ lực chận đánh nên
KTH Trần Khánh Dư bị trúng đạn khá nặng bên tả hạm. Theo
báo cáo chính thức của Bộ Tư Lệnh Hành Quân Biển, tổng
cộng KTH Trần Khánh Dư đếm được 37 lỗ đạn đường kính 4
cm hay lớn hơn và 44 lỗ đạn khác nhỏ hơn 4 cm. Giàn radar
phòng không bị suy giảm năng lực phát thâu và radar hải hành
tạm thời bất khiển dụng trong vòng hai giờ sau đó. Ðổi
lại, soái hạm K-271 của Trung Quốc cũng bị trúng đạn tại
đài chỉ huy gây thiệt hại nặng nề về nhân mạng. Theo tài
liệu chưa được phối kiểm của Trần Ðại Sỹ, Tư Lệnh
Mặt Trận và Toàn Bộ Tham Mưu của Trung Quốc bị tử thương.
Chiếc K-274 còn lại coi như không còn khả năng tác chiến.

<h2>TRƯỜNG HỢP HTH NHỰT TẢO (HQ-10)</h2>

Tài liệu Trung Quốc cho biết: Xa hơn về hướng Bắc, thừa lúc
các TLH T-396 và T-389 dồn nỗ lực tấn công TDH Lý Thường
Kiệt, HTH Nhựt Tảo tương đối rảnh rang liền bắn dữ dội
vào hai chiến hạm Trung Quốc. Bị tấn công ác liệt, hai chiến
hạm Trung Quốc chuyển xạ, tập trung hỏa lực nhắm vào HTH
Nhựt Tảo khiến hầm đạn bị phát nổ. Chiếc T-389 liền bám
sát và tác xạ dữ dội vào chiến hạm đã bị thương này,
không để chạy thoát.

Tưởng cũng nên nói T-389 vừa được sửa chữa xong tại thủy
xưởng ngày hôm trước thì đêm sau đã nhận được ra Hoàng Sa
nên chưa đủ thì giờ để thử máy đường trường cũng như
bắn thử hải pháo. Vì vậy, trong lúc hải chiến ác liệt, tuy
HTH Nhựt Tảo của VNCH bị trọng thương, nhưng T-389 cũng bị
chiến hạm VNCH bắn hư hại nặng. Đài chỉ huy hoàn toàn bị
tiêu hủy, thủy thủ đoàn nhiều người chết và bị thương.
Tuy nhiên những nhân viên còn lại vẫn không sợ chết, kiên
trì giữ vững vị trí chiến đấu. Vì hầm chứa đạn bị
bắn trúng thủng một lỗ lớn, một thủy thủ tuy đã bị
thương nặng ở bụng và hai đầu gối nhưng vẫn cởi quần áo
nhét vào lỗ thủng và tiếp đạn cho tới lúc chết tại chỗ.
Hầm máy cũng bị bắn trúng nên bị cháy dữ dội, khiến tàu
vô nước bị nghiêng, không còn dưỡng khí khiến cơ khí phó
và 5 cơ khí viên tử trận tại chỗ. Cả hai T-389 và HTH Nhựt
Tảo đều bị thương nặng, không tự điều khiển được nên
trôi lại gần, có lúc đụng cả vào nhau. Dân quân trên T-389
có lúc đã dùng đại liên và lựu đạn để tấn công HTH
Nhựt Tảo vì khoảng cách đôi bên quá gần.

Trong lúc đó, TDH Lý Thường Kiệt ở phía bên ngoài tác xạ
dữ dội vào T-389. Tuy bị thương nặng, hầm máy bị cháy có
thể phát nổ bất cứ lúc nào, TLH 389 vẫn chống trả dữ
dội. Vì sợ bị bắn trúng, TDH Lý Thường Kiệt rời vùng hải
chiến, vận chuyển ra hướng ngoài biển. Thấy TDH Lý Thường
Kiệt bỏ đi, các chiến hạm VNCH Trần Khánh Dư và Trần Bình
Trọng cũng rời vùng. Riêng HTH Nhựt Tảo vì bị hư hại nặng
chỉ còn trôi trên mặt biển nên bị bỏ lại không còn đủ
sức tự vệ. Lúc đó, hai chiến hạm Trung Quốc tăng viện là
Tuần Duyên Hạm (TDH) loại Hainan mang ký số 281 và 282 thuộc
phân đội chống tàu ngầm 74 do phân đội trưởng Liu Xi Zhong
chỉ huy cũng vừa tới vùng vào hồi 11 giờ 4, sau đó mở cuộc
tấn công. (Ghi chú của người viết: Theo tài liệu của Jane's
Fighting Ship, TDH loại Hainan được Trung Quốc đóng mô phỏng
theo loại chiến hạm SO-1 của Nga, có trọng tải 320 tấn, vũ
khí chính gồm 2 giàn hải pháo 57 ly đôi, một ở trước mũi
và một ở sau lái, ngoài ra còn có 2 giàn đại bác 25 ly đôi
cũng ở trước mũi và sau lái. Tuần Dương Hạm 281 tiến gần
HTH Nhựt Tảo, tất cả các họng súng đều khai hỏa vào mục
tiêu rõ ràng không còn tự vệ được. Đến 2 giời 52 phút
chiều ngày 19/1, HTH Nhựt Tảo bị chìm tại vị trí chừng 2
hải lý rưỡi về phía nam của bãi san hô Antelope.
HTH Nhựt Tảo lên đường ra Hoàng Sa cùng với TDH Trần Bình
Trọng vào tối 17/1. Theo lời kể lại của Hải Ðội trưởng
Hà Văn Ngạc trong bài Trận Hải Chiến Lịch Sử Hoàng Sa HTH
HQ-10 Nhựt Tảo được chỉ định xung vào Hải Ðoàn Ðặc
Nhiệm, với lý do chính là chiếc HTH này đang tuần dương ngay
khu vực cửa khẩu Ðà Nẵng nên giảm bớt thời gian di chuyển,
chiến hạm chỉ có một máy chính khiển dụng mà thôi. Như
vậy, HTH Nhựt Tảo không những là chiến hạm nhỏ, có hỏa
lực yếu nhất trong Hải Ðội Ðặc Nhiệm mà tình trạng kỹ
thuật cũng kém khả quan, chỉ còn một máy chính.

Trong phúc trình Diễn Tiến Hành Quân Hoàng Sa ngày 21/2/1974 của
TDH Trần Bình Trọng cũng ghi rõ, "Ngày 18/01/1974 lúc 0315H (chi
chú của người viết: 3 giờ 12 phút sáng), chiến hạm đế
điểm hẹn với HQ-10 tại vị trí 083 độ đèn Tiên Sa 090 (ghi
chú của người viết: hướng Đông của hải đăng Tiên Sa,
cách 9 hải lý). Hồi 0327H vì tình trạng kỹ thuật của HQ-10
kém và để đúng giờ hẹn tại Hoàng Sa theo như đã dự trù,
chiến hạm đươc lệnh của Sĩ quan Chỉ huy Chiến thuật (Ðại
tá Hà Văn Ngạc, Chỉ huy Trưởng Hải Ðội 3) cho tăng máy,
tách khỏi đội hình với HQ-10, trực chỉ đảo Cam Tuyền."

Trong một trận hải chiến, ngoài hỏa lực hải pháo,
việc vận chuyển mau chóng vào vị trí thích hợp là yếu tố
vô cùng quan trọng. Tình trạng kỹ thuật kém "chỉ còn một
máy" của HTH Nhựt Tảo gây khó khăn trong việc vận chuyển
có lẽ đã là nguyên nhân chính khiến chiến hạm này bị đánh
chìm. Chúng ta tự hỏi nếu HTH Nhựt Tảo còn đủ hai máy
chính, dù bị bắn thiệt hại còn một máy vẫn có thể tự
vận chuyển được, biết đâu có thể tới vùng an toàn, vì
lúc đó các chiến hạm Trung Quốc đều đã bị hư hại nặng,
không còn khả năng truy kích.

Tuy là chiến hạm yếu nhất, nhưng HTH Nhựt Tảo đã chiến
đấu hăng hái và dũng cảm nhất. Khi thấy hai TLH T-389 và T-396
dồn nỗ lực tấn công TDH Lý Thường Kiệt, HTH Nhựt Tảo lập
tức can thiệp, dùng hải pháo tác xạ chính xác chiến hạm
Trung Quốc khiến T-389 bị trúng đạn vào đài chỉ huy, hạm
trưởng tử thương, phòng máy bị cháy. Chiếc T-389 cũng bị hư
hại nặng, trôi nổi trên mặt biển tương tự như HTH Nhựt
Tảo, có lúc hai đối thủ đụng vào nhau như Trung úy Nguyễn
Ðông Mai thuộc HTH Nhựt Tảo diễn tả trong bài viết Lần Ðào
Thoát Tại Hoàng Sa, "Rồi chừng 15 phút sau, một tiếng va
chạm mạnh khiến chúng tôi té nhào trên sàn tàu. Tôi chợt
nghĩ đến chuyện tàu lên cạn vì vì vùng này có nhiều san hô.
Sau này khi đào thoát tôi mới biết HQ-10 đâm vào tả hạm
chiếc 396″.

Tài liệu Trung Quốc cũng xác nhận thêm, "Nếu T-389 không dạt
vào một bãi san hô, chắc chắn cũng sẽ bị chìm." Như vậy
HTH Nhựt Tảo tuy bị chìm, nhưng đối thủ cũng bị thiệt hại
tương tự, coi như một đổi một.

Trận hải chiến khởi đầu lúc 10 giờ 23 phút, khoảng nửa
giờ sau đó các chiến hạm VNCH rời vùng, chỉ còn lại HTH
Nhựt Tảo bị hư hại nặng trôi nổi trên mặt biển, nhân
viên đã xuống bè đào thoát, không còn ai trên tàu. Về những
giây phút cuối của HTH Nhựt Tảo, tài liệu Trung Quốc ghi rõ:

Tới 11 giờ 49 phút, hai TDH 281 và 282 do Phân đoàn Trưởng Liu Xi
Zhong chỉ huy từ căn cứ hải quân Shantou tăng viện đến vùng
Hoàng Sa. TDH 281 tập trung hỏa lực bắn vào xác HTH Nhựt Tảo.
Mãi đến 14 giờ 52 phút ngày 19/1, HTH Nhựt Tảo mới bị chìm
tại vị trí Nam bãi san hô Antelope, khoảng cách chừng 2.5 hải
lý.

Sau này một số bài viết cho rằng HTH Nhựt Tảo bị trúng hỏa
tiễn Trung Quốc vào đài chỉ huy khiến Hạm Trưởng hy sinh. Tuy
nhiên, các chiến hạm Trung Quốc tham chiến đều không được
trang bị hỏa tiễn hải-hải và tài liệu Trung Quốc cũng nói
rõ không có Phi Tiễn Ðĩnh (PTÐ) Komar tại Hoàng Sa. Dĩ nhiên,
chúng ta không hoàn toàn tin tưởng vào lời nói của họ, nhưng
có thể suy đoán tìm câu trả lời hợp lý.

Trước hết, PTÐ Komar trang bị hỏa tiễn hải-hải Styx là
loại Ai Cập đã dùng để bắn chìm Khu Trục Hạm Eilat của Do
Thái vào tháng 10/1967 gần cảng Port Said. Nếu hỏa tiễn Styx có
thể đánh chìm một chiến hạm lớn nhất và cũng là soái hạm
của HQ Do Thái thì đối với HTH Nhựt Tảo là chiến hạm nhỏ
hơn, bị trúng hỏa tiễn Styx chắc không trôi nổi trên mặt
biển, mãi mấy tiếng đồng hồ sau mới bị chiến hạm tăng
viện của Trung Quốc bắn chìm. Ngoài ra, nếu có hỏa tiễn,
theo đúng sách lược "đánh vào chỗ mạnh nhất của Mao
Trạch Ðông," chắc chắn Trung Quốc sẽ nhằm vào chiến hạm
VNCH lớn và quan trọng, như "soái hạm" Trần Khánh Dư hoặc
các TDH, hơn là HTH Nhựt Tảo nhỏ. Hơn nữa, mỗi Phi Tiễn
Ðĩnh Komar được trang bị 2 hỏa tiễn Styx, nếu tham chiến có
lẽ sẽ bắn cả 2 hỏa tiễn vào các chiến hạm VNCH, gây
thiệt hại nhiều hơn, thay vì chỉ bắn HTH Nhựt Tảo.

Về mặt chiến thuật, hỏa tiễn cũng như pháo binh, chỉ hiệu
quả khi mục tiêu được xác định rõ ràng, chính xác. Trong
trận hải chiến Hoàng Sa, chiến hạm đôi bên đều trong thế
"cận chiến" trộn lẫn vào nhau, việc sử dụng hỏa tiễn
có thể gây thiệt hại cho chính lực lượng mình. Vì những lý
do trên, cộng thêm lời xác nhận về phía Trung Quốc, chúng tôi
nghĩ rằng Trung Quốc đã không có hỏa tiễn hải-hải trong
trận hải chiến Hoàng Sa. Rất có thể, bộ binh theo tàu để
đổ bộ sử dụng một số hỏa tiễn "cầm tay" mang theo
hoặc bất cứ vũ khí nào khác khi khoảng cách đôi bên quá
gần.

<h2>THIỆT HẠI</h2>

Về phần thiệt hại, tài liệu Trung Quốc cho biết: Tuy nhiên,
chiến thắng nào cũng phải trả giá. Về phía Trung Quốc, tổng
cộng có 18 người tử trận trong số này 1 hạm trưởng và 67
người khác bị thương. Chiếc T-389 bị hư hại nặng, nếu
không kịp ủi vào bãi san hô chắc chắn sẽ bị chìm. Ba chiến
hạm khác đều bị trúng đạn, thiệt hại trung bình.

Theo tài liệu của Yên Tử Cư Sĩ Trần Ðại Sĩ (chưa thấy
Trung Quốc phản đối) cho biết cả 4 Hạm trưởng các chiến
hạm Trung Quốc gồm 3 Đại tá và 1 Trung tá đều bị tử
thương. Ngoài ra, bộ tư lệnh mặt trận gồm 1 Đô đốc, 4
Đại tá, 6 Trung tá, 2 Thiếu tá và 7 sĩ quan cấp úy cũng bị
tử thương. Chúng tôi rất dè dặt khi loan tin này, vì tác giả
Trần Ðại Sĩ không cung cấp rõ ràng xuất sứ của nguồn tin
trên. Hơn nữa, các chiến hạm Trung Quốc đều thuộc loại
nhỏ, thủy thủ đoàn không quá 100 người, nên hạm trưởng
mang cấp bậc Đại tá là điều hãn hữu.

Nếu còn một số nghi vấn về thiệt hại nhân mạng, chúng ta
có nhiều bằng cớ khá xác đáng về mặt các chiến hạm Trung
Quốc. Trận hải chiến kết thúc vào khoảng 11 giờ sáng ngày
19/1/1974 sau chừng 30 phút giao tranh khi ba chiến hạm VNCH rời
vùng, chỉ còn lại 4 chiến hạm Trung Quốc và HTH Nhựt Tảo
bị hư hại không tự vận chuyển được, các nhân viên đã
xuống bè đào thoát. Nếu chưa bị chìm hoặc lên cạn hết,
chắc chắn chiến hạm Trung Quốc sẽ lại gần HTH Nhựt Tảo,
bắt sống những người trên bè đào thoát và đánh chìm đối
thủ. Nhưng thực tế cho thấy không một chiến hạm Trung Quốc
nào ngăn chận được các bè đào thoát và phải chờ hơn 3
tiếng đồng hồ sau, lực lượng tăng viện vừa tới gồm các
TDH 281 va 282 mới bắn chìm HTH Nhựt Tảo. Ðiều này cho thấy
cả 4 chiến hạm Trung Quốc trực tiếp tham chiến hoặc đã bị
chìm, hoặc ủi bãi san hô hay hư hại nặng, không còn vận
chuyển được nữa.

Qua lời tường thuật của Trung Quốc về trường hợp các
chiến hạm của họ bị trúng đạn hư hại ra sao, gặp những
khó khăn nào, cộng với bằng chứng chỉ còn 2 chiến hạm tăng
viện hoạt động sau trận hải chiến, chúng ta có thể khá
chắc chắn tìm ra sự thật. Ðó là cả 4 chiến hạm Trung Quốc
trực tiếp tham chiến đều bị bắn hư hại nặng, nếu không
chìm hay lên cạn cũng sẽ bị phế thải.

<h2>KẾT LUẬN</h2>

Trận hải chiến tại Quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19/1/1974 đã
trở thành lịch sử. Việc thành bại, hơn thua không còn được
đặt nặng so với nhu cầu tìm hiểu sự thật và vinh danh các
chiến sĩ HQVNCH tham dự trận đánh bảo vệ quê cha đất tổ,
đã chết hay còn sống. Dù phải đối đầu với kẻ thù mạnh
hơn nhiều lần, nhưng các chiến sĩ HQVNCH đã tận dụng mọi
khả năng, phương tiện hiện có và nhất là tinh thần chiến
đấu, truyền thống hào hùng ngang nhiên bắn vào tàu địch,
khiến đối phương cũng phải kiêng sợ và thán phục. Các yếu
tố "Thời, Thế và Cơ" cần thiết cho chiến thắng đều
không nằm trong tay HQVNCH. Giả sử chúng ta có đánh chìm hết
các chiến hạm Trung Quốc tại Hoàng Sa, thu được thành quả
tuyệt đối về mặt chiến thuật, nhưng cũng sẽ phải rời
bỏ vùng hải đảo thân yêu này để bảo toàn lực lượng, vì
dù có vận dụng hết khả năng cũng khó bề đương cự với
Hải quân Trung Quốc.

Trần Ðỗ Cẩm

<h2>Chú thích:</h2>

1. Hải quân Ðại tá Hà Văn Ngạc, Chỉ huy Trưởng Hải đội
VNCH trong trận Hải chiến Hoàng Sa.

2. Bốn chiến hạm HQVNCH tham chiến trong trận Hoàng Sa gồm:
Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) do Hải quân Trung tá
Lê Văn Thự (Khóa 10 SQHQ/Nha Trang) làm Hạm trưởng. Tuần Dương
Hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) do Hải quân Trung tá Phạm Trọng
Quỳnh (Khóa 11 SQHQ/Nha Trang) làm Hạm trưởng. Ðây là Soái Hạm
Ðại tá Hà Văn Ngạc ở trên chiến hạm này chỉ huy trận
đánh. Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) do Hải quân Trung tá
Vũ Hữu San (Khóa 11 SQHQ/Nha Trang) làm Hạm trưởng. Hộ Tống
Hạm Nhật Tảo (HQ-10) do Hải quân Thiếu tá Ngụy Văn Thà (Khóa
12 SQHQ/Nha Trang) làm Hạm trưởng.

3. Hạm Trưởng HQ-10, Hải quân Thiếu tá Ngụy Văn Thà bị
thương, quyết ở lại trên tàu. Ba đoàn viên tên Lê Văn Tây,
Ðinh Hoàng Mai và Phạm Anh Dũng đã hy sinh ở lại bắn chận
tàu Trung Quốc để đồng đội an toàn rời khỏi chiến hạm.
Hải quân Thiếu tá Ngụy Văn Thà và ba đoàn viên đã can đảm
trong truyền thống "chết theo tàu" và để lại bao nhớ
tiếc đau thương cho những người ở lại.


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/7930), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét