Đỗ Kim Thêm - Tìm hiểu về khái niệm nhà nước pháp quyền tại Pháp

Nước Pháp là một quốc gia dân chủ, văn minh, tiến bộ, tôn
trọng nhân quyền và có tinh thần thượng tôn luật pháp. Từ
nhận định này chúng ta dễ suy đoán rằng khái niệm về nhà
nước pháp quyền chắc hẳn đã có một truyền thống trong văn
hoá cũng như dân trí của nước Pháp. Đây là một cảm nhận
sai lầm. Thực tế cho thấy là nước Pháp không hề có thuật
ngữ <em>État de droit</em> trong học giới mà chỉ là một sự
phiên dịch từ <em>Rechtsstaat</em> của Đức. Ngoài ra, khác với
các quốc gia dân chủ phương Tây, chính thể lập hiến
(constitutionalism) không làm nền tảng cho mọi sinh hoạt chính
trị tại Pháp trong cả một thời gian dài.

Thế thì người Pháp hiểu gì, nghĩ gì và làm gì đối với
khái niệm này, đặc biệt hơn kinh nghiệm của Pháp có giúp
cho Việt Nam trong việc định hình cho khái niệm này không, đó
là chủ đề của bài viết này.

<h2>1. Những đặc điểm chính</h2>

Có nhiều cách giải thích khác nhau về trường hợp của Pháp,
một số học giả chỉ nêu lên những đặc điểm chính mà
không đi sâu vào các học thuyết. Họ cho rằng vấn đề thuật
ngữ không quan trọng mà chính ưu thế của quốc hội và sự
bất ổn chính trị đã dần dần đưa tới việc lập Toà Bảo
hiến để nâng cao tầm quan trọng của việc áp dụng những
nguyên tắc hiến định. Từ đó mà khái niệm nhà nước pháp
quyền mới thành hình.

<h3>Thuật ngữ</h3>

Lịch sử triết học pháp quyền của Pháp cho thấy Pháp không
hề có khái niệm về <em>État de droit</em>. Giáo sư Léon Dugit
là người đầu tiên đã du nhập ý niệm Rechtsstaat vào Pháp
năm 1907. Sau đó giáo sư Raymond Carré de Malberg đã triển khai
nội dung này trong tác phẩm <em>Contribution à la théorie générale
de l' État</em> năm 1922. Ông đã đề xuất nhiều ý kiến để
áp dụng, nhưng không gây được tiếng vang nào trong học giới
hay ngoài công luận.

Dù thuật ngữ này không có trong văn kiện chính thức, tuyên
ngôn, sách giáo khoa hay được thảo luận, nhưng chúng ta không
kết luận rằng nước Pháp không quan tâm đến vấn đề pháp
quyền. Pháp đã đặt trọng tâm vào hai khái niệm khác, đó là
Nhà nước (<em>État</em>) và Cộng hoà (<em>République</em>), thay
thế cho nhà nước pháp quyền. Ngay trong thuật ngữ Nhà nước,
người Pháp đã hàm ý rằng nhà nước phải tuân theo luật
pháp, mà không minh thị, vì đó là điều không cần thiết.
Thuật ngữ Cộng hoà có lịch sử lâu đời và phức tạp hơn,
nhưng đến khi Jean Jacques Rousseau đưa ra thảo luận thì thuật
ngữ này trở nên chính xác hơn, nhất là khi xác minh rằng nhà
nước phải cai trị bằng luật pháp. Rousseau cũng đề xuất
rằng hai khái niệm Nhà nước và Cộng hoà nên hiểu là đồng
nghĩa vì mang nhiều sự tương đồng trong lý thuyết. Do đó,
giới học giả cho rằng về cơ bản thì Pháp cũng có khái
niệm nhà nước pháp quyền dù không minh danh, mà điều XVI của
bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền là một thí dụ điển
hình khi công nhận rằng nguyên tắc phân quyền và tôn trọng
nhân quyền làm cơ sở cho mọi hoạt động của nhà nước.

<h3>Chính sự bất ổn liên tục </h3>

Một đặc điểm khác của Pháp là hiến pháp không được coi
là một văn bản pháp lý quan trọng làm nền tảng cho sinh hoạt
chính trị, chính thể lập hiến (<em>constitutionalism</em>) không
hề được tôn trọng tại Pháp. Một thí dụ điển hình là
cuộc Cách mạng Pháp đã diễn ra trong sự thay đổi năm lần
hiến pháp trong vòng 15 năm. Trước và sau Cách mạng, nước
Pháp đã trải qua bao loại thể chế khác nhau, từ quân chủ
hiến định, cực đoan đến mềm dẻo, quân chủ đến cộng
hoà. Từ năm 1814 đế 1875 cứ mỗi lần thay đổi chế độ là
mỗi lần thay đổi hiến pháp. Mỗi hiến pháp lập ra đều do
nhu cầu cuả tình thế chính trị của nhà cầm quyền. Do đó,
mọi sinh hoạt chính trị đều không ổn định. Đến 1875 thời
kỳ Đệ Tam Cộng Hoà được thành lập, thì tất cả bắt
đầu đi vào nề nếp. Chế độ này kéo được 65 năm và cho
đến 1946 thì chấm dứt. Chế độ Đệ Tứ Cộng hoà sống khá
ngắn ngủi (1946-58) để nhường bước cho chế độ Đệ Ngũ
Cộng hoà ra đờì. Từ đó đến nay thì hiến pháp đã trở
nên một nền tảng cho mọi sinh hoạt chính trị và luật pháp
của Pháp.

<h3>Truyền thống ưu quyền của lập pháp </h3>

Học giới đã có nhiều cách giải thích hiện tượng bất ổn
liên tục này khi so cách mạng ở Hoa Kỳ so với Cách mạng
Pháp. Trong khi cách mạng ở Hoa Kỳ tìm cách ngăn chặn sự lạm
quyền trong chính giới bằng cách gia tăng các biện pháp kiểm
soát, thì ngược lại Cách mạng Pháp chỉ nhắm vào đấu tranh
chống lại những áp bức từ các tàn dư thời phong kiến,
đặc quyền của nhà thờ, giới tu sĩ và giới quý tộc, trong
khi cơ quan tư pháp lại ra sức bảo vệ cho giới này. Hiến
pháp cúa Hoa Kỳ nhấn mạnh đến sự phân quyền, thì Pháp lại
đề cao quyền lập pháp tối thượng, bình đẳng, tự do cá
nhân, tự do hoạt động kinh doanh của cá nhân và công ty, bảo
vệ quyền tư hữu. Dù tôn trọng nhân quyền, Pháp xem quyền
lực của cơ quan tư pháp là thứ yếu. Trong công luận cũng
không ai tin là nền tư pháp có tác dụng tốt trong việc kiểm
soát việc thi hành pháp luật.

<h3>Vai trò của Toà Bảo hiến </h3>

Khái niệm về quyền lập pháp tối thượng của quốc hội
luôn chiếm ưu thế trong chính giới. Mãi đến thập niên 1970
thì khái niệm ưu quyền của lập pháp của quốc hội thực
sự bị đánh bại và vai trò cuả Tòa Bảo hiến (<em>Conseil
constitutionel</em>) được đề cao trong việc kiểm soát mọi
hoạt động công quyền. Trong một diễn văn ngày 8.1.1977, Tổng
thống Valéry Giscard d´Éstaing mới thực sự minh danh khái niệm
nhà nước pháp quyền và đề cao vai trò của Toà Bảo hiến.
Ông cho là đây là một nỗ lực canh tân quan trọng nhất trong
chế độ Đệ Ngũ Cộng hoà Pháp.

Từ đó, khái niệm nhà nước pháp quyền đã ra đời với hai
trọng điểm: Hành pháp phải tuân thủ những nguyên tắc do
hiến pháp quy định và phải được toà án kiểm soát, đặc
biệt là Toà Bảo hiến. Do đó, quyền lực của tư pháp được
nâng cao nhằm bảo vệ việc thi hành luật lệ hữu hiệu hơn.
Hiện nay khái niệm về nhà nước pháp quyền của Pháp được
học giới và công luận công nhận.

<h2>2. Từ nhà nước pháp định (État legal) đến nhà nước
pháp quyền</h2>

Đi tìm những nguyên nhân sâu xa hơn là nêu ra những đặc
điểm để lý giải sự hình thành của nhà nước pháp quyền,
nhiều học giả đã căn cứ vào khái niệm nhà nước pháp
định (<em>Ètat légal</em>) và coi đây là khởi điểm cho khái
niệm nhà nước pháp quyền. Thật ra, đây là một cái nhìn
đào sâu qua các học thuyết và phân tích dựa theo sự thay
đổi của lịch sử.

<h3>Chủ quyền thuộc về toàn dân và nguyên tắc tam quyền phân
lập</h3>

Trước khi cách mạng ra đời thì quyền lực đất nước thuộc
về nhà vua, khái niệm chủ quyền quốc gia hay quyền tối
thượng đều được giải thích là tùng phục tuyết đối nhà
vua. Vì theo chế độ quân chủ chuyên chế cha truyền con nối
nên trong suốt một thời kỳ dài qua các triều đại, vấn đề
bảo vệ hoàng gia được mọi người đồng tình xem như là
bảo vệ chế độ. Đây là chuyện đương nhiên được chấp
nhận. Ngay cả Jean Bodin, người đã triển khai ý niệm quyền
tối thượng, cũng chấp nhận chủ quyền tuyệt đối của
hoàng gia trong việc áp đặt mọi luật lệ để thi hành trong
mọi sinh hoạt nhà nước và hoàng gia chỉ chiụ trách nhiệm
trước thượng đế mà thôi.

Vấn đề giới hạn quyền lực của hoàng gia hầu như không ai
đặt ra cho mãi đến khi tác phẩm <em>De l´Ésprit des Lois</em>
của Montesquieu ra đời vào năm 1748. Montesquieu đã triển khai hai
khái niệm chủ yếu: hiến pháp là nền tảng cho việc điều
hành nhà nước và nguyên tắc tam quyền phân lập là nguyên
tắc chung mọi cho sinh hoạt chính trị. Cho dù hành pháp, lập
pháp và tư pháp được phân công rõ rệt, nhưng trong thực tế,
theo quan điểm của Montesquieu, thì quyền tư pháp thứ yếu hơn
và lệ thuộc vào hành pháp. Khái niệm nhằm nâng cao vai trò
của hiến pháp này đã bị chống đối mãnh liệt.

Cách mạng Pháp đã đem đến sự thay đổi tận cội rễ khái
niệm chủ quyền và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền
là một thí dụ. Điều III của bản Tuyên ngôn đã minh thị:
"<em>Nguyên tắc chủ quyền thuộc về nhà nước, không một
cơ quan hay một cá nhân nào có thể hành xử chủ quyền này mà
không được minh thị uỷ quyền</em>". Nhiều học giả giải
thích rằng từ nhà nước trước kia được hiểu là đồng
nghĩa với nhà vua, thì nay phải được hiểu là thuộc về toàn
dân. Nhà nước thông qua các đại diện do dân bầu sẽ trực
tiếp đảm đương công việc của nhà nước, nhà nước chỉ
là một guồng máy được tạo ra để vận hành cơ chế của
luật pháp, mà luật pháp chỉ là một biểu hiện ý chí chung
của người dân.

Rousseau cũng đã có một lối giải thích khác khi đề cập
đến sự chuyển quyền tối thượng từ nhà vua sang dân chúng
trong tác phẩm <em>Du Contrat social</em> vào năm 1762. Tinh thần
thượng tôn luật pháp được đề ra, nhưng luật pháp không do
dân trực tiếp làm ra mà thông qua những người đại diện.
Nguyên tắc thượng tôn luật pháp phải được hiểu là quyền
tối thuợng của quốc hội, là cơ quan lập ra luật pháp. Chính
điều VI cuả bản Tuyên ngôn cũng lặp lại ý niệm của
Rousseau: luật pháp là một sự diễn tả ý chí chung. Theo
Rousseau thì quyền lực của nhân dân là bất khả phân.

Kinh nghiệm cho thấy trong khi khái niệm chủ quyền nhân dân dễ
thuyết phục hơn thì việc đề cao vai trò của hiến pháp không
được hoan nghênh. Dưới thời Napoléon thì hiến pháp đề cao
vai trò Thượng Viện trong việc kiểm soát các hành vi phạm
pháp nhưng thật ra không hữu hiệu, vì trong thực tế mọi
quyền kiểm soát là do nhà vua định đoạt. Hiến pháp 1852 của
thời Đệ Nhị Cộng hoà, dù có nâng cao vai trò của Thượng
viện nhưng cũng không khá hơn trước. Mãi đến hiến pháp 1946
thì vai trò tư pháp trong kiểm soát tính vi hiến mới rõ nét
hơn và đến năm 1958 thì một chế độ hiến định mới thật
sự hình thành. Tóm lại, trong suốt hơn hai thế kỷ nước Pháp
đã trải qua biết bao biến cố chính trị và thay đối tất
cả 16 lần hiến pháp để có được một sinh hoạt chính trị
tương đối ổn định như ngày hôm nay.

<h3>Ưu quyền của quốc hội</h3>

Sinh hoạt chính trị của Đệ Tam Cộng hoà (1870-1946) đã biểu
hiện rõ sự thắng thế này của quốc hội trong mọi sinh hoạt
của nước Pháp, một đặc điểm trong khái niệm về nhà
nước pháp định. Dù minh xác tiếp nối truyền thống Cách
mạng 1789, khái niệm này chỉ được hiểu đồng nghĩa với ưu
quyền của quốc hội trong vai trò lập pháp và nguyên tắc hợp
pháp. Nguyên tắc hợp pháp của các cơ quan hành chánh dựa trên
cơ sở là cơ quan hành chánh phải tuân thủ luật pháp và chịu
sự kiểm soát của tòa án.

Nguyên tắc ưu quyền của quốc hội trong tinh thần thượng tôn
pháp luật hầu như được mặc thị chấp nhận trong cả một
thời gian dài vì không ai đặt ra vấn đề cho đến khi tác
phẩm của Raymond Carré de Malberg ra đời. Ông đề cao vai trò
quan trọng của hiến pháp và nghi ngờ ưu quyền tối thượng
của quốc hội. Ông cho rằng quốc hội biểu hiện ý chí để
làm ra luật pháp, nhưng thực tế cho thấy ý chí này chỉ là
phản ảnh ý kiến của một đa số mà thôi. Trong khi hiến pháp
được hình thành là do toàn dân biểu quyết, cho nên giá trị
của hiến pháp bắt buộc phải cao hơn là ưu quyền lập pháp
của quốc hội. Theo ông, quan trọng nhất là quốc hội cũng
phải tôn trọng những qui định của hiến pháp. Napoleon đã
lập ra Thượng Hội đồng Quốc gia (<em>Conseil de l´État</em>)
vào năm 1799 như là một cơ quan nhằm kiểm soát hoạt động
của các cơ quan hành chánh khi vi phạm nhân quyền, nhưng việc
kiểm soát những hoạt động của hành pháp không hề được
đặt ra. Trong khi đó, thì cơ quan tư pháp vì còn mang thành
kiến từ thời tiền cách mạng, vẫn chưa đáp ứng tình thế
mới, nhất là có thể kiểm soát được mọi hoạt động của
quốc hội như luật định.

Tình trạng này tiếp diễn trong suốt thế kỷ XIX. Mãi đến
cuối thế kỷ XX thì những luật thủ tục kiểm soát các cơ
quan hành chánh chặt chẽ hơn. Dựa trên những nguyên tắc tài
phán mới, Thượng Hội đồng Quốc gia đã triển khai những
nguyên tắc phù hợp với tình hình để việc kiểm soát được
tốt hơn so với trước đây. Từ đó mà thành kiến về tư
pháp hành chánh bất lực trước hành pháp đã giảm đi nhiều.
Sự thành công này bắt nguồn từ việc công nhận những nguyên
tắc tổng quát luật pháp (<em>principles généraux du droit</em>).
Đây là một nguyên tắc không được minh thị trong luật pháp
nhưng được học giới quan tâm, xem là một khía cạnh thuộc
về nguyên tắc hợp pháp. Dù nguyên tắc này không có hiệu
lực ràng buộc về mặt pháp lý nhưng có tác dụng rất cao nên
nội dung cũng được xem như tương đương với khái niệm về
nhà nước pháp quyền. Trong thực tế thì những nguyên tắc
tổng quát của luật pháp đã ăn sâu vào truyền thống dân
chủ của Pháp và được áp dụng không giới hạn vào các
nguyên tắc về luật thủ tục, luật nội dung cũng như các
nguyên tắc khác (bình đẳng trước pháp luật, tự do ngôn
luận, nguyên tắc bất hồi tố của luật hành chánh). Nhưng
điều đáng chú ý là những nguyên tắc này không ràng buộc cho
quốc hội. Đến nay thì vai trò của Thượng Hội đồng Quốc
gia được xác nhận là hữu hiệu trong việc kiểm soát các cơ
quan hành chánh.

Nhưng làm sao để kiểm soát tính cách hợp hiến của các đạo
luật do quốc hội phê chuẩn, đó chính là chủ đề mà Carré
de Malberg đưa ra. Ông cho rằng nhà nước pháp định là một
đặc điểm của Pháp, nhưng vẫn không đủ để diễn tả khái
niệm nhà nước pháp quyền như của Đức. Theo ông, nhà nước
pháp định có chức năng trong việc duy trì ưu quyền của quốc
hội trong khi nhà nước pháp quyền đề cao vai trò cuả luật
pháp trong việc bảo vệ quyền tự do cuả cá nhân trước sự
lạm quyền. Có hai khái niệm quan trọng: tư tưởng dân chủ
của luật pháp và lý thuyết về quyền căn bản, cả hai phải
được coi như là một giới hạn cho việc sử dụng quyền hành
pháp. Do đó, khái niệm nhà nước pháp định không đủ để
thoả mãn nội dung này và cũng sẽ không đủ điều kiện khi
mà quyền kiểm soát vi hiến không đuợc bảo đảm. Kiểm soát
tính cách hợp hiến của luật pháp là một thành quả quan
trọng trong nền Đệ Ngũ Cộng hoà. Cuối cùng, sau bao cam go,
khái niệm nhà nước pháp quyền đã thắng thế trước nhà
nước pháp định.

<h3>Sự hình thành nhà nước pháp quyền qua Toà Bảo hiến</h3>

Từ giữa thập niên 1950 Pháp trải qua nhiều khủng hoảng chính
trị liên tục. Hiến pháp năm 1946 tạo cho quốc hội qúa nhiều
ưu quyền, trong khi chính quyền chỉ sống được trong ngắn
hạn bằng thoả hiệp, và dĩ nhiên các chính quyền này không
thể giải quyết các vấn đề lâu dài, đặc biệt là các khó
khăn do phong trào giải thực dân mang lại. Sau nhiều sóng gió,
cuối cùng Tổng thống René Coty đã mời đại tướng de Gaulle
thành lập chính phủ để giải quyết tình thế. Ngày 01. 06.1958
quốc hội đồng thanh ủy nhiệm cho de Gaulle lập chính phủ, và
ngày 3 tháng 7 quốc hội đồng ý tu chỉnh hiến pháp. Hiến
pháp mới được nhân dân đồng thuận qua cuộc trưng cầu dân
ý ngày 28 tháng 9. Hiến pháp của nền Đệ Ngũ Cộng hoà ra
đời vào ngày 4 tháng 10 năm 1958 mà hai khiá cạnh nổi bật
nhất trong hiến pháp này là:

<strong>Thứ nhất</strong>, Tổng thống có quyền trọng tài tối
thượng. Thoạt đầu, Tổng thống được bầu gián tiếp, nhưng
do tu chính 1962 thì Tổng thống được bầu trực tiếp với
nhiệm kỳ bảy năm qua cuộc phổ thông đầu phiếu. Thực ra,
hiến pháp mới tốt hơn cho sinh hoạt chính trị vì vừa hợp
lý hoá vai trò quốc hội vừa nâng cao vai trò của hành pháp.
Quyền lực của Tống thống mạnh hơn so với trước đây,
nhưng Thủ tướng thì lại yếu hơn. Tổng thống và Thủ
tướng thường là người cùng một đảng, chỉ có ba thời kỳ
ngắn (1986-1988; 1993-1995 và 1997-2002), Thủ tướng và Tổng
thống là hai người thuộc hai đảng khác nhau, đây là một sự
sống chung trong chính trị để cầm qưyền mà người Pháp có
thói quen gọi là cohabitation. Mối quan hệ giữa hành pháp và
lập pháp được coi như là ổn định vì lý do phe đa số nắm
quyền ở quốc hội có quyền lập chính phủ. Do đó, việc
tập trung quyền hành trong một cơ quan hành pháp mạnh do quốc
hội hỗ trợ là chuyện dễ hiểu vì cả hai cũng theo đuổi
một mục tiêu chung.

<strong>Thứ hai</strong>, quyền làm luật và ký kết hiệp ước
của cơ quan hành pháp bị giới hạn rõ rệt. Điều 37 của
hiến pháp minh thị rằng thẩm quyền làm luật của quốc hội
phải được liệt kê rõ và phải nằm trong giới hạn mà hiến
pháp cho phép. Những vấn đề luật pháp mà hiến pháp không qui
định dành cho quốc hội, thì hành pháp có thể được uỷ
nhiệm. Kinh nghiệm của thời Đệ Tứ Cộng hoà đã đưa đến
sự hình thành giải pháp này, vì trước đó cứ sáu tháng lại
phải thay một chính phủ quá yếu trong khi quốc hội lại quá
mạnh. Một lý do khác là công việc lập pháp càng ngày càng
đòi hỏi chuyên môn cao độ, nặng về kỷ thuật, ý tuởng
luật pháp là sự diẫn tả ý chí chung của tòa dân theo tư
tưởng của Rousseau không còn hợp thời nữa. Thêm vào đó thì
sự bất mãn của dân chúng về ưu quyền của quốc hội trong
sinh hoạt lập pháp ngày càng cao. Sự hình thành Toà Bảo hiến
theo hiến pháp 1958 là để đáp ứng nhu cầu này mà mục đích
của nó là kiểm soát các hoạt động lập pháp, nhất là về
sự phân quyền giữa hành pháp và lập pháp. Chỉ sau một thời
gian Toà Bảo hiến đã trở thành một định chế hữu hiệu
trong việc kiểm soát tính cách hợp hiến của các hoạt động
lập pháp.

<h3>Kiểm soát hợp hiến: một chuyển biến đưa tới thành lập
nhà nước pháp quyền </h3>

Xét tính cách vi hiến của một đạo luật vì lý do vi phạm
quyền công dân được quy định bởi hiến pháp là một điều
cực kỳ xa lạ trong truyền thống của Pháp. Nguyên tắc phân
quyền, quyền lực tối thượng của quốc hội là diễn tả ý
chí chung khi ban hành luật pháp và sư suy yếu của ngành tư
pháp là những trở lực chính cho việc đề cao nguyên tắc
hiến định tại Pháp. Năm 1979 việc thông qua án lệ Liberté
d´Association đã là một bước ngoặt trong luật hiến pháp khi
Toà Bảo hiến tuyên án rằng đạo luật do quốc hội ban hành
này là vi hiến. Mặc dù đạo luật này nằm trong phạm vi thẩm
quyền của quốc hội, nhưng quan điểm của toà là quốc hội
vi phạm những cấm đoán thuộc về nội dung của luật hiến
pháp. Cụ thể hơn, toà cho rằng đạo luật này đã vi phạm
bản Tuyên ngôn về Nhân quyền 1789 và lời mở đầu cuả hiến
pháp 1946, mà hai văn kiện này có hiệu lực ràng buộc về pháp
lý. Đây là hai văn kiện làm cơ sở quyết định tính vi hiến.

Trước khi quyết định này ra đời không ai tại Pháp có thể
nghĩ rằng hai văn kiện trên là quan trọng và có hiệu lực
pháp lý, đặc biệt là lời mở đầu của hiến pháp 1946. Lời
mở đầu này chỉ là lời tuyên bố long trọng làm nền tảng
cho nguyên tắc được công nhận bởi luật hiến pháp. Toà cho
rằng bản Tuyên ngôn 1789, lời mở đầu của hiến pháp 1946 và
hiến pháp 1858, cả ba văn bản này tổng hợp là một toàn
khối quy định tính hiến định cho mọi luật lệ của nước
Pháp. Do đó, tất cả sự vi phạm những giá trị cơ bản này
bị xem là vi hiến. Như vậy, thẩm quyền của Toà Bảo hiến
xét tính cách vi hiến của một đạo luật được coi là khá
rộng. Đến năm 1974 thì vấn đề ai có quyền thỉnh cầu cứu
xét tính cách vi hiến của một đạo luật được đem ra bàn
cãi. Cuối cùng đi đến kết luận là chỉ có Tổng thống,
Thủ tướng, chủ tịch quốc hội, (thượng viện và hạ
viện), hoặc một nhóm dân biểu hay nghị sĩ mà số tối thiểu
phải là 60 người mới có quyền thỉnh cầu này. Trên thực
tế thì các lực lượng đối lập khó có thể kết hợp
được 60 người đồng thuận để sử dụng tố quyền này.

Từ sau cải cách 1974 thì Toà Bảo hiến đã tập trung nỗ lực
và nhiệm vụ bảo vệ những quyền tự do căn bản mà kết
quả là hàng loạt các luật lệ đã bị xem là vi hiến vì lý
do vi phạm nhân quyền và tự do. Toà Bảo hiến đã tập trung
vào một số các quyền căn bản như: nguyên tắc bình đẳng
trước pháp luật, nguyên tắc hợp pháp của hình phạt, nguyên
tắc bất hồi tố trong hình luật, tự do ngôn luận, tự do tư
tưởng, tự do báo chí, tôn trọng nhân phẩm v.v… Một trong
những thành tựu quan trọng nhất của Toà Bảo hiến là đã
đề ra những nguyên tắc: mọi luật lệ đều phải mang giá
trị hiến định. Giá trị này phải có hiệu lực pháp lý cho
tất cả các cơ quan công quyền, kể cả cơ quan lập pháp. Trong
một quyết định năm 1985 Toà Bảo hiến đã minh thị một
nguyên tắc chung mọi sinh hoạt pháp lý của Pháp: "Luật pháp
chỉ diễn tả một ý chí chung khi tôn trọng hiến pháp".

Cuối cùng, Toà Bảo hiến đã thắng ưu quyền lập pháp của
quốc hội. Hiến pháp của nền Đệ Ngũ Cộng hòa Pháp đã đem
lại một cơ chế kiểm soát quốc hội và hành pháp, nhằm
đảm bảo một sự ổn định trong sinh hoạt chính trị và
luật pháp. Từ nay không một đạo luật nào được thông qua
hay một quyết định nào của chính phủ có thể được thi
hành khi nó bị xem là vi hiến.

<h3>Giới hạn phạm vi cứu xét tính vi hiến</h3>

Toà Bảo hiến là cơ quan tối cao duy nhất có thẩm quyền cứu
xét tính cách vi hiến của một đạo luật. Nhưng trên thực
tế thì phạm vi và thủ tục cứu xét có bị hạn chế khi so
với hiến pháp Đức, Ý hay Tây Ban Nha.

Cứu xét tính vi hiến là một quyền tiên kiểm (a priori). Đây
là một nguyên tắc chung tại các quốc gia châu Âu, có nghĩa là
sự cứu xét này chỉ xảy ra khi luật chưa đưa vào áp dụng.
Đây cũng là một vấn đề tranh luận trong học giới. Vì chỉ
đặt vấn đề tính vi hiến trước khi áp dụng, nên sự nghiên
cứu về vi hiến quá trừu tượng, không dựa vào một trường
hợp cụ thể nào đã xảy ra trong thực tế của cuộc sống.
Vấn đề là khi luật ban hành rồi thì tính cách vi hiến không
còn có thể đặt ra để cứu xét được nữa. Nhưng thực tế
cho thấy là có những vấn đề phát sinh ngay sau khi luật
được áp dụng. Vấn đề các hiệp uớc cũng tương tự như
vậy, có thể có vấn đề nảy sinh sau khi ký kết hiệp ước
mà tính cách vi hiến không thể đặt ra được nữa.

Dĩ nhiên quyền tiên kiểm tính vi hiến cũng có lợi điểm của
nó. Một thí dụ cụ thể là về hiệu lực pháp lý của một
đạo luật. Khi một đạo luật bị thỉnh cầu cứu xét tính vi
hiến tại Toà Bảo hiến, thì một tháng sau dân chúng có thể
biết được luật này có giá trị hay không. Với truyền thống
tôn trọng ý chí lập pháp của quốc hội khá mạnh, chính
nguyên tắc tiền kiểm này giúp cho các nhà lập pháp có cơ
hội duyệt xét tính hợp hiến của đạo luật của mình, có
thể tu điều chỉnh những khiếm khuyết về nội dung.

Một bất lợi khác trong quyền tiên kiểm này là luật có thể
không được thỉnh cầu cứu xét tính vi hiến và được ban
hành mặc dù có nhiều điều khoản có thể bị nghi ngờ là vi
hiến. Điều 61 quy định rõ là chỉ có Tổng thống, Thủ
tướng, chủ tịch thượng viện hoặc hạ viện, hoặc ít nhất
có 60 dân biểu hoặc nghị sĩ là có quyền thỉnh cầu cứu xét
này. Vấn đề có thể xảy ra là khi các cơ quan này, vì lý do
nào đó, áp lực chính trị chẳng hạn, lại không muốn sử
dụng quyền thỉnh cầu của mình, thì vấn đề tính vi hiến
của đạo luật không còn có cơ hội nào đặt ra nữa. Một
thí dụ điển hình là sau cuộc khủng bố 9 tháng 11 tại New
York, quốc hội đã thông qua một đạo luật về bảo vệ an
ninh mà không tham khảo Toà Bào hiến. Theo nhận xét chung của
học giới thì ít nhất là có một điều khoản của luật này
có thể bị coi là vi hiến.

Hậu quả bất lợi này có thể tránh được nếu quyền thỉnh
cầu cứu xét được mở rộng cho từng cá nhân hay các toà án.
Đây là trường hợp mà Toà Bảo hiến Đức đã áp dụng. Mỗi
cá nhân đều có quyền khiếu tố trước Toà Bảo hiến Liên
bang Đức khi việc áp dụng một đạo luật vi phạm vào quyền
công dân của họ. Trong khi một toà án địa phương đang xử
một vụ kiện mà toà thấy rằng đạo luật được áp dụng
có nhiều điểm nghi ngờ về tính vi hiến, toà có quyền đình
chỉ vụ kiện và đề nghị Toà Bảo hiến Liên bang xét lại
tính vi hiến của đạo luật, từ trên cơ sở đó mà toà tiếp
tục giải quyết vụ kiện. Việc mở rộng tố quyền cứu xét
tính vi hiến này cho công dân và toà địa phương giúp cho việc
bảo vệ quyền công dân theo hiến pháp được hữu hiệu hơn.
Do đó, việc xét tính vi hiến của Toà Bảo hiến Pháp không
mở rộng và tốt bằng Toà Bảo hiến Đức.

Qua thời gian, Toà Bảo hiến Pháp đã đề ra những nguyên tắc
cơ bản, những án lệ quan trọng nhằm làm tiền đề trong
việc bảo vệ quyền lợi của người dân theo luật định. Theo
điều 62 của hiến pháp thì mọi quyết định của Toà Bảo
hiến là có hiệu lực ràng buộc về mặt pháp lý cho tất cả
các cơ quan công quyền, hành chánh cũng như tư pháp. Thượng
Hội đồng Quốc gia và Toà Phá án cũng luôn minh thị tôn
trọng thẩm quyền quyết định và giải thích của Toà Bảo
hiến. Nhưng thực tế thì sự áp dụng những nguyên tắc hiến
định vẫn còn bị hạn chế chỉ vì lý do duy nhất là dân
chúng và các toà án chưa có quyền xin cứu xét tính vi hiến
của một đạo luật như tại Đức. Một lối thoát cho vấn
đề này là dân chúng có khuynh hướng trưng dẫn luật quốc
tế để kiện thay vì trưng dẫn luật của nước Pháp. Đôi khi
dân chúng cũng nhờ đến áp lực của các phương tiện truyền
thông đại chúng hiện đại để gây ý thức vấn đề trong
công luận và tạo áp lực với chính quyền. Điều này làm suy
yếu đi phần nào ý nghĩa của việc cứu xét tính vi hiến trong
các vụ tranh chấp.

Toà Bảo hiến lại quy định rằng các tòa án, tùy theo thẩm
quyền quy định, có khả năng giải quyết các tranh chấp bắt
nguồn từ luật pháp hay các hiệp ước, trong khi Toà Bảo
hiến, dựa trên quyền tiên kiểm, có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp giữa các hiệp ước và các đạo luật này với
hiến pháp. Điều này đưa đến nhiều mâu thuẫn. Dựa trên
căn bản cấm xét lại tính cách vi hiến của một đạo luật
hay một hiệp ước đã ban hành, nên tất cả mọi luật lệ
của Pháp không chịu sự tái xét, bất kể là có tính vi hiến
hay không. Tuy nhiên, sự cấm đoán này không có ràng buộc về
mặt pháp lý cho các toà khi có sự tranh chấp với các điều
khoản về luật quốc tế. Điều 55 của hiến pháp quy định
rằng luật quốc tế có quyền ưu tiên hơn luật quốc gia, hậu
quả là toà án khi xét xử phải dành ưu quyền cho luật quốc
tế trước khi quyết định. Lấy trường hợp luật châu Âu
làm thí dụ. Luật châu Âu có ưu quyền trong việc áp dụng
tại Pháp cho dù mới thành hình sau này so với luật của Pháp.
Pháp là một thành viên trong Liên hiệp châu Âu nên cũng bị
ràng buộc bởi những quyết định pháp lý của toà án châu
Âu. Do đó, mọi quyết định của Toà Bảo hiến cũng phải bị
đưa ra trước các toà phúc thẩm này khi có tranh chấp.

Các khuynh hướng này có phần làm suy giảm tầm quan trọng của
Toà Bảo hiến, vì có nhiều khuynh hướng trong dân chúng thích
sử dụng luật quốc tế, luật châu Âu để làm cơ sở cho sự
tranh tụng hơn là dựa vào luật của Pháp, trong khi đó thì toà
án lại có khuynh hướng chung là dùng luật hiến pháp để
giải quyết tranh chấp khi có nghi ngờ về sự vi phạm nhân
quyền và các quyền căn bản khác. Nhưng nói như thế không có
nghĩa là phủ nhận hoàn toàn tầm quan trọng của Toà Bảo
hiến tại Pháp. Từ sau năm 1971 vai trò của Toà càng nổi bật
hơn và nhiều quyết định của Toà làm thay đổi các định
kiến trước đây. Có học giả cho rằng những ràng buộc về
tính cách hợp hiến do Toà đề ra để xét xử đã làm hình
thành khái niệm về nhà nước pháp quyền mà trước đây Carré
de Malberg đề xuất.

Để giải thích cho luận cứ này, nhiều học giả đã dẫn
chứng rằng Toà Bảo hiến đã đóng góp to lớn vào sự ổn
định của mọi sinh hoạt chính trị cho nước Pháp, vì tất
cả mọi cơ quan công quyền đều phải tự xét hành vi của
mình xem có hợp hiến hay không. Những quy định của hiến pháp
trở thành một giới hạn chung và giá trị của hiến pháp có
hiệu năng phòng ngừa mọi sự lạm quyền. Từ năm 1981 trở
đi, sự thay đổi chính trị của các cánh tả và hữu làm cho
vai trò cứu xét tinh hợp hiến càng trở nên quan trọng hơn
trong chính trị. Cho dù Toà Bảo hiến đã nhiều lần bị phê
bình về sự thiên vị của mình theo các khuynh hướng chính
trị đảng phái khi quyết định, nhưng công luận vẫn tin là
Toà Bảo hiến là một định chế độc lập, một cơ quan đem
lại sự quân bình trong mọi tranh chấp. Tòa Bảo hiến Đức là
một thí dụ điển hình cho khuynh hướng trung dung tốt đẹp
này.

<h2>3. Kinh nghiệm cho Việt Nam? </h2>

Lịch sử nước Pháp cho thấy đã có hai sự thay đổi cực
kỳ quan trọng: Cách mạng Pháp đã chuyển chủ quyền quốc gia
từ nhà vua sang nhân dân, nhưng với một hành trình nhiều gian
nan thì nền Đệ Ngũ Cộng hoà đã đem đến một cuộc cách
mạng thầm lặng, nhưng triệt để hơn, đó là sự hình thành
Toà Bảo hiến với thể chế hiến định làm căn bản, nguyên
tắc hiến định là thước đo cho mọi sinh hoạt, nhờ đó mà
khái niệm về nhà nước pháp quyền đã thực sự ra đời và
được áp dụng thành công.

Dù là Pháp hay Đức, khái niệm nhà nước pháp quyền đã đưa
ra quan điểm giá trị tối thượng của hiến pháp, bảo vệ
các quyền căn bản của người dân trước các cơ quan công
quyền. Khái niệm này, nhờ áp dụng đúng đắn, đã đem đến
sự quân bình quyền lực của các cơ quan hành pháp, lập pháp
và tư pháp. Thứ nhất, hành pháp bị lệ thuộc vào lập pháp
bằng cách thẩm quyền quốc hội được mở rộng trong việc
quy định những luật hành chánh có liên hệ đến quyền công
dân. Hơn nữa, khái niệm này gia tăng vai trò của tư pháp trong
trong việc xét xử các quyết định hành chánh. Từ nay tất cả
mọi hành vi tư pháp hay hành chánh khi liên quan đến quyền của
người dân đều có thể được đem ra xét xử trước pháp
luật. Quan trọng nhất là vai trò của Toà Bảo hiến trong thẩm
quyền cứu xét tính vi hiến các đạo luật và các quyết
định chính trị. Điều này đã đem lại ổn định chính trị
và niềm tin của dân chúng.

Việt Nam có thể học tập được gì qua kinh nghiệm này? Đã
có quá nhiều tham luận bàn đến việc thay đổi hiến pháp
Việt Nam mà ở đây không thể đi vào chi tiết nhưng chỉ dựa
trên kinh nghiệm của Pháp để đúc kết vấn đề.

Cũng giống như Pháp, Việt Nam đã có thành quả cách mạng và
không có khái niệm về pháp quyền. Dù không giống nhau về
nội dung khái niệm nhà nước pháp định và nhà nước pháp
quyền, nhưng Pháp và Đức đều có truyền thống chung là tôn
trọng pháp luật, trong khi đó thì Việt Nam không có truyền
thống này vì hoàn cảnh chiến tranh, mà thực tế cho thấy khi
hoà bình được tái lập Việt Nam cũng không hề chú tâm xây
dựng cơ sở này. Bằng chứng là sau khi giải phóng miền Bắc,
chính quyền đã đóng cửa trường Luật và cả hệ thống toà
án của Pháp để lại, và sau khi giải phóng miền Nam thì chính
quyền cũng làm một việc tương tự. Điều ngạc nhất nhiên
là cho đến nay không ai coi đó là một quyết định sai lầm.

Do nhu cầu đổi mới về kinh tế, do áp lực doanh giới nhằm
mở rộng đầu tư và muốn gây uy tín trên bước đường hội
nhập quốc tế, Việt Nam đã cho ra đời hàng loạt các luật
lệ để đáp ứng tình hình. Nhưng vì kỹ thuật lập pháp còn
thô sơ, phần do trình độ hạn chế nên việc áp dụng không
hề đạt yêu cầu như mong đợi. Trong hoàn cảnh hiện nay, làm
sao tạo ra tinh thần thượng tôn pháp luật và niềm tin vào vai
trò của hiến pháp như một giá trị nền tảng trong việc canh
tân đất nước là vấn đề cần đặt ra. Nhưng Việt Nam có
thể nghĩ gì và làm gì trong hiện tình?

Điểm suy nghĩ quan trọng nhất là Việt Nam chưa có Toà Bảo
hiến, một cơ quan nhằm xét tính vi hiến của mọi đạo luật,
mọi hành vi chính trị cũng như bảo vệ quyền công dân khi bị
vi phạm. Đây là một kinh nghiệm mà Việt Nam có thể học
được của Pháp và Đức để đưa khái niệm nhà nước pháp
quyền đi vào áp dụng. Nhưng Việt Nam có vấn đề của riêng
mình mà kinh nghiệm của Pháp không hề giúp được, đó là
cần xác định lại vai trò của Đảng trong khái niệm này. Khi
có Toà Bảo hiến rồi thì toà liệu có thẩm quyền xét xử
tính vi hiến của các quyết đinh chính trị của Đảng hay
không. Đó là một vấn đề cần thảo luận.

Nhưng phải làm gì trước mắt? Một kinh nghiệm khác của Đức
có thể là một khởi đầu trong việc thay đổi cho phù hợp
với tình hình mới. Triết gia Jürgen Habermas của Đức đã đưa
ra thuyết "lòng ái quốc dựa trên hiến pháp"
(<em>Verfassungspatriotismus</em>). Theo ông, chúng ta cần phải thay
đổi nội dung khái niệm lòng yêu nước. Ông lập luận rằng
yêu nước ngày nay là tìm hiểu, mến yêu và thi hành trân
trọng những giá trị cao cả do hiến pháp (tự do, dân chủ,
nhân quyền) mang lại hơn là yêu nước theo hình thức bảo vệ
đất nước như trước đây. Việt Nam đã từng nêu khẩu hiệu
yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội trong một thời gian dài.
Sau ngày đổi mới, Việt Nam vẫn chưa có phát động học tập
chủ trương tôn trọng nhà nước pháp quyền và yêu nước ngày
nay là yêu chủ nghĩa xã hội theo định hướng kinh tế thị
trường, bởi vì hai khái niệm này chưa hoàn chỉnh. Liệu Việt
Nam hôm nay có chấp nhận đề xuất ra cuộc thảo luận yêu
nuớc theo triết thuyết của Habermas không, đây chỉ là một
câu hỏi ngoài chủ đề của bài viết này.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/7841), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét