Nguyễn Tường Tâm - Biện minh trạng bênh vực TS Cù Huy Hà Vũ [1]

<h2>Lời giới thiệu</h2>

Bản "Biện Minh Trạng" này ngoài mục đích biện hộ cho
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ còn nhằm cung cấp một số kiến thức
luật học cho quần chúng, cho các đại biểu quốc hội đồng
thời cho cả giới chuyên môn tư pháp tại Việt Nam, trong đó
có các giáo sư trường đại học luật, các luật sư, các
Kiểm sát viên thuộc Viện Kiểm Sát các cấp và các chánh án
tòa án nhân dân mọi cấp, kể cả chánh án Tòa Án Nhân Dân
Tối Cao. Sở dĩ như vậy là vì kiến thức chuyên môn của các
giới chức liên quan tới ngành tư pháp tại Việt Nam còn quá
yếu kém khiến cho các quyền cơ bản của nhân dân bị vi phạm
thường xuyên.

Có nhiều trường hợp, có những người kết án hệ thống tư
pháp Việt Nam là dùng "luật rừng". Nhưng khi được hỏi
lại "luật Việt Nam là luật rừng" ở những điểm nào thì
hầu như đại đa số không dẫn chứng được. Bản "Biện
Minh Trạng" này giúp trả lời câu hỏi vừa nêu."Luật
rừng"là luật trái với hiến pháp, trái với các điều ước
quốc tế mà quốc gia ký kết tham gia hay là thành viên, hay mâu
thuẫn với những điều luật khác của quốc gia. Từ ngữ
"luật rừng" cũng được dùng để chỉ phương cách giải
thích hay áp dụng luật một cách tùy tiện của tòa án trái
với những nguyên tắc căn bản của luật hình sự như các
nguyên tắc: "Hình Luật phải được giải thích một cách
chặt chẽ", "Khi có nghi ngờ về bằng chứng của tội phạm
thì tòa án phải tha bổng bị can", "luật pháp quốc gia
phải nhượng bộ trước các điều ước quốc tế mà quốc gia
tham gia hay ký kết" v.v...

Bản "Biện Minh Trạng" này hoàn toàn dựa trên Hiến Pháp và
những điều luật hiện hành của Việt Nam cùng với những
nguyên tắc căn bản trong việc giải thích và áp dụng luật
hình sự như vừa nêu.

Theo báo cáo của Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, nhiều chánh
án không đủ năng lực. [Tại phiên chất vấn trước quốc
hội sáng 27/11/2006, Chánh Án Tòa Án Tối Cao Nguyễn Văn Hiện
đã gây sốc khi trả lời rằng, ngành phải "vơ vét" người
chưa đủ năng lực để không bị thiếu thẩm phán.] Cũng vì
chánh Án tại Việt Nam còn thiếu kiến thức về luật học nên
cũng theo báo cáo hàng năm của bộ tư pháp có rất nhiều án
oan sai. Kiến thức yếu kém của luật sư lão thành Trần Lâm,
cựu chánh án tòa án nhân dân tối cao là một ví dụ. Luật sư
Trần Lâm, mặc dù là một người có lòng nhưng trong phiên
biện hộ trước tòa của ông đối với bị cáo Vi Đức Hối
bị truy tố theo điều 88 BLHS, ông đã chứng tỏ thiếu kiến
thức về luật học. Thay vì tranh biện pháp lý thì ông lại
gián tiếp thừa nhận bị can có tội và rồi bằng một lập
luận phi pháp lý ông viện dẫn tình hình xã hội và chính trị
để đi tới kết luận cũng phi pháp lý là "<em>xin miễn
trách nhiệm hình sự hoặc chỉ áp dụng hình phạt cảnh
cáo</em>". Dĩ nhiên tòa án đã hợp lý khi bác yêu cầu
này và trao cho bị can một bản án nặng khiến ông sửng sốt.

Kiến thức luật học của các chánh án mọi cấp đã thấp thì
kiến thức luật học của các kiểm sát viên thuộc viện kiểm
sát mọi cấp cũng thấp tương tự. Vì tất cả họ đều là
cán bộ tư pháp của nhà nước được đào tạo từ cùng một
hệ thống trường lớp.

Những cán bộ nhà nước là chánh án và kiểm sát viên mà
kiến thức luật pháp còn quá yếu thì kiến thức luật học
của các đại biểu quốc hội, là những người không bị đòi
hỏi phải có trình độ về luật pháp còn yếu kém hơn nhiều.
Một ví dụ sống động là ông Nguyễn Văn An, (nguyên Ủy viên
Bộ chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội, nguyên Trưởng ban
Tổ chức Trung ương). Mặc dù ông An có thiện chí và nhận
thấy có điểu bất cập trong hệ thống luật pháp và tư pháp
Việt nam và đề nghị cần thay đổi mạnh mẽ. Nhưng vì kiến
thức pháp lý của ông có nhiều hạn chế nên việc trình bày
của ông không rõ ràng, có khi còn lộ rõ ông không có căn bản
pháp lý. Bài "<em>Cựu chủ tịch Quốc hội bàn chuyện sửa
Hiến pháp</em>" của Tác giả: Thu Hà đăng trên Tuần Việt Nam
ngày: 16/06/2010 06:00 GMT+7 cho thấy ông cựu chủ tịch quốc hội
không hiểu gì về trách nhiệm của quốc hội. Ông tuyên bố,
"<em>Quốc hội vừa lập hiến, vừa lập pháp, người ta gọi
như thế là vừa đá bóng, vừa thổi còi</em>." ?!

Người viết không có tài liệu cho thấy khả năng của các
giáo sư đại học luật tại Việt Nam, và cũng chưa được
đọc sách giáo khoa của trường đại học luật nào tại Việt
Nam, nhưng qua đánh giá kiến thức của các chánh án và kiểm
sát viên đủ biết được khả năng của các giáo sư trường
đại học luật của Việt Nam không cao. Nếu các giáo sư đại
học luật có kiến thức khá thì đã không đưa tới tình
trạng thiếu kiến thức luật học phổ biến trong giới chánh
án và kiểm sát viên như hiện nay.

Một hệ thống đại học luật thiếu trình độ dĩ nhiên không
thể đào tạo được những luật sư có kiến thức cần thiết
để bảo vệ công lý không những cho nạn nhân mà còn cho cả
bị cáo.

Như vừa trình bày, các thành phần đảm trách những nhiệm vụ
quan trọng trong hệ thống tư pháp Việt Nam đều có kiến thức
quá hạn chế về tư pháp. Ngay cả ông Nguyễn Văn An (nguyên
Ủy viên Bộ chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội, nguyên
Trưởng ban Tổ chức Trung ương) trong bài "<a
href="http://www.danchimviet.info/archives/23049">Nguyên Chủ tịch Quốc
hội khuyến nghị đổi mới hệ thống chính trị</a>" của
tuanvietnam đăng trên trang mạng Đàn Chim Việt ngày mùng 8/12/2010
cũng luôn khẳng định phần trách nhiệm của mình về những
nhận thức và việc làm còn nhiều hạn chế và yếu kém của
ông khi còn đương nhiệm. Như vậy sự kiện dân chúng không
hiểu biết về các quyền hạn pháp lý của mình và do đó
không dám và không biết cách đòi hỏi chính quyền phải thực
hiện những cải tổ cần thiết là điều đương nhiên.

Nhận thức được tầm quan trọng của tình trạng thiếu hiểu
biết pháp luật phổ biến trong xã hội Việt Nam ngày nay, tiến
sĩ Cù Huy Hà Vũ mới tung ra các hoạt động mang nặng tính lý
thuyết luật học như các bài viết hay các vụ kiện tụng như
kiện thủ tướng v.v... Mặc dù ông biết trước là các hoạt
động mang tính luật học của ông sẽ không thành công như
kiện thủ tướng, đòi hủy bỏ điều 4 hiến pháp, ứng cử
bộ trưởng v.v... nhưng ông nói rõ mục đích của các việc
làm đó cốt để dân chúng biết được các quyền của mình
mà đòi hỏi chính quyền phải thi hành. Bản "Biện Minh
Trạng" này cũng nằm trong chiều hướng mà tiến sĩ Cù Huy Hà
Vũ nhắm tới, là cung cấp các kiến thức về luật học cho
toàn thể nhân dân và cán bộ, bộ đội mọi ngành, mọi cấp
trong nước để chuẩn bị bước đầu cho một sự thay đổi
"hệ thống" như cựu chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An đã
phát biểu.(1)

<h2>Đâu là mức độ kiến thức pháp lý cần thiết cho các
giới chức lãnh đạo ngành tư pháp?</h2>

Các luật sư, chánh án, kiểm sát viên viện kiểm sát, các cán
bộ lãnh đạo bộ tư pháp hay cán bộ lãnh đạo ngành công an
tư pháp cấp bộ cần có kiến thức pháp lý của những luật
gia (jurists). Thế nhưng Việt Nam hiện không có các luật gia,
ngoại trừ một số ít những luật gia được đào tạo bài
bản tại các trường luật phương tây như Pháp, Mỹ, Anh, Úc
v…v. Việt Nam hiện chỉ có các "thư ký tòa án" đảm nhận
vai trò của các luật gia.

Luật gia khác thư ký tòa án. Luật gia có và cần phải có đủ
kiến thức để giải thích và áp dụng luật pháp, để hiểu
các tranh cãi pháp lý. Thư ký tòa án không cần khả năng giải
thích luật pháp, không cần biết các lý thuyết pháp lý. Một
thư ký tòa án có thể biết ngay tội hiếp dâm bị khung án bao
nhiêu nếu hàng ngày họ quen thuộc với khung án này. Nhưng một
luật gia, ví dụ chánh án, có thể và có quyền không nhớ
khung án. Khi cần thiết họ có thể mở bộ luật hình sự để
tìm khung án. Nhưng luật gia hơn một thư ký tòa án ở điểm
luật gia có khả năng nghe, hiểu và giải thích những tranh cãi
về bằng chứng giữa luật sư biện hộ và bên công tố (viện
kiểm sát) để xem hành vi đang được tòa xem xét có là một
tội phạm được qui định bởi điều luật viện dẫn hay
không. Và nếu đúng là một tội phạm được định nghĩa trong
điều luật viện dẫn thì lại phải xem hành vi đó có ở
trường hợp gia trọng (để gia tăng hình phạt) hay giảm nhẹ
(để giảm hình phạt) hay ở trường hợp miễn trách nhiệm vì
ở trường hợp tự vệ chính đáng. Rất nhiều ví dụ cho
thấy luật gia hoàn toàn hơn hẳn một thư ký tòa án, mà vừa
rồi chỉ là một ví dụ thông thường và dễ hiểu. Một ví
dụ khác hơi phức tạp hơn, cho thấy vụ án cần được giải
quyết bởi một luật gia chứ không phải bằng một vị
"chánh án" chỉ có kiến thức của một "thư ký tòa án"
đó là vụ án người vợ kiện người chồng tội hiếp dâm
mình. Vấn đề đặt ra tranh cãi ở đây trên bình diện lý
thuyết luật học là "Có thể nào người chồng bị kết tội
hiếp dâm người vợ hay không?" Giải quyết tranh cãi lý
thuyết này, một thư ký tòa án không làm được mà phải cần
một luật gia.

Thế nhưng trường đại học luật của Việt Nam không có
chương trình và không đủ khả năng đào tạo các luật gia
(jurist) như của phương tây hay của miền Nam Việt nam trước
1975. Nếu trường đại học luật của Việt Nam hiện nay đủ
khả năng đào tạo các luật gia thì đã không có tình trạng
thiếu kiến thức luật học phổ biến trong giới chánh án và
kiểm sát viên như hiện nay.

Những luật gia ít nhất phải là những người có kiến thức
cơ bản về xã hội, chính trị, lịch sử, kinh tế, triết
học, hành chánh công quyền của phương tây v.v..., vì những
tiến bộ về các mặt đó của phương tây trong 2000 năm qua,
đặc biệt là từ cuộc cách mạng dân quyền 1789 tại Pháp đã
và đang chi phối mọi mặt của đời sống nhân loại văn minh.
Các kiến thức trên các mặt đó liên quan tới kiến thức
luật học. Bởi vì, luật pháp không phải là những nguyên tắc
được nghĩ ra từ chân- không bởi những "đầu óc siêu
việt" để bắt buộc người dân phải tuân theo. Luật pháp
là những nguyên tắc có tính cách bắt buộc được phát sinh
từ cuộc sống (qua ý chí chung của mọi công dân.)

Ngoài ra, và trên hết, cũng như mọi sinh viên tốt nghiệp đại
học, các luật gia phải biết tư duy và lý luận độc lập.
Chính cái khả năng tư duy và lý luận độc lập này khiến các
luật sư, chánh án, kiểm sát viên, những người tốt nghiệp
đại học luật 4 năm trở lên trở thành những luật gia, khác
biệt lớn với các thư ký tòa án, là những nhân viên trung
cấp, chỉ cần có khả năng thừa hành. Cái kiến thức cơ bản
tổng quát, và khả năng tư duy và lý luận độc lập là điều
nhà trường xã hội chủ nghĩa không có khả năng và cũng không
được phép đào tạo cho sinh viên. Việc giáo dục từ tiểu
tới đại học tại Việt Nam vẫn phải dựa trên tư tưởng
và phương pháp tư duy Mác-Lê đã làm thui chột khả năng tư
duy và lý luận độc lập của tất cả mọi sinh viên tốt
nghiệp đại học trong nước nói chung. Và sinh viên tốt nghiệp
đại học luật của Việt nam cũng không ngoại lệ. Vì thế
Việt nam hiện nay không có luật gia mà chỉ có những vị
"thư ký tòa án" đang đảm nhận tất cả mọi trọng trách
trong hệ thống tư pháp. Điều này gây nguy hại cho các quyền
dân sự và chính trị của người dân đồng thời gây cản
trở tiến trình cải tổ tư pháp, một cải tổ nền tảng của
mọi cải tổ khác trong xã hội.

<h2>Ghi chú ngoài biện minh trạng:</h2>

Phiên tòa xử Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, theo kinh nghiệm của các
vụ án chính trị tương tự, sẽ có hàng trăm người dân muốn
tới tham dự. Nhưng đại đa số phải đứng ngoài phòng xử
để chờ kết quả mà không được theo dõi diễn tiến trong
phòng xử. Trong phòng xử ngoài hai luật sư Nguyễn Thị Dương
Hà và Trần đình Triển bênh vực cho bị can, chỉ có sự tham
dự của những người có giấy mời, mà đa số ai cũng biết
là các nhân viên công an và các cán bộ địa phương, hay cán
bộ từ các cơ quan được điều tới gọi là để học tập
nhưng thực ra là để giả làm cảnh dân chúng tham gia phiên
tòa.

Tất cả các nhà báo, nhân viên ngoại giao muốn theo dõi phiên
xử đều được cho ngồi ở phòng bên, theo dõi phiên xử qua
truyền hình trực tiếp. Biện pháp này vừa đóng kịch là
phiên tòa công khai, tự do, vừa bảo đảm những tranh luận
"nhậy cảm" trước tòa giữa bị can và luật sư bào chữa
với đại diện Viện Kiểm Sát không lọt được ra ngoài qua
kỹ xảo gây nhiễu âm thanh khi cần thiết.

Sau những nghi thức thông thường ban đầu, vị đại diện
Viện Kiểm Sát Nhân Dân đọc bản cáo trạng kết án Cù Huy Hà
Vũ.

Sau khi kết thúc bản cáo trạng, chánh án cho phép luật sư
biện hộ.

Đầu tiên, hai luật sư biện hộ nêu lên ba điều tiên quyết
trước khi xét tới chính vụ.

<h2>Phần chính biện minh trạng:</h2>

<h3>MÀN 1:</h3>

- Thưa quí tòa, Viện Kiểm Sát Nhân Dân, căn cứ theo điểm c,
khoản 1, điều 88 BLHS, đã truy tố thân chủ Cù Huy Hà Vũ của
chúng tôi về tội: Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trước hết, chúng tôi có 3 yêu cầu tiên quyết cần được
quí tòa xem xét trước khi xét tới chính vụ.

1- Điều tiên quyết thứ nhất là điều 88 Bộ Luật Hình Sự
(BLHS) mà Viện Kiểm Sát Nhân Dân dựa vào để khởi tố thân
chủ chúng tôi đã vi phạm điều 69 Hiến Pháp (HP). Điều 69
Hiến Pháp qui định: "Công dân có quyền tự do ngôn luận,
tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp,
lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật." Các
điều luật, xuất hiện sau bản Hiến Pháp, chỉ nhằm tạo dễ
dàng cho công dân và bảo vệ công dân trong việc hành xử các
quyền tư do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin
v.v... chứ không thể hạn chế các quyền này như điều 88 BLHS.
Điều 88 BLHS qui định: "<em>Tội tuyên truyền chống nhà
nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam:</em>

<em>1. Người nào có hành vi sau đây nhằm chống nhà nước
Cộng hòa XHCN Việt Nam sẽ bi phạt tù từ 3 năm đến 12
năm:</em>

<em>a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân
dân.</em>

<em>b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao
tin bịa đặt trong nhân dân.</em>

<em>c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liêu, văn hóa phẩm có
nội dung chống nhà nước…</em>"

Như vậy, điều 88 BLHS không những hạn chế các quyền tự do
của người dân được qui định trong điều 69 HP mà thậm chí
còn gần như tiêu diệt các quyền này. Đây là một vi phạm HP
một cách trầm trọng. Bởi thế tôi thỉnh cầu tòa án hoặc
truyền miễn tố thân chủ chúng tôi vì thiếu cơ sở pháp lý
hoặc tiến hành các thủ tục cứu xét tính vi hiến của điều
88 BLHS. (2)

2- Điều tiên quyết thứ nhì là điều 88 BLHS đi ngược lại
điều 19 của Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc
(Article 19 of the U. N. Declaration of Human Rights) mà Việt Nam không
những là một thành viên mà đã từng là một thành viên quan
trọng, chủ tịch Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc vào tháng
7/2008. Điều 19 của Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Liên Hiệp
Quốc qui định: "<em>Mọi người đều có quyền tự do tư
tưởng và bày tỏ quan điểm của mình;quyền này gồm tự do
có những quan điểm mà không bị cản trở và tự do tìm kiếm,
tiếp nhận và phổ biến thông tin và quan điểm bằng mọi
phương tiện truyền thông, và bất kể biên giới quốc
gia.</em>"

Thêm nữa, quyền của ông Hà Vũ cũng đã được minh thị trong
Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Dân Sự Và Chính Trị (the
International Covenant on Civil and Political Rights) mà Việt Nam có tham
gia ký kết từ năm 1982.

Như vậy việc truy tố thân chủ chúng tôi vì thân chủ chúng
tôi hành xử một quyền đã được qui định trong luật quốc
tế được Việt Nam công nhận rõ ràng là một vi phạm vào
luật quốc tế.

Vả chăng, theo điều 8 của Luật "Ký Kết, Gia Nhập và Thực
Hiện Điều Ước Quốc Tế" của Quốc Hội Việt Nam năm 2005,
Việt Nam chấp nhận sự ràng buộc của mọi điều ước quốc
tế mà Việt Nam ký kết hay là thành viên gia nhập. Thêm nữa,
khoản 1, điều 6 của luật "Ký Kết…" này cũng qui định
"<em>Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp
dụng quy định của điều ước quốc tế.</em>" Như vậy
việc truy tố thân chủ chúng tôi vì thân chủ chúng tôi hành
xử một quyền đã được qui định trong luật quốc tế
được Việt Nam công nhận cũng lại rõ ràng là một vi phạm
vào khoản 1, điều 6 của Luật "Ký Kết, Gia Nhập và Thực
Hiện Điều Ước Quốc Tế" của Quốc Hội Việt Nam năm 2005.

Trong thực tế, Việt Nam đã từng miễn tố và trả tự do vô
điều kiện cho những ngoại kiều gốc Việt và trục xuất họ
về nước sau khi bắt giữ và khởi tố họ vì họ có những
hành vi bày tỏ chính kiến giống như ông Cù Huy Hà Vũ. Mới
nhất là vụ trả tự do cho bà Võ Hồng, một công dân Úc gốc
Việt vào ngày 20/10/2010. Trả tự do vô điều kiện cho công dân
Úc Võ Hồng không phải vì Việt Nam sợ nước Úc mà chỉ vì
theo luật quốc tế cũng như theo luật Việt Nam, Việt Nam không
thể kết tội bà Võ Hồng dựa trên điều 88 BLHS. Nếu bây
giờ quí tòa định kết tội thân chủ chúng tôi dựa trên
điều 88 BLHS thì chẳng hóa ra Việt Nam có hai tiêu chuẩn pháp
lý: Một áp dụng cho ngoại kiều gốc Việt, và một cho công
dân Việt Nam. Như vậy lại trái với điều 52 của HP Việt Nam.
Điều 52 của HP qui định, "<em>Mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật</em>". Vì vậy ở đây lại thấy có thêm
một lý do nữa khiến quí tòa cần miễn tố thân chủ chúng
tôi vô điều kiện.

3- Điều tiên quyết thứ ba thuộc về thủ tục tố tụng.
Việc tòa án xét xử thân chủ chúng tôi bằng một phiên tòa
nửa kín nửa công khai như thế này là trái Hiến Pháp Việt
Nam, trái luật tố tụng hình sự Việt Nam và trái Công Ước
Quốc Tế Về Các Quyền Dân Sự Và Chính Trị.
Điều 131 HP qui định "<em>Toà án nhân dân xét xử công khai,
trừ trường hợp do luật định.</em>"

Điều 18 Luật Hình Sự Tố Tụng Việt Nam qui định,
"<em>Việc xét xử của Toà án được tiến hành công khai,
mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ
luật này quy định.</em>" Điều 18 này cũng qui định tòa án
chỉ xét xử kín trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí
mật quốc gia, bảo vệ thuần phong mỹ tục hoặc để giữ bí
mật của đương sự…

Điều 14 Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Dân Sự Và Chính
Trị qui định "<em>chỉ có thể áp dụng những phiên tòa xử
kín, không cho báo chí và công chúng tham dự, nếu có nhu cầu
đạo lý, trật tự công cộng hay an ninh quốc gia… hay để
bảo vệ đời sống riêng tư của các đương sự tranh
tụng…</em>"

Phiên tòa xử kín không có lý do là một sự truy bức tinh thần
bị can, trái với điều 6 của Luật Tố Tụng Hình Sự. Chỉ
trong phiên tòa xử công khai bị can mới cảm thấy thoải mái,
an tâm và bảo đảm rằng lời khai của họ được tự do,
không bị áp lực, hay truy bức.

Đồng thời chỉ trong phiên tòa công khai, mọi công dân đều
có quyền tham dự, thì mới bảo đảm được sự công bằng
của tòa án và bảo đảm quyền tham gia quản lý nhà nước
của mọi công dân, một quyền được qui định trong điều 53
Hiến Pháp.

Ở đây, các sự kiện Viện Kiểm Sát viện dẫn để khởi tố
thân chủ chúng tôi hoàn toàn không liên quan tới đạo đức hay
bí mật quốc phòng, vì vậy hoàn toàn không có lý do gì để
tòa không mở phiên tòa công khai và mọi người đều có quyền
tham dự để xét xử thân chủ chúng tôi.

Thêm nữa, theo điều 4 của Luật Hình Sự Tố Tụng, các vị
Kiểm Sát Viên, chánh án và các hội thẩm có nhiệm vụ
"<em>thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết
của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc
thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp
luật hoặc không còn cần thiết nữa.</em>" tôi thỉnh cầu
quí tòa chỉ thị thay đổi ngay tức khắc thủ tục xét xử
hiện nay và ra lệnh xét xử công khai để tất cả mọi người
muốn theo dõi vụ án đều có thể tự do vào phòng xử án mà
không cần phải có giấy mời như hiện nay, và những ai không
muốn theo dõi vụ án có thể tự do ra về. Ghế ngồi trong
phòng xử án sẽ được ưu tiên cho những ai tới trước. Trong
trường hợp số người muốn theo dõi vụ án quá đông vượt
khỏi khuôn khổ phòng xử án thì tòa cần tạo điều kiện
để họ theo dõi phiên xử một cách thoải mái qua truyền hình
trực tiếp, không cắt xén, không gây nhiễu sóng phát âm và
phát hình.

Chánh án: Tất cả các điều tiên quyết do luật sư biện hộ
nêu lên đều không hợp lý ?! Tòa tuyên bố tiếp tục phiên
xử theo điều kiện hiện tại?!

(Mọi người đều ngơ ngác!)

___________________

<h2>Ghi chú:</h2>

(1) Trong bài "Nguyên Chủ tịch Quốc hội khuyến nghị đổi
mới hệ thống chính trị" ông Nguyễn Văn An, cựu chủ tịch
quốc hội phát biểu: "Tôi mong muốn Bộ Chính trị và Ban
Chấp hành Trung ương, mong muốn Đại hội XI chọn khuynh hướng
thứ hai, khuynh hướng SỬA LỖI HỆ THỐNG, khuynh hướng đổi
mới tư duy toàn diện và triệt để, cả kinh tế và chính trị
thì chúng ta mới khắc phục được lỗi hệ thống,"

(2) Vẫn biết rằng Việt Nam không có Tòa Bảo Hiến, nhưng
không phải vì thế mà luật sư biện hộ không nêu lên. Còn
việc giải quyết vấn đề là thuộc tòa án. Nếu tòa không
giải quyết một yêu cầu chính đáng của luật sư biện hộ
thì trách nhiệm thuộc tòa án. Trong một quốc gia dân chủ, đã
có hiến pháp thì phải có một cơ quan bảo vệ hiến pháp. Cơ
quan bảo vệ hiến pháp có nhiệm vụ giải thích và bảo vệ
hiến pháp. Tại Mỹ có Tòa Tối Cáo (the Supreme Court of the United
States functions as guardian and interpreter of the Constitution.) Tại
Đức cơ quan bảo vệ hiến pháp là Tòa Bảo Hiến Liên Bang (The
Federal Constitutional Court)
(http://www.tatsachen-ueber-deutschland.de/en/political-system/main-content-04/the-federal-constitutional-court.html).
Tại Miền Nam Việt Nam trước kia có Viện Bảo Hiến.

Việt Nam hiện nay không có cơ quan bảo vệ hiến pháp. Đây là
một thiếu sót trầm trọng và cần phải sửa chữa cấp thời.
Nhưng một trở ngại lớn là các vị chánh án của tòa bảo
hiến phải là những luật gia giầu kiến thức pháp lý và
nhiều kinh nghiệm. Một điều mà còn phải mất thời gian ít ra
là cả chục năm nữa Việt Nam mới may ra có được.

(còn tiếp)

© Nguyễn Tường Tâm

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/7860), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét