Nguyễn Gia Kiểng - Chuẩn bị cho một làn sóng dân chủ mới

<div class="special_quote">"…Sự thay đổi bắt buộc phải đến,
và đã đến. Nó bắt đầu tại những nước Hồi Giáo Ả Rập
bởi vì đó là những nước chín muồi nhất cho một sự thay
đổi chế độ…"</div>

Những biến cố khởi đầu từ Tunisie và tràn sang các nước
lân cận, làm sụp đổ các chế độ độc tài tại Tunisia và
Ai Cập và làm chao đảo các chính quyền Yemen và Algeria đang
khiến thế giới tự hỏi: phải chăng một làn sóng dân chủ
mới vừa bắt đầu? Câu hỏi có cơ sở vì tất cả những
cuộc xuống đường này đều có chung một mục đích rõ rệt
là đánh đổ các chế độ độc tài và đòi dân chủ; càng có
cơ sở vì tại nước Côte d'Ivoire cách đó không xa lắm tập
đoàn Laurent Gbagbo cũng đang khốn đốn vì không tôn trọng kết
quả của một cuộc bầu cử dân chủ. Đối với người Việt
Nam, câu hỏi tự nhiên là: liệu làn sóng dân chủ này có đem
lại cho chúng ta một hy vọng nào không?

<h2>Dân chủ và những bước thăng trầm</h2>

Để trả lời những câu hỏi này, trước hết cần nhắc lại,
dù là một cách ngắn gọn, bản chất của dân chủ và ý nghĩa
của những đợt bùng phát của nó mà các nhà nghiên cứu gọi
là những làn sóng dân chủ.

Cho tới nay nhiều người vẫn tự hỏi có một chủ nghĩa nào
làm nền tảng cho dân chủ không. Câu trả lời dứt khoát là
có, và đó là <em>chủ nghĩa cá nhân tự do</em> (Liberal
individualism), hay gọi tắt là chủ nghĩa cá nhân (1). Dân chủ
là thể hiện của chủ nghĩa cá nhân. Tinh thần nền tảng của
chủ nghĩa cá nhân là lấy cá nhân làm đối tượng phục vụ
và dành cho cá nhân chỗ đứng trước hết và trên hết. Niềm
tin nền tảng của nó là con người tự do sáng tạo hơn, có
tinh thần trách nhiệm hơn, có khả năng lớn hơn và đóng góp
nhiều hơn. Cá nhân ở đây không có nghĩa la "bản thân mình"
mà phải được hiểu là <em>con người được nhìn một cách
độc lập với tư cách thành viên của một tập thể nào
đó</em>. Con người này vừa trừu tượng vừa phổ cập, vì
không là riêng ai cả nhưng lại hiện diện trong mọi người
không phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo, chính kiến,
thành phần xã hội v.v..., và vì thế được coi là giá trị cao
nhất. <a
href="http://thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=10">Bản
Tuyên Ngôn Phổ Cập Về Quyền Con Người</a> (hay Tuyên Ngôn
Quốc Tế Nhân Quyền) có thể được coi là tuyên cáo của chủ
nghĩa cá nhân (2); nó qui định một không gian cá nhân không
thể xâm phạm và một không gian công quyền thuộc nhà nước,
ở giữa là một không gian xã hội dân sự gồm các kết hợp
của người dân không lệ thuộc chính quyền. Trong triết lý
chính trị này không có "tổ quốc trên hết", quốc gia là một
tình cảm và một không gian liên đới, chính quyền được nhìn
như công cụ để tổ chức và bảo đảm các quyền tự do cá
nhân, để tự do của người này không huỷ diệt tự do của
người khác, nhưng tự do của người này chỉ dừng lại để
tự do của người khác bắt đầu. Một chính quyền như thế
là một chính quyền dân chủ.

Nhìn lại lịch sử loài người ta có thể nhận xét là tuy có
những giai đoạn thăng trầm nhưng nói chung con người ngày càng
tự do hơn và càng giành được một chỗ đứng quan trọng hơn,
nhất là từ hơn hai thế kỷ nay. Có thể nói lịch sử nhân
loại là cuộc hành trình của con người về tự do; và vì dân
chủ là phương thức tổ chức xã hội để thực hiện tự do
nên cũng có thể nói lịch sử thế giới là cuộc hành trình
của các dân tộc về dân chủ. Trong cuộc hành trình khó khăn
đó dân chủ đã gặp nhiều trở ngại, từ những quyền lực
thống trị dã man bằng bạo lực không phân biệt con người
với thú vật và dụng cụ, đến những ảo tưởng về một
thiên đường tương lai đòi hỏi những hy sinh hôm nay, qua
những chế độ thần quyền trong đó kẻ cầm quyền tự xưng
là đại diện của một thần linh và chỉ chịu trách nhiệm
trước thần linh đó, những chủ nghĩa dân tộc cực đoan,
những chủ nghĩa thực dụng coi thỏa mãn những nhu cầu vật
chất là ưu tiên cao nhất nếu chưa phải là tất cả, những
chủ nghĩa tập thể coi con người chỉ có ý nghĩa như là thành
tố của một tập thể được coi là trên hết như tổ quốc,
giáo hội, đảng v.v. Đánh phá thâm độc và dai dẳng nhất
nhắm vào dân chủ là đồng hoá chủ nghĩa cá nhân, nền tảng
của dân chủ, với chủ nghĩa vị kỷ, với hệ luận là dân
chủ dẫn đến rời rạc và hỗn loạn.

Sau những nhắc lại trên, ta có thể nói đã có những làn sóng
dân chủ, mỗi lần nhắm vượt qua một loại trở ngại, củng
cố thêm ý thức dân chủ và đem chế độ dân chủ đến cho
một số quốc gia. Tiếp theo là một giai đoạn trong đó là dân
chủ khựng lại thậm chí có thể lùi bước. Sự thăng trầm
này có lý do của nó. Đó là vì dân chủ vừa khó đạt được
lại vừa khó gìn giữ. Bằng cớ là phải nhiều ngàn năm sau
khi con người biết sống có tổ chức dân chủ mới ló dạng
tại Hy Lạp rồi tắt lịm, phải đợi thêm hai ngàn năm nữa
nó mới xuất hiện trở lại một cách rụt rè tại một vài
nơi tại Châu Âu và mới chỉ phát triển mạnh gần đây. Nhưng
dân chủ là cách sinh hoạt tự nhiên của xã hội văn minh nên
nó chín muồi dần với đà tiến hoá của xã hội và tới một
mức độ nào đó nó đủ mạnh để san bằng một số trở
ngại đồng thời đánh đổ một số chế độ bạo ngược.
Đó là một làn sóng dân chủ. Sự kiện một thanh niên nghèo
khổ bán rau bị cảnh sát tát tai và tịch thu xe rau uất ức
tự thiêu tại một thị trấn nhỏ không ai biết đến trong
một nước Tunisia nhỏ bé đã có thể phát động cả một làn
sóng đấu tranh làm sụp đổ các chế độ độc tài Tunisia và
Ai Cập, và sắp làm chao đảo nhiều chế độ độc tài khác
chỉ có thể có vì tình hình đã chín muồi, chỉ chờ một
biến cố khởi động.

Sự khựng lại sau đó là do sự phản công của các thế lực
chống dân chủ lợi dụng những sai lầm và lúng túng không
tránh khỏi của các chế độ dân chủ mới thành lập trong
những ngày đầu khó khăn. Những khó khăn này là tự nhiên
bởi vì sinh hoạt dân chủ đặt nền tảng trên các chính
đảng trong khi các chế độ độc tài sau suốt quá trình cấm
đoán và tiêu diệt các đảng đối lập chỉ để lại một
khoảng trống chính trị khi cuối cùng chúng phải sụp đổ. Tuy
nhiên sự thoái bộ nếu xảy ra cũng không thể triệt tiêu
những thành quả của làn sóng dân chủ trước đó. Nói chung,
dù có những giai đoạn thăng trầm, trong dài hạn dân chủ vẫn
tiến tới, và tiến tới một cách ngày càng mạnh mẽ hơn.
Trào lưu dân chủ hoá không thể đảo ngược. Vài con số đủ
để chứng minh sự thực này: ở đầu thế kỷ 20, hơn một
thế kỷ sau làn sóng dân chủ đầu tiên, chỉ có khoảng mười
nước dân chủ: Mỹ và một vài nước Tây và Bắc Âu. Đã
thế, trừ Hoa Kỳ, các nước này cũng chưa hẳn là dân chủ
bởi vì đồng thời cũng là những nước thực dân vi phạm
nhân quyền ở các thuộc địa. Vào năm 1973 đã có 40 nước
dân chủ, chiếm 26% tổng số 150 nước trên thế giới. Năm
1995, sau làn sóng dân chủ thứ ba, đã có 118 nước dân chủ
trên tổng số 191 nước (62%). Điều đáng chú ý là dù mọi
nghiên cứu đều đồng ý là dân chủ đã thoái bộ từ sau 1995
con số các nước dân chủ vẫn tăng lên chứ không giảm đi.
Hiện nay, chưa kể những nước đang chuyển động về dân chủ
như Tunisia, Ai Cập, Côte d'Ivoire và Yemen, đã có 121 nước dân
chủ trên tổng số 194 nước (63%).

<h2>Các làn sóng dân chủ đã diễn ra như thế nào?</h2>

<span class="underlined-text">Làn sóng dân chủ đầu tiên bắt đầu
với cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ năm 1776 và Cách Mạng Pháp 1789 và
nhắm lật đổ các chế độ quân chủ tuyệt đối dựa trên
thần quyền</span>. Trước đó ánh sáng dân chủ chỉ mới le
lói tại Hòa Lan và Anh. Tôn giáo bị xét lại trong thời điểm
này là Thiên Chúa Giáo. Hoa Kỳ sau khi giành được độc lập
đã không lập ra một chế độ quân chủ với một nhà vua chỉ
nhận sứ mạng từ Thiên Chúa như các nước Châu Âu mà đã
thành lập một chế độ dân chủ lấy sự uỷ quyền của nhân
dân làm nền tảng chính đáng. Cuộc Cách Mạng Pháp 1789 đã
phá các nhà thờ, tàn sát các linh mục và đẩy Thiên Chúa Giáo
ra khỏi chính trị. Làn sóng thứ nhất này đã tiếp tục cho
đến đầu thế kỷ 20. Nó đã buộc các chế độ quân chủ
phải từ bỏ thực quyền để trở thành quân chủ lập hiến,
đã đánh gục đế quốc Ottoman và các chế độ quân chủ tại
Nga và Trung Quốc.

<span class="underlined-text">Làn sóng dân chủ thứ hai đã bắt
đầu cùng với Thế Chiến II và nhắm đánh đổ chủ nghĩa
quốc gia sô vanh</span>. Chủ nghĩa này coi xung đột giữa các
dân tộc là tự nhiên vì mọi dân tộc đều phải bảo vệ và
mở rộng không gian sinh tồn của mình; trong cuộc đấu tranh
sống còn này các dân tộc yếu nhược sẽ bị đào thải hoặc
khống chế, sẽ chỉ còn lại những dân tộc tinh anh. Làn sóng
dân chủ thứ hai bác bỏ chủ nghĩa dân tộc quá khích này và
khẳng định sự bình đẳng giữa những con người thuộc mọi
chủng tộc và quyền tự quyết của mọi dân tộc. Kết quả
là các chế độ Quốc Xã Đức, Phát Xít Ý và Quân Phiệt
Nhật bị tiêu diệt, cả ba nước Đức, Ý và Nhật đều trở
thành dân chủ, Nhật trở thành nước dân chủ đầu tiên tại
châu Á; hầu hết các thuộc địa của Anh cũng trở thành
những nước dân chủ. Tuy nhiên làn sóng dân chủ này đã nhanh
chóng khựng lại và nhường chỗ cho chiến tranh lạnh giữa hai
khối tư bản và dân chủ được nhìn vào thời điểm đó như
hai công thức dân chủ hoá cạnh tranh với nhau. Điều cần
được nhấn mạnh là phong trào cộng sản đã ra đời như một
phong trào dân chủ. Các chế độ cộng sản được thành lập
sau Thế Chiến II đều tự xưng là dân chủ hoặc nhân dân, hai
từ "dân chủ" và "nhân dân" được coi là đồng nghĩa: Cộng
Hòa Dân Chủ Đức, Cộng Hòa Nhân Dân Ba Lan, Cộng Hòa Dân Chủ
Nhân Dân Triều Tiên, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa v.v. Chế độ diệt chủng Pol Pot có tên là
Campuchia Dân Chủ.

<span class="underlined-text">Làn sóng dân chủ thứ ba nhắm kết
thúc cuộc chiến tranh lạnh và loại bỏ các chế độ độc
tài sản phẩm của chiến tranh lạnh</span>. Nó bắt đầu năm
1974 bằng "cuộc cách mạng cẩm chướng" đánh đổ chế độ
độc tài Salazar tại Potugal. Lúc đó cuộc tranh luận giữa hai
công thức tự nhận là dân chủ, tư bản và cộng sản, đã
gần như ngã ngũ; khái niệm dân chủ đã có nội dung đủ
chắc chắn. Sự thất bại của công thức cộng sản đã khá
rõ rệt, các tiến bộ về giao thông và truyền thông đã phơi
bày sự thua kém tinh thần cũng như vật chất của các nước
cộng sản so với các nước tư bản. Các đảng cộng sản Tây
Âu suy yếu nhanh chóng. Hoa Kỳ và các nước dân chủ không còn
lo ngại một thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản nữa và đã
đủ tự tin để bỏ rơi các chế độ độc tài chống cộng
ngay cả nếu cái giá phải trả là chúng sẽ nhường chỗ cho
những chế độ cộng sản.

Làn sóng dân chủ này đã diễn ra trong hai giai đoạn. Trong giai
đoạn đầu, từ 1974 đến 1988, nó xô ngã các chế độ độc
tài cánh hữu tại Portugal, Espana, Hy Lạp, Philippines, Nam Cao Ly,
Đài Loan và nhiều nước khác ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ
La Tinh. Một số trở thành những nước dân chủ, nhưng một
số khác rơi vào quỹ đạo cộng sản, như Nam Việt Nam, Lào,
Campuchia, Angola, Ethiopia, Yemen, Nicaragua. Đối với người Việt
Nam cần lưu ý là vào lúc đó chế độ Việt Nam Cộng Hòa
không được thế giới nhìn như một chế độ dân chủ mà như
một chế độ độc tài quân phiệt. Sự sụp đổ của chế
độ VNCH đã chỉ gây buồn phiền cho rất ít người, trái lại
hầu như mọi quốc gia đều chào mừng chiến thắng của đảng
CSVN, ngay chính Hoa Kỳ cũng chỉ mong sớm bình thường hoá quan
hệ với nước Việt Nam vừa thống nhất. Nhưng ngay sau đó sự
thô bạo của chủ nghĩa cộng sản trở thành hiển nhiên dưới
mắt mọi người và trong giai đoạn sau, bắt đầu từ 1988, làn
sóng dân chủ tràn tới làm sụp đổ hầu hết các chế độ
cộng sản, kể cả Liên Bang Xô Viết, đất thánh của chủ
nghĩa Mác-Lênin.

Làn sóng dân chủ thứ ba này đã khựng lại từ 1995, rồi suy
thoái từ 1999. Tại Nga Vladimir Putin lên cầm quyền và một chế
độ độc tài mafia dần dần bóp nghẹt các định chế dân
chủ vừa thành lập, quân đội đảo chính lật đổ chế độ
dân chủ tại Pakistan, Hugo Chavez đắc cử và đưa Venezuela ngày
càng tới gần một chế độ độc tài mỵ dân. Trong thời gian
này cũng vẫn có những nước chuyển hoá từ độc tài sang dân
chủ như Thái Lan, Indonesia, Ukraine, Cộng Hòa Dominican v.v. số
các nước dân chủ không giảm đi nhưng mức độ dân chủ sút
giảm ở nhiều nơi.

Nguyên nhân của sự suy thoái này cần được phân tích vì nó
đóng góp giải thích làn sóng dân chủ thứ tư vừa bắt đầu.
Trước hết là tâm lý lạc quan sau khi bức tường Berlin sụp
đổ và chiến tranh lạnh chấm dứt. Người ta nghĩ rằng như
thế là dân chủ đã thắng và các chế độ độc tài còn sót
lại sẽ đủ khôn ngoan để tự chuyển hoá về dân chủ; có
người nói đến "hồi cuối của lịch sử" (Fukuyama: The End of
History). Tâm lý này khiến người ta mất cảnh giác và quên
rằng tham vọng khống chế nằm ngay trong bản năng của con
người, nếu không được kiểm soát nó sẽ xuất hiện. Sau đó
là chủ nghĩa thực tiễn, coi quyền lợi là trên hết và mỗi
khi có mâu thuẫn giữa quyền lợi và đạo đức thì quyền
lợi phải được dành ưu tiên. Tại Mỹ, năm 1992 Bill Clinton
đắc cử và bắt đầu một chính sách đối ngoại thực tiễn.
Thăng tiến dân chủ và nhân quyền không còn là quan tâm của
Hoa Kỳ nữa; mọi chính quyền, dù độc tài và vi phạm nhân
quyền, vẫn có thể là bạn của Hoa Kỳ. Sau Clinton, George W.
Bush chủ trương cổ võ cho dân chủ nhưng sa lầy tại Iraq và
cũng bị cô lập với chính các đồng minh của mình vì vụng
về.

Barack Obama đã đẩy chủ nghĩa thực tiễn tới mức độ sống
sượng. Trong bài diễn văn nhậm chức ông công khai tuyên bố
sẵn sàng bắt tay với các chế độ bịt miệng đối lập nếu
họ chìa tay ra. Ba tháng sau, trong bài diễn văn tại Cairo, nơi
vừa diễn ra cuộc cách mạng dân chủ mới nhất, ông nói thêm
là không một quốc gia nào có quyền quyết định thế nào là
một chế độ tốt cho một quốc gia khác. Nói cách khác dân
chủ và nhân quyền không còn là những giá trị phổ cập. Obama
đã im lặng khi chính quyền Iran đàn áp dã man những cuộc
biểu tình chống bầu cử gian lận. Tồi tệ hơn cả là tổng
thống Pháp Jacques Chirac. Không những không cổ võ cho dân chủ,
Chirac còn công khai chống dân chủ tại các nước chưa phát
triển. Ông giao du thân mật với những nhà độc tài và nhiều
lần tuyên bố rằng dân chủ là một xa xỉ phẩm đối với
những nước chưa phát triển. Điều an ủi duy nhất về Chirac
là ông không phải là một nhà lãnh đạo tài giỏi, ông là vị
tổng thống tồi dở nhất trong lịch sự cận đại của Pháp.
Hình như có một tương quan mật thiết giữa bản lĩnh của các
chính trị gia và sự gắn bó của họ với dân chủ. Mỹ và
Pháp là hai cường quốc hàng đầu thế giới, khi họ lơ là
với các giá trị dân chủ và nhân quyền thì dân chủ bị
thiệt hại là lẽ dĩ nhiên.

Thêm vào với chính sách đối ngoại thực tiễn này là một
chính sách kinh tế không thực tiễn của Hoa Kỳ, cũng bắt
đầu với Clinton, theo đó người ta kích thích tăng trưởng kinh
tế bằng cách khuyến khích tiêu thụ tối đa, ngay cả với cái
giá phải trả là cán cân thương mại thâm thủng nặng (song
song với đầu cơ nhà đất và chứng khoán). Chính sách này
cuối cùng đã khiến Hoa Kỳ và thế giới khủng hoảng nặng,
nhưng trong một thời gian dài nó đã hỗ trợ mô thức kinh tế
dựa trên xuất khẩu của Trung Quốc. Trung Quốc giàu lên và có
phương tiện hỗ trợ các chế độ độc tài. Các chế độ
độc tài cũng được dịp thoải mái thực hiện chính sách mở
cửa kinh tế để khai thác chính sự nghèo khổ mà chúng là
nguyên nhân: bóc lột tối đa công nhân để xuất khẩu với
giá thật rẻ, lôi kéo du khách nhờ dịch vụ du lịch rẻ. Trong
nhiều trường hợp, như Việt Nam, Ai Cập và Tunisia, các chế
độ độc tài này được coi là đã thành công. Cũng nên biết
cả ba đảng cầm quyền tại Việt Nam, Ai Cập và Tunisia đều
là thành viên của Quốc Tế Xã Hội Chủ Nghĩa.

Nhưng ngày nay gió đã đổi chiều. Thế giới đã khủng hoảng
và phải xét lại trật tự kinh tế. Chirac đã về vườn trong
bẽ bàng. Obama sau những thất vọng trong chính sách đối ngoại
và sau khi thất bại trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ cũng
đã thay đổi. Đặc điểm của chủ nghĩa thực tiễn trong
đối ngoại là nó sai. Các chế độ bạo ngược tự nhiên
không thích dân chủ và Hoa Kỳ, nhân nhượng với chúng không
tranh thủ được cảm tình của chúng mà chỉ khuyến khích
chúng lộng hành.

<h2>Làn sóng dân chủ thứ tư và một cơ hội mới</h2>

<span class="underlined-text">Làn sóng dân chủ thứ tư vừa bắt
đầu nhắm vào các chế độ độc tài mở của về mặt kinh
tế.</span> Các chế độ này không thể tồn tại lâu hơn; chúng
không dựa trên một tư tưởng chính trị nào cả và còn là
một xúc phạm đối với lý luận. Chúng không có một lý
tưởng nào dù đôi khi những cụm từ nhàm chán như "xây dựng
chủ nghĩa xã hội" được nhắc tới một cách gương gạo vô
duyên. Chúng thuần tuý là những chế độ cướp bóc không nhân
danh một lý tưởng nào hay một dự án chính trị nào, hoàn
toàn dựa trên đàn áp để tồn tại. Và muốn đàn áp dễ
dàng thì tâp đoàn cầm quyền phải mạnh và ngược lại quần
chúng phải yếu. Bóc lột và bất công phải gia tăng vì nằm
ngay trong logic tồn tại của chế độ. Nhưng đây một logic tự
sát, vì nó càng khiến chế độ bị thù ghét hơn trong khi dù
muốn hay không chính sách mở cửa kinh tế cũng khiến xã hội
mạnh hơn và có khả năng phản kháng hơn. Các chế độ này
đã tích luỹ quá nhiều mâu thuẫn và đã đến lúc phải chấm
dứt. Sự mở của về kinh tế, và sự tăng trưởng kinh tế
kế tiếp, đã thay đổi hẳn con người, xã hội và các tương
quan lực lượng. Người dân vừa không còn lệ thuộc vào chính
quyền trong những nhu cầu vật chất hằng ngày vừa đủ thông
tin để biết rõ sự tầm thường và gian trá của những
người cầm quyền. Họ còn có những phương tiện hiện đại
để trao đổi với nhau, động viên nhau và phối hợp với nhau.
Các chế độ vô lý này đã tồn tại được nhờ sự thụ
động của trí thức, nhưng ngày này sự hiểu biết đã được
đại chúng hoá, một đội ngũ trí thức mới cũng đã nhập
cuộc. Sự thay đổi bắt buộc phải đến, và đã đến. Nó
bắt đầu tại những nước Hồi Giáo Ả Rập bởi vì đó là
những nước chín muồi nhất cho một sự thay đổi chế độ.
Tại đây tham nhũng và bóc lột đã vượt mọi giới hạn chịu
đựng trong khi vấn đề đưa Hồi Giáo ra khỏi chính trị để
trở về vị trí đúng của một tôn giáo đáng lẽ đã phải
giải quyết từ lâu vẫn chưa được giải quyết. Mặt khác
các nước này đã có những tổ chức chính trị và phi chính
trị không thuộc chính quyền, nghĩa là một xã hôi dân sự
đúng nghĩa, dù chưa mạnh. Và cũng phải nhìn nhận trí thức Ai
Cập có văn hoá chính trị và chịu dấn thân hơn trí thức
Việt Nam. Sau đó, có thể trước cả Nga, sẽ đến lượt Việt
Nam và Trung Quốc, nơi mà hai đảng cộng sản đã biến thành
giai cấp bóc lột sống tách biệt với quần chúng phẫn nộ.
Ngoài ra các chính quyền Trung Quốc và Việt Nam sẽ còn gặp
bối rối lớn vì chính sách kinh tế dựa trên xuất khẩu không
còn phù hợp với trật tự kinh tế hậu khủng hoảng. Chúng ta
lại sắp có một cơ hội mới để dân chủ hoá đất nước.

Nhưng một cơ hội dù thuận lợi đến đâu cũng chỉ thực sự
là một cơ hội cho những ai dám tranh đấu và đã chuẩn bị
sẵn để chờ đợi nó. Không thể chỉ trông đợi ở hiệu
ứng vết dầu loang. Năm 1989 khi bức tường Berlin sụp đổ
chúng ta đã có một cơ hội nhiều lần thuận lợi hơn nhưng
đã bỏ lỡ phần vì không dám phần vì thiếu chuẩn bị.

Nhưng chuẩn bị như thế nào? Nếu quan sát mọi cuộc cách
mạng trên thế giới chúng ta đều thấy là có bốn điều
kiện cần và đủ cho một cuộc cách mạng: một là, sự vô lý
của chế độ được phơi bày rõ rệt và toàn dân muốn thay
đổi; hai là, đảng cầm quyền ruỗng nát và phân hoá vì mất
lý tưởng và chính nghĩa; ba là, có đồng thuận dân tộc trên
một chế độ mới và một dự án quốc gia mới; sau cùng là
có một tổ chức mạnh để tập trung và thực hiện những
nguyện vọng đổi đời.

Có đủ bốn điều kiện đó thì một cuộc cách mạng chắc
chắn sẽ xảy ra và thành công. Chúng ta đã có hai điều kiện
đầu và cũng gần như có điều kiện thứ ba. Điều mà chúng
ta thiếu, cũng là điều không thể thiếu, là một tổ chức
dân chủ mạnh. Tổ chức dân chủ này phải được xây dựng
song song với cố gắng hình thành các tổ chức chính trị và
phi chính trị không lệ thuộc chính quyền cộng sản, nghĩa là
song song với cố gắng xây dựng xã hội dân sự.

Nếu dám, trí thức Việt Nam thừa khả năng để học hỏi và
tìm ra phương thức đấu tranh phù hợp với hiện tình đất
nước để sau đó hướng dẫn quần chúng. Ẩn số lớn nhất
là liệu lớp trí thức Việt Nam hôm nay, chủ yếu là lớp trí
thức trẻ, có còn ý chí hay không. Chưa có gì cho phép trả
lời dứt khoát câu hỏi này. Nhưng sẽ là một sai lầm lớn
nếu trí thức Việt Nam không dám vì nghĩ rằng chế độ cộng
sản Việt Nam quá mạnh. Đại hội XI vừa rồi đã chứng tỏ
đảng CSVN rất phân hoá trong nội bộ và cũng kiệt quệ về
cả trí tuệ lẫn quyết tâm. Không nên vì thấy nó đàn áp hung
bạo mà tưởng nó mạnh. Cách đây hai tháng ai có thể nghĩ là
các chế độ Ben Ali và Mubarak sắp sụp đổ? Những gì vừa
xảy ra chỉ nhắc lại một lần nữa một đặc tính chung của
mọi chế độ độc tài bạo ngược, đó là cho tới ngay
trước khi sắp sụp đổ chúng vẫn tỏ ra rất vững vàng.
Nhưng chúng là những chế độ rất không bình thường và có
thể chết một cách rất đột ngột.

Nguyễn Gia Kiểng
(02/2011)

<strong>Đề nghị đọc thêm:</strong>

1. Nguyễn Gia Kiểng, "<a
href="http://thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=1241">Vài
ghi chú về chủ nghĩa cá nhân</a>", Thông Luận số 208, tháng
11/2006.

2. Nguyễn Gia Kiểng, "<a
href="http://www.thongluan.org/cms/pdf/tl187.pdf">Quyền con
người</a>", Thông Luận số 187, tháng 12/2004.

© Thông Luận 2011

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/7857), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét