Lê Anh Tuấn - Coi cái nghèo là phẩm chất của kẻ sĩ, một tâm lý cần xóa bỏ [*]

Trong bài "<a href="http://danluan.org/node/7864">Thiên Nguyên - Mạn
bàn về câu hỏi " Vong bản từ đâu" của ông Hà Sĩ Phu</a>",
tôi thấy đoạn này rất không ổn:

<div class="special_quote"><em>"Cái thứ hai cần chú ý, cùng với
sự tiếp cận văn minh phương Tây, chúng ta vẫn còn giữ lại
được những truyền thống vốn có của dân tộc, trong đó có
tinh thần hiếu học, coi trọng sự uyên bác hơn vinh hoa quyền
quý. Nhà nước phong kiến thời xưa vốn đã đề cao những
người học rộng hiểu nhiều, các vị đỗ đạt khoa bảng.
Những người có lắm tiền nhưng không có học thì bị cho là
phường trọc phú, không được coi trọng. Chu Văn An, Nguyễn
Trãi, hay Nguyễn Bỉnh Khiêm, khi công danh viên mãn đều đã lui
về ở ẩn, chọn lối sống an bần lạc đạo. Có một điều
thú vị là xã hội thời đó lại không có ác cảm với cái
nghèo, ngược lại, coi nghèo là phẩm chất cần có của một
kẻ sĩ. Như Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ "Nhàn":</em>

<em>Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
.....
Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao</em>

<em>Rồi Nguyễn Công Trứ trong bài bài phú "Hàn nho phong vị
phú", có câu:</em>

<em>...Đêm năm canh an giấc ngáy khò khò,
đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ...</em>

<em>Hay như Nguyễn Khuyến trong "Chốn quê":</em>

<em>Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua</em>

<em>Trong loạt truyện dân gian về Trạng Quỳnh, ta cũng thi
thoảng bắt gặp hình ảnh của một trọc phú, thường đóng
vai nhân vật phản diện, bị chê cười vì tuy giàu có nhưng
dốt đặc.</em>

<em>Cái truyền thống hiếu học đáng quý ấy vẫn còn tồn
tại âm ỉ cho đến tận giai đoạn cuối của thời kỳ Pháp
thuộc. Trong các truyện ngắn của nhà văn Nam Cao ta vẫn gặp
những nhân vật trí thức như "anh giáo" được mọi người tin
cậy và tôn trọng."</em></div>

Thứ nhất, nếu không phải để đem lại sự giàu có cho bản
thân, người thân và đất nước, thì học để làm cái gì? Và
sự nghèo đói có ý nghĩa đẹp đẽ gì, mà được tôn vinh như
một phẩm chất của nhà nho?

Tâm lí này có "đáng quí" không? Có lành mạnh không? Hay nó có
triệu chứng bệnh hoạn?

Thứ hai, một xã hội "không có ác cảm với cái nghèo", thậm
chí còn tôn vinh cái nghèo như "một phẩm chất của chí sĩ"
chắc chắn không phải một xã hội thịnh vượng. Nó không
giàu lên được, vì người dân không có động lực vươn lên.
Khi mà sự giàu có bị phỉ nhổ và sự nghèo đói được tôn
vinh, thì ai muốn làm giàu?

Chính tuyên bố "Làm giàu là vinh quang!" của Đặng Tiểu Bình,
chứ không phải lời kêu gọi treo cổ người giàu trong cải
cách ruộng đất của Mao, đã phát động chặng đua tăng
trưởng của Trung Quốc. Tuy sự tăng trưởng đó tồi dở trên
nhiều khía cạnh, nó vẫn là một minh chứng hoàn toàn thuyết
phục để khẳng định rằng muốn kinh tế phát triển, xã hội
phải có một tâm lí thuận lợi cho kinh doanh. <strong>Phải đưa
lợi nhuận lên hàng một giá trị.</strong>

Đừng sợ tâm lí ham thích làm giàu. Nó không phải thủ phạm
khiến xã hội rơi vào tình trạng vô đạo. Trái lại, nó là
một điều kiện cần thiết để xã hội tiến tới phồn vinh.
Nước Mỹ, siêu cường số một thế giới hiện nay, cũng là
quốc gia mà hoạt động kinh doanh làm giàu được tôn vinh
nhiều nhất.

Vậy thủ phạm của sự suy sụp đạo đức trong xã hội là
cái gì?

Không phải Hồ Ngọc Hà hay Trần Bình Minh. Mà là cơ chế phi
dân chủ.

Những điều đang diễn ra có thể được giải thích một cách
giản dị. Khi đất nước mở cửa, giới trẻ được tiếp
cận với thương mại quốc tế và thông tin tự do. Nhờ thế,
họ có thể du nhập và hấp thụ những tư tưởng tiến bộ
của nhân loại, để thay thế đống tro tàn của tư tưởng Nho
giáo cổ hủ, cũng như "thế hệ vàng" đã say mê thực hiện
trong 3 thập niên đầu thế kỉ 20. Cách mạng văn hóa Việt Nam,
sau đợt trì hoãn từ 1945, đã được tiếp tục và gia tăng
cường độ.

Trong những giá trị tiến bộ mới du nhập, có "lợi nhuận"
bên cạnh "tự do". Tâm lí "trọng đạo khinh bần" của đám sĩ
phu Nho học bị thế hệ chúng tôi dứt khoát giã từ, cũng như
chúng tôi đang dần giã từ tâm lí nô lệ. Chuyển biến này
phải được nhìn nhận như một may mắn của quốc gia. Nhưng
may mắn đã không trọn vẹn, vì Việt Nam vẫn là một nước
phi dân chủ.

Không có dân chủ thì không có pháp trị. Không có pháp trị,
thì người ta có thể tìm kiếm lợi nhuận bằng mọi biện
pháp vô đạo đức. Mà "lợi nhuận" lại là thứ quá hấp dẫn
để có thể khước từ trong nền kinh tế thị trường. Kết
quả là người ta vứt bỏ đạo đức.

Như thế, việc cần làm không phải là chặn cuộc cách mạng
văn hóa lại. Trì hoãn tiến trình này là làm hại quốc gia.
Việc cần làm là dân chủ hóa đất nước cho nhanh. Phải du
nhập "tự do" nhanh như chúng ta đã du nhập "lợi nhuận".

Nhân tiện, không phải tự nhiên mà kẻ sĩ Việt Nam và Trung Hoa
tôn vinh cái nghèo như một phẩm chất cao quí của giai cấp
mình. Trích bài "Ưu đạo bất ưu bần?" trong sách Tổ Quốc Ăn
Năn của Nguyễn Gia Kiểng:

___________________________

<h2>Nguyễn Gia Kiểng - Ưu đạo bất ưu bần?</h2>

Như tôi đã trình bày, khi phê phán Khổng Giáo không nên đồng
hóa nó với ông Khổng Khâu, càng không nên đổ hết trách
nhiệm cho ông. Ông không chí thánh chí nhân như ông Trần Trọng
Kim viết trong cuốn Nho Giáo, những cũng là người tốt, ông
mở trường tư đầu tiên và tạo ra một cơ hội tiến thân
quan trọng cho tàng lớp thứ dân. Thế cũng là một người có
công lớn với đời rồi. Ông dạy học trò nhiều điều về
luân lý thực tiễn. Xét theo bối cảnh thời đại của ông,
trong những điều ông nói có những điều khá đúng, những
điều hơi sai và những điều rất sai. Đó là lẽ tự nhiên,
không có học giả, triết gia nào chỉ phát biểu những điều
hoàn toàn đúng. Socrate, Platon, Aristote cũng vậy thôi, họ có
những ý kiến thật sáng nhưng cũng có những nhận định sai
lầm, thiếu sót. Bổn phận của những người đi sau là giữ
lại, bổ túc và khai triển những đóng góp đúng, bỏ đi
những sai lầm và, dĩ nhiên, không ngừng thêm vào những khám
phá mới.

Văn hóa Khổng Giáo trở thành độc hại không
phải vì nó sai ngay từ đầu mà vì nó đã không biết đổi
mới. Nó đã khai thác triệt để hai tính xấu của Khổng Tử
là tinh thần thủ cựu, bài bác điều mới lạ, và tinh thần
bất dung (thí dụ như việc giết thiếu chính Mão chỉ vì ông
Mão có tài biện luận và không đồng ý với Khổng Tử). Không
những thế nó còn bóp méo tư tưởng của chính Khổng Tử.

Một thí dụ của sự xuyên tạc đó là tinh thần
an bần lạc đạo, nghĩa là <span class="underlined-text">cam phận
nghèo mà vui với đạo đức</span>. Tinh thần này theo các nho sĩ
lấy từ một câu trong Luận Ngữ. người quân tử chỉ lo giữ
đạo lý chứ không lo nghèo (quân tử ưu đạo bất ưu bần).
Nhưng Khổng Tử nào đâu có ý định nói như thế. Ông nói
nguyên văn như thế này: Người quân tử mưu tìm học đạo
chứ không mưu tìm miếng ăn. Làm ruộng có khi mất mùa cũng
đói, còn học đạo thì có lộc. Người quân tử chỉ cần lo
học cho giỏi chứ đừng sợ nghèo (Quân tử mưu đạo bất mưu
thực. Canh dã, nỗi tại kỳ trung hĩ. Học dã, lộc tại kỳ
trung hĩ. Quân Tử ưu đạo bất ưu bần). Đó chỉ là một lời
khuyên thực dụng mà thôi, có nghĩa là cứ lo học đi rồi sẽ
được làm quan và sẽ có ăn. Nên nhớ rằng mục đích của
việc học đạo chỉ là để được làm quan. ý Khổng Tử qua
câu nói này hoàn toàn không phải là sự chấp nhận nghèo khổ
miễn là sống hợp đạo đức. (Cần hiểu chữ đạo của
Khổng Tử đồng nghĩa với nghề, nghĩa là học thi, thư, lễ,
nhạc cho thạo để ra làm quan chứ không phải là đạo đức
như ta hiểu). Chính Khổng Tử cũng rất ham phú quí, ông từng
nói phú quí mà cầu được thì dù phải làm kẻ cầm roi đánh
xe ngựa ta cũng nhận (phú quí nhi khả cầu dã, tuy chấp tiên
chi sĩ, ngô diệc vi chi). Khổng Tử lương thiện nhưng không
phải vì thế mà ông đề cao sự nghèo khổ. Ông đã đi khắp
nơi cầu được làm quan, có lúc sẵn sàng làm gia nhân cho
những kẻ giàu có phản trắc. Nhân sinh quan của ông rất thực
dụng: cầu ích lợi cho mình và sống lương thiện. Đó là một
nhân sinh quan rất khiêm tốn về mặt đạo đức.

Từ đời nhà Hán, luân lý của Khổng Giáo bị bóp méo đi để
biến thành một thứ luân lý nông nghiệp lạc hậu. Lưu Bang,
tức Hán Cao Tổ, sau khi diệt được Tần và Sở, thống nhất
thiên hạ, nhận định rằng mối nguy cho dòng họ mình là
những kẻ giàu có và gan dạ. Ông bèn xóa bỏ thương nghiệp
và chỉ giữ lại nông nghiệp. Việc phân chia xã hội ra bốn
giai cấp sĩ, nông, công, thương bắt đầu từ đó. Nếu chỉ
xét về mục đích duy trì quyền hành thì nhà Hán hoàn toàn có
lý. Nghe nông chân lấm lấy bùn, được mùa thì no, mất mùa
thì đói, không thể nào giàu lớn được, gia tài chỉ là
ruộng đất, có bao nhiêu triều đình thấy rõ hết. Vả lại,
người nông dân ở yên một chỗ, kiến thức hạn hẹp mà
đởm lược cũng không có bao nhiêu. Trái lại, người buôn bán
giao du nhiều, hiểu biết rộng rãi, lại quen đương đầu với
rủi ro thành ra gan dạ (có gan làm giàu). Nghề buôn bán lại
dẽ phát đạt, có thể đưa tới những tài sản rất lớn, kín
đáo và dễ di chuyển. Những thương nhân giàu có này lại
không làm quan ăn lộc vua và do đó không mang ơn vua như lớp nho
sĩ, họ có thể là những đe dọa lớn cho các vua chúa. Chính
vì thế mà nhà Hán dẹp bỏ thương nghiệp, và khi thương
nghiệp đã bị xóa bỏ, sự trao đổi hàng hóa không còn nữa
thì công nghiệp chỉ còn là một nghề phụ của nghề nông,
làm ra những nhu yếu phẩm cho xóm làng mà thôi. Dưới đời
nhà Hán, thương nhân không những bị trù dập thô bạo mà còn
bị miệt thị như những kẻ xấu xa, đáng khinh bỉ.

Các triều đại về sau có lúc nới lỏng cho thương nghiệp
đôi chút nhưng rời lại xiết lại ngay. Triều đại nào cũng
coi thương nghiệp là mối nguy và đều ra sức trù dập và
miệt thị. Cuối cùng với thời gian một giá trị mới đã
được thêm vào Khổng Giáo, đó là tâm lý khinh bỉ nghe buôn
bán. Phải công bình mà nói, tâm lý này hoàn toàn không có trong
đầu óc Khổng Tử. Cả Khổng Tử lẫn các môn đệ của ông
đầu không bao giờ bài xích thương nghiệp, cũng như Marx không
bao giờ tưởng tượng có việc kiểm duyệt báo chí hay những
chiến dịch tẩy não, những trại tù cải tạo tư tưởng của
các chế độ cộng sản sau này.

<span class="underlined-text">Thương nghiệp là động cơ tiến hóa
của mọi xã hội</span>. Nó vừa là sự chấp nhận rủi ro cho
đổi mới vừa là sự giao lưu của người, của kiến thức, ý
kiến và sáng kiến. Nó cũng là sự giàu có. Thương nghiệp
đối với xã hội cũng như máu đối với cơ thề, nó là yếu
tố tối cần thiết cho mọi sinh hoạt khác, dù là nông nghiệp,
cộng nghiệp hay văn hóa xã hội. Có thương nghiệp mới có
tiến bộ. Không có thương nghiệp thì xã hội tê liệt và dẫm
chân tại chỗ, kể cả về vật chất lấn tinh thần, là lẽ
tự nhiên. Trong những yếu tố độc hại của Khổng Giáo, yếu
tố độc hại nhất trên hẳn mọi yếu tố khác chính là sự
thù ghét thương nghiệp, mà về việc này thì Khổng Tử hoàn
toàn vô can. Nó là một phát minh của Hán Nho và được duy trì
vì cần thiết cho sự ồn vững của các chế độ quân chủ
chuyên chế. Không phải là một sự tình cờ mà các tiến bộ
lớn của nhân loại đã phát sinh từ các thị trấn buôn bán
và tư tưởng dân chủ cũng như các chế độ dân chủ đầu
tiên đã nảy sinh từ đó. Cũng không phải là một sự tình
cờ mà Hoa Kỳ, một quốc gia tạp chủng, khởi hành từ số
không những có mẫu số chung là business, đá mau chóng trở
thành siêu cường số một của thế giới.

Như đã nói, Việt nam vừa hình thành thì đã tiếp thu Khổng
Giáo từ đời nhà Hán, nghĩa là khi Khổng học đã bị tồi
tệ hóa do sự thêm vào nhiều yếu tố độc hại, trong đó
độc hại nhất là tâm lý thù ghét thương nghiệp. Suốt dòng
lịch sử, chúng ta đã chỉ biết có tâm lý này, không như
người Trung Hoa ít ra đã có một thời Xuân Thu Chiến Quốc
trong đó cả một rừng hoa tư tưởng nở rộ và thương nghiệp
phát triển mạnh. Chính vì thế mà văn hóa của ta thấp kém
hơn văn hóa Trung Quốc. Chính vì thế mà chúng ta dở về buôn
bán hơn tất cả mọi quốc gia có cùng một chiều dài lịch
sử.

Như một người mù lòa quen với bóng tối, Việt nam cũng như
Trung Quốc, nhưng hơn cả trung Quốc, đã thích nghi với sự
nghèo khổ và tìm an ủi ngay trong sự nghèo khổ. An bần lạc
đạo là một triết lý và một thứ thuốc an thần ru ngủ trí
tuệ ta. Đáng lẽ chỉ nên coi sự nghèo khổ là một tình
trạng đáng buồn cần chấm dứt, chúng ta coi nó như một sự
vinh quang. Đáng lẽ chỉ nên coi người nghèo là những người
không may cần được giúp đỡ, ta lại coi họ là những người
trong sạch đáng tôn vinh. Tâm lý này lại là tâm lý của kẻ
sĩ, nghĩa là thành phần tinh nhuệ nhất, hiểu biết nhất.

Nếu thù ghét thương mại là di sản độc hại nhất của
Khổng Giáo thì nó cũng là di sản nặng nề nhất của người
Việt, ngay trong lúc này.

Thế hệ của tôi, những người vào đại học trong thập niên
1960, hoàn toàn bị tâm lý trọng sĩ khinh thương chế ngự.
Ước mơ của chúng tôi chỉ là đậu cử nhân, tiến sĩ, bác
sĩ, kỹ sư để được làm giáo sư giám đốc. Cha mẹ chúng
tôi cũng chúc tụng và mơ ước cho chúng tôi tương lai đó. Tâm
lý của chúng tôi hoàn toàn là tâm lý kẻ sĩ, nghĩa là tâm lý
làm quan hoặc làm công ăn lương, dù chúng tôi chẳng hề học
Tứ Thư, Ngũ Kinh bao giờ. Cái tâm lý đó, chúng tôi đã tiếp
thu từ sinh hoạt gia đình và xã hội. Và chúng tôi cũng đã
được giáo dục ngay tại trường học theo tâm lý đó. Nhưng
mẫu người mà chúng tôi được khuyến khích dề noi gương
chỉ là những danh tướng, danh thần, những nhà nho liêm chính,
những nhà thơ, nhà văn, hoàn toàn không có một doanh nhân nào.
Ngay cả những danh nhân ngoại quốc chúng tôi biết đến cũng
chỉ là những ông vua, ông tướng, hay các nhà bác học, các
nhà chính trị và các nhà văn lớn chứ hoàn toàn không có một
doanh nhân nào. Doanh nhân là một giống người không ra gì.
Chúng tôi đã lớn lên với một hệ thống giá trị như thế.
Chúng tôi được đào tạo để làm những con người sống
ngoài lề xã hội hay, nếu may mắn hơn, sống trên xã hội chứ
không hội nhập và sống trong xã hội. ở vào thế hệ của
tôi, và một phần nào đó ngay bây giờ tại Việt nam, học
hết tú tài là đã thuộc thành phần tinh nhuệ của xã hội.
Tôi may mắn thuộc vào thành phần tinh nhuệ nhất của thành
phần tinh nhuệ đó. Bạn bè quen biết của tôi có vài trăm
người được đi du học tại châu Âu, Hoa Kỳ, úc, New Zealand
và Nhật. Tất cả đều thông minh tuấn tú, tất cả đều đã
thành công theo tiêu chuẩn Việt nam, nghĩa là ngày nay chúng tôi
đều có văn phòng luật sư, phòng mạch bác sĩ, nha sĩ, làm
giáo sư hay kỹ sư, với một cuộc sống tương đối thoải
mái, nhưng doanh nhân thì chỉ có một vài người. Một số kỹ
sư, chuyên viên nay đã ngoài năm mươi tuổi, lương quá cao so
với yêu cầu của xí nghiệp đang hòi hộp lo âu bị cho nghỉ
việc, có những người đã mất việc. Nếu khối sinh lực và
trí tuệ đó được dồn vào kinh doanh thì đất nước đã khá
hơn biết bao nhiêu, và ngay cả cuộc sống của mỗi chúng tôi
cũng khá hơn nhiều. Hơn nữa nghề làm công, hay nghề cá nhân,
đã không cho chúng tôi những cơ hội để tiếp xúc và học
hỏi, cũng không đặt chúng tôi trước những trách nhiệm quan
trọng; kết quả là giờ đây, vào giai đoạn gần chót của
sự nghiệp, chúng tôi không những chỉ bình thường về vật
chất mà còn kém cỏi cả trong tầm vóc và sự hiểu biết.

Thế hệ chúng tôi đã thừa hưởng một hệ thống giá trị
độc hại và đã truyền lại nọc độc cho thế hệ sau. Tôi
chưa nhận thấy một chuyển biến tâm lý đáng kể nào trong
giới trẻ Việt nam. Phần lớn các con cháu của các bạn tôi
đều hướng về những ngành học thuần túy ký thuật, và khi
họ có học về doanh thương thì cũng chỉ với tâm lý công
nhân mà thôi. Tôi tiếp xúc với nhiều thanh niên và lúc nào
cũng hỏi họ dự định thế nào cho tương lai, họ sẽ làm gì
ở tuổi bốn mươi. Cho tới nay những câu trả lời của họ
cũng không khác bao nhiêu so với thế hệ chúng tôi. Việt nam
vẫn còn chờ đợi một chuyển biến tâm lý lớn, dù đã trải
qua nhiều xáo trộn khốc liệt. Đó là tôi chỉ gặp một thành
phần thanh niên may mắn có cơ hội để tiếp xúc với thế
giới tiến bộ bên ngoài, những người lớn lên tại hải
ngoại, hoặc những thành phần ưu tú được gởi ra nước
ngoài làm nghiên cứu sinh hay thực tập sinh. Những thanh niên ở
Việt nam sang còn cho tôi hay tâm lý của thanh niên trong nước
còn trì trệ hơn họ về mặt kinh doanh. Tình trạng này cho
thấy ảnh hưởng của một nền văn hóa dai dẳng tới mức
nào.

Chúng ta vẫn còn là những đứa con tinh thần của Khổng Giáo
Việt nam một thứ Khổng Giáo đặc biệt tăm tối. Cái văn hóa
Khổng Giáo đó đã làm thui chột cả một dân tộc. Nó khiến
chúng ta dị ứng thương nghiệp đã đành, nhưng nó cũng gây ra
một mặc cảm thấp kém ngay cả trong một số hiếm hoi dám kinh
doanh buôn bán. Một người Việt nam hãnh diện với một đứa
con tốt nghiệp đại học và lãnh lương vừa đủ sống hơn là
một đứa con bán phở với lợi tức gấp bốn, năm lần. Một
thương gia giàu có cũng thích gả con gái cho một tiến sĩ hơn
là một thương gia trẻ, và cũng rất hài lòng nếu tất cả
các con mình trở thành bác sĩ, kỹ sư và bỏ nghề buôn. Họ
không thể trở thành những thương gia lớn được bởi vì họ
không hãnh diện về nghề nghiệp của họ, và họ không hãnh
diện về nghề nghiệp của họ vì thành phần xã hội của họ
bị khinh khi. Ngôn ngữ Việt nam không thiếu những danh từ thóa
mạ đối với người buôn bán: tên lái buôn, bọn con buôn,
bọn hàng tôm hàng cá, v.v... Sự khinh bị này đưa tới một
hậu quả thực sự là những người buôn bán nhỏ bị co cụm
lại thành những nhóm cô lập, hờn giận với phần còn lại
của xã hội, rồi cũng mất đi sự tự trọng và cư xử một
cách rất thô lỗ trái ngược với tinh thần phải có của
thương nghiệp. Kết quả là cả nghề buôn bán lẫn việc buôn
bán đều không vươn lên được.

Văn hóa Khổng Giáo Việt nam tạo ra những thành kiến rất sai
lầm và bất công đối với các thương gia. Sau khi đậu xong tú
tài I tôi được một thương gia giàu có mướn dạy kèm cô con
gái vừa lên đệ tứ, tức lớp 9 bây giờ. Những thành kiến
sai lầm đã khiến tôi hình dung ông ta là một con người vô
học chỉ sống vì đồng tiền, và chắc là giả dối và gian
lận. Tôi khám phá ra mình ngu dốt. Hai ông bà vất vả suốt
ngày, họ chỉ về nhà vào khoảng 9, 10 giờ tối. Họ bặt
thiệp, hiền lành và rất hiểu biết. Tôi nhận ra bà ấy thông
minh hơn hẳn các bà mẹ Việt nam khác và ông ấy có kiến
thức cao hơn và rộng hơn hẳn những giáo sư của tôi. Ông bà
ấy hình như chưa học hết bậc trung học, nhưng họ đã đạt
tới trình độ hiểu biết cao nhờ học hỏi trong cuộc sóng,
bằng sự giao tiếp trong xã hội và bằng suy tư cá nhân. Cuộc
gặp gỡ kéo dài hơn một năm này đã là một may mắn lớn cho
tôi. Tôi được một số tiền thù lao khá lớn, đủ sống cho
mình mà còn giúp đỡ được cả gia đình; nhưng tôi còn
được cả một sự tỉnh ngộ.

Sau khi đi du học về, tôi làm tại Ngân Hàng Việt nam Thương
Tín rồi sang Bộ Kinh Tế và lại có dịp gặp gỡ nhiều doanh
nhân khác. Ngay khi về Việt nam tôi đã được nghe nhiều huyền
thoại về các doanh nhân người Hoa, những Lý Long Thân, Huỳnh
Trù, Trần Thành, Trương Đông Lương, v.v... Họ được mô tả
là những người giàu sụ, có biệt tài làm ra tiền mặc dầu
dốt nát tới độ ký tên mình còn run tay. Sự hiểu ngầm ở
đàng sau là họ giàu có nhờ khôn vạt, láu cá, mánh mung.

Điều đáng để ý là thành kiến không tốt đối với các
doanh nhân gốc Hoa này không phải chỉ có trong dân chúng và báo
chí, mà còn hiện diện ngay cả trong giới chuyên viên tài
chánh, đáng lẽ ra phải được giác ngộ về kinh doanh. Hoàn
cảnh đã cho tôi cơ hội gặp gỡ với những người này, và
tôi nhận ra họ là nhưng con người rất thông minh và ngay
thẳng. Không những thế, họ còn có kiến thức rộng rãi về
những vấn đề chính trị, văn hóa và xã hội. Trong buổi lễ
khánh thanh một nhà máy cán sắt mới của công ty Vicasa, Lý Long
Thân, chủ tịch công ty, sắp xếp để tôi ngồi ngay bên cạnh
ông, buổi tiệc đã kéo dài hơn thường lệ vì sau cà phê Lý
Long Thân còn trò chuyện với tôi hơn hai giờ nữa. Lý Long Thân
không cần gì tôi cả, ông ấy chỉ nói chuyện vì gặp người
hợp ý mà thôi. Ông ấy kể cho tôi những cuộc gặp gỡ và
nhưng câu chuyện giữa ông ấy với các cấp lãnh đạo Việt
nam Cộng Hòa và đặc biệt là buổi gặp gỡ một tuần trước
đó với đại sứ Mỹ Graham Martin. Lý Long Thân hiểu biết nguy
cơ đối với Việt nam Cộng Hòa hơn là các cấp lãnh đạo
Việt nam mà tôi thường gặp. Nếu Nguyễn Văn Thiệu thực sự
dùng Lý Long Thân làm cố vấn như nhiều lời đồn đại thì
có thể Việt nam Cộng Hòa đã may mắn hơn.

Tâm lý bài bác thương nghiệp và tôn vinh sự thanh bạch tạo ra
cho người Việt nam một quan hệ bệnh hoạn và tội lỗi đối
với tiền bạc. Chúng ta đều biết quyền lực của đồng
tiền, câu tục ngữ có tiền mua tiên cũng được không phải
mới có. Hai chữ nói lái đầu tiên là tiền đâu cũng không
mới. Chúng ta đều cần tiền và muốn có tiền nhưng chúng ta
không đám công khai kiếm tiền, chúng ta được giáo dục để
coi kiếm tiền như là một sự vẩn đục và chúng ta cố làm ra
vẻ khinh thường sự giàu có và hãnh diện với cảnh thanh
bần. Chúng ta muốn mà không dám, chúng ta ao ước và giấu
giếm như một tiểu thư con nhà gia giáo bề ngoài đề cao tiết
hạnh dù trong phòng vắng nhiều đêm cũng trằn trọc mơ ước
những giây phút hoan lạc của một cô gái phá lệ. Cả một xã
hội sống trong sự giả dối. Tâm lý này tạo ra cả một
truyền thống tham nhũng. Thành phần tinh nhuệ đua nhau đi làm
quan thay vì làm giàu. Mặt khác, các ông quan thời xưa và các
quan chức nhà nước ngày nay không thể sống với đồng lương
chật hẹp cho nên phải dựa vào quà cáp, hay phải nhắm mắt
để các bà vợ ăn tiền thay mình để giữ được một mức
sống đàng hoàng. (Hình như ngày nay đã tiến bộ hơn, các quan
chức thẳng thắn đòi tiền hối lộ chứ không cần qua một
trung gian nào cả). Chống tham nhũng ở Việt nam rất khó vì
chúng ta có cả một văn hóa tham nhũng do truyền thống để
lại.

Văn hóa thanh bần của Khổng Giáo cũng đã đem lại cho chúng ta
những tai họa về chính trị. Ông Hồ Chí Minh và ông Ngô Đình
Diệm đều được kính trọng vì họ tỏ ra là những người
thanh liêm. Họ không có vợ, và điều đó hình như kéo theo hệ
luận là họ trong sạch, thanh liêm. Họ được tín nhiệm về
đức chứ không phải vì tài và thực sự cả hai đều không
có khả năng, cả hai đều thiếu bản lĩnh, đều không nhìn
thấy những vấn đề và những giải pháp cho đất nước,
nhưng họ đã được văn hóa và tâm lý Việt nam đặt vào vị
trí quyết định vận mệnh của đất nước trong một giai
đoạn trọng đại. Ông Hồ Chí Minh được tôn sùng hơn ông
Ngô Đình Diệm vì đóng kịch khéo hơn, ông xuất hiện như
một nhà nho khổ hạnh, sống suốt đời và tất cả cho dân
tộc, trong khi thực ra ông là một người ham thụ hưởng hơn
hắn mức trung bình. Cả hai ông, dù đã được ngoại bang nâng
đỡ hay đặt để, cũng đã là sản phầm của văn hóa Khổng
Giáo. Hai ông không chiếm độc quyền sân khấu chính trị Việt
nam nhưng là những nhân vật tiêu biểu nhất. Những người
lãnh đạo chính trị khác, khi không hoàn toàn do ngoại bang
chọn lựa, cũng giành được địa vị vì những lý do thuần
túy thuộc đức . Họ được tiếng là những người, hoặc
thanh liêm, hoặc can trường, hoặc có công vì đã vào tù ra
khám, chứ hoàn toàn không phải vì họ được nhìn nhận là có
khả năng làm cho đất nước giàu có hơn. Kết quả: bốn
triệu người chết và một GDP 300 đô la mỗi năm cho mỗi đầu
người.

Văn hóa Khổng Giáo còn để lại cho chúng ta một di sản khác
là sự vô lễ quá đáng. Mới đây tôi được đọc trên một
tờ báo trong nước một bài của nhà văn Trần Mạnh Hảo đả
kích một nhà văn khác vừa được giải thưởng văn học.
Trước đây tôi đã được biết đến Trần Mạnh Hảo qua tác
phẩm Ly Thân và có cảm tình với ông. Sau này tôi lại được
nghe những dư luận không tốt về tư cách của ông từ những
người mà tôi kính trọng về kiến thức và nhân cách. Tôi
vẫn còn phân vân và bài báo của Trần Mạnh Hảo một phần
nào đã giải tỏa cho tôi sự phân vân đó. Trần Mạnh Hảo
đả kích đoạn của tác phẩm thuật lại chuyện vua Hàm Nghi
bị Pháp bắt. Trần Mạnh Hảo hoàn toàn không dựa vào một
tài liệu nào cả, nhưng cảm thấy có thể thẳng thắn bác bỏ
chuyện của tác giả kia. Tại sao? Chỉ giản dị là tại cách
xưng hô. Tác phẩm kia thuật lại những lời đối đáp của
viên công sứ Pháp gọi vua Hàm Nghi là ngài, là nhà vua, v.v...
Như thế là đủ để Trần Mạnh Hảo quả quyết là tác giả
đó đã bịa đặt trắng trợn bởi vì có khi nào một người
chiến thắng lại nói với một tù nhân với lời lẽ cung kính
như vậy. Trần Mạnh Hảo không hiểu rằng đó là cách đối
xử rất tự nhiên và rất bình thường của người phương
Tây, bởi vì Trần Mạnh Hảo thuộc văn hóa Việt-Trung, trong
đó sự lỗ mãng là một thông lệ. Những ai đọc truyện Tàu
và truyện đã sử Việt nam đều đã quá quen với ngôn ngữ
xỉ vả và thóa mạ kẻ thù, nhất là kẻ thù sa cơ thất thế
(trong các truyện Tàu tôi chỉ thấy thời Tam Quốc có Tào Tháo
và Tôn Quyền là đôi khi đối đáp nhã nhặn với người
chiến bại). Một chi tiết khác trong bài của Trần Mạnh Hảo
là lời lẽ của nó rất gay gắt. Đó cũng là đặc tính chung
của phần lớn những bài tranh luận giữa người Việt nam
thuộc mọi thế hệ. Hình như chúng ta cảm thấy có bồn phận
phải nổi giận khi không đáng.

Nhưng sự lỗ mãng không phải là một nét đặc trưng của
riêng văn hóa Khổng Mạnh, mà là của mọi nền văn hóa trong
đó thương mại thiếu vắng. Thương mại khiến người ta gặp
gỡ nhiều, tiếp xúc rộng và trở thành lịch sự. Thương mại
cũng bắt buộc người ta tìm lời lẽ trang nhã để thuyết
phục khách hàng. Thương mại cũng bắt buộc người ta tìm
hiểu khách hàng, đặt mình vào địa vị khách hàng để cố
khám phá khách hàng muốn gì và sau đó để chinh phục cảm
tình của khách, để khách mua hàng hóa hay dịch vụ cần dùng
nơi mình thay vì nơi một nhà cũng cấp khác. Những người có
chút kinh nghiệm về thương mại đều hiểu rằng muốn như
thế thì chỉ có một cách là phải rất lương thiện, rất lễ
độ và quí mến khách hàng một cách thực sự. Cảm tình và
khả tín là hai vốn quí nhất của một doanh nhân. Thiếu hai
đức tính đó thì tốt hơn hết là đừng đi vào thương
nghiệp, cùng lắm chỉ thành công nhỏ và tạm bợ mà thôi.
Chính vì thế mà các dân tộc buôn bán cũng là những dân tộc
khả ái nhất.

Đọc một số bài phê phán văn hóa Khổng Giáo của tôi một
số thân hữu thường bày tỏ sự lo ngại là nếu không còn
Khổng Giáo liệu chúng ta có mất luôn các lễ giáo cỗ truyền
của mình không? Xin các bạn yên tâm. Trước hết, chỉ 10 các
bạn không bỏ được sớm thôi, từ giã một nền văn hóa khó
lắm. Sau đó, chúng ta sẽ lễ độ hơn chứ không mất lễ độ
đâu. Một cách không chủ ý nhưng có thực, văn hóa Khổng
Giáo, vì loại bỏ thương mại, đã khiến con người trở nên
vô lễ. Có những thân hữu khác lại biện luận rằng không
nên bài xích Khổng Giáo vì chính nhờ Khổng Giáo mà Việt nam
và Trung Quốc đã được ổn định trong hơn hai ngàn năm. Nhưng
ổn định nào? ổn định trong sự dậm chân tại chỗ, trong
sự nghèo khổ, kìm kẹp và thua kém, có phải là một ổn
định đáng mong muốn không? Chúng ta đã là chúng ta ngày hôm
nay chính vì chúng ta đã là nạn nhân của sự ổn định đó.
Mà thực ra có ổn định gì đâu. Lịch sử Trung Hoa và Việt
nam, nhất là Việt nam trong hai mươi thế kỷ Khổng Giáo cho
đến thế kỷ 19 đã đấm máu hơn lịch sử của mọi dân tộc
khác, với đàn áp thường trực và nỗi loạn triền miên, khi
không có chiến tranh với ngoại bang. Các bạn thử đọc lại
thật kỹ lịch sử nước ta xem trước khi người Pháp đến,
chúng ta có bao nhiêu năm chiến tranh? Các bạn sẽ khám phá ra
con số thật kinh khủng và các bạn cũng sẽ thấy rằng con số
những năm chiến đấu chống ngoại xâm chỉ chiếm một tỷ
lệ không đáng kể. Văn hóa Khổng Giáo do tính bất dung và vô
nhân đạo của nó đặt xã hội trong tình thế thù địch
thường trực. Cái mà chúng ta gọi là sự ổn định thực ra
chỉ là sự trì trệ.
Truyền thống nào cũng có sức mạnh quán tính của nó.

Truyền thống càng dài quán lực càng cao. Không có gì đáng
ngạc nhiên nếu khi phải từ giã một tập quán chúng ta cảm
thấy một mất mát lớn, bởi vì các lập quán nằm trong vô
thức của chúng ta và gắn bó với cơ thể của chúng ta. Sự
nghèo khổ không phải chỉ là một tình trang mà là cả một
hệ thống có cả đạo đức, triết lý, sự thỏa mãn và niềm
hãnh diện của nó. Thoát ra khỏi sự nghèo khổ không phải là
dễ bởi vì chính những người nghèo cảm thấy nếp sống của
họ là đúng đắn, không có gì phải thay đổi. Cũng thế,
những lập quán tệ hại đến đâu vẫn có cái tiện nghi gớm
ghiếc, nhưng có thực, của chúng. Những người chống đối
hủ tục bó chân phụ nữ của Trung Hoa không ai khác hơn là
chính các phụ nữ Trung Hoa. Nhưng người lúc ban đầu phản
đối mạnh nhất chiếc áo dài duyên đáng hiện nay của phụ
nữ Việt nam không ai khác hơn là chính các phụ nữ Việt nam.
Cũng những phụ nữ Việt nam và Trung Hoa khả kính đã bảo vệ
một cách nồng nhiệt nhất tam tòng, tứ đức - và chữ, trinh
gớm ghiếc - đã đầy đọa họ trong hàng chục thế kỷ.

Đọc lịch sử Việt nam, có một trang mà chúng ta không thể
đọc mà không nhỏ lệ. Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta
đã có hàng chục ngàn người dân rất bình thường, chọn lựa
đi tới trước đao phủ thay vì từ bỏ lòng tin của mình. Đó
là những người Công Giáo dầu tiên của Việt nam, nạn nhân
của chính sách cấm đạo dưới triều Nguyễn. Dù chia sẻ hay
không tin tín ngưỡng của họ, mọi người Việt nam đều có
thể hãnh diện về sự dũng cảm đó. Đối đầu với họ,
những người hưởng ứng chính sách cấm đạo và xả thân đi
đánh các họ đạo là ai? Đó là những người Văn Thân, Cần
Vương, những người cũng đáng quí nhất của dân tộc, nghĩ
rằng mình đang hy sinh bảo vệ đất nước của cha ông chống
lại một cuộc xâm lăng mới và một tà thuyết mới. Nếu
chúng ta, thay vì là một xã hội nông nghiệp khép kín, là một
dân tộc có truyền thống thương mại và trao đổi thì phản
ứng của chúng ta chắc chắn sẽ không như thế.

Điều mà chúng ta đang cần là một sự mạnh bạo đoạn tuyệt
với một tâm lý lỗi thời và dám đổi mới, dám từ bỏ
đường xưa lối cũ, dám muốn đi tới những chân trời mới,
tìm những thành công thật lớn. Các bạn có thể hỏi tôi, nói
lung bung như vậy có ích lợi gì không, có đề nghị cụ thể
gì không? Có một đề nghị nhỏ rất dễ làm, mà nếu các
bạn cùng làm tôi bảo đảm là chỉ trong vòng một thế hệ
đất nước sẽ rất khá. Đề nghị đó như thế này: khi một
đứa trẻ ra chào đời các bạn hãy hôn và chúc nó:
<em><strong>Con sẽ là doanh nhân, con nhé?</strong></em>

<em>Trích một chương trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn của ông
Nguyễn Gia Kiểng. Bấm <a
title="http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=Downloads&d_op=getit&lid=89">vào
đây </a> để tải xuống cuốn sách ở dạng PDF (toàn văn).</em>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/7873), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét