thì câu trả lời rất là hiển nhiên. Nền Dân Chủ của Hoa
Kỳ dựa trên những tiền đề rằng: "Tất cả mọi người sinh
ra đều bình đẳng, (và) được đấng tạo dựng nên họ ban
cho những quyền bất khả chuyển nhượng," và rằng "Chính
quyền có được quyền lực chính đáng là nhờ vào sự ưng
thuận của những người dưới quyền cai trị." Những điều
này, nêu ra trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ, là
những "chân lý" đã được xem là "hiển nhiên." Đương nhiên,
từ trước đến nay chưa bao giờ có những điều như vậy.
Không một chính quyền nào trước đây đã đặt nền tảng
trên những điều này. Những điều này, tuy thế, là những
điều tuyên xưng niềm tin hay những nguyên lý đầu tiên, và dù
không thể chứng minh được, đã bày tỏ những quan điểm căn
bản về công lý của các bậc lập quốc Hoa Kỳ. Dẫn giải
từ lý thuyết này, tác giả Joshua Muravchik, một học giả của
Học Viện Doanh Thương Hoa Kỳ, và là tác giả của cuốn sách:
"Xuất Cảng Nền Dân Chủ: Hoàn Thành Vận Mệnh Hoa Kỳ," đã
nhìn vào khái niệm của "nền dân chủ phổ quát" và định
nghĩa sự giới hạn và những thách thức của khái niệm
này.</em>
<center>* * *</center>
Không có điều gì trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập nói rằng các
nguyên lý này chỉ áp dụng cho người Mỹ. Ngược lại, các
tác giả đã nhắm mô tả những nguyên lý về một chính phủ
công bình có thể áp dụng cho "mọi người." Tính chất phổ
quát này đã được xác nhận bởi sự thành công với việc
chính thể Hoa Kỳ thu hút hằng triệu những người di dân
thuộc mọi giống dân khác biệt hoàn toàn với những người
lập quốc, và những người nô lệ đã được thả tự do.
Trong khi quốc gia tăng trưởng với nhiều ngôn ngữ khác nhau,
nền dân chủ của Mỹ đã không yếu đi, mà đều đặn tăng
trưởng một cách vững chắc hơn. Những người Mỹ đã tin
tưởng vào nền dân chủ của mình và vào các lý do mà các
bậc tiền bối lập quốc đã nêu lên, cũng cần phải tin
tưởng chắc chắn rằng người dân ở các quốc gia khác cũng
được trời ban cho những quyền tương tự, và chính quyền
khắp mọi nơi phải được thiết lập trên sự ưng thuận của
người dân.
<strong>Những thách thức của Thuyết Dân Chủ Phổ Quát</strong>
Nhưng với nét đặc trưng rất Hoa Kỳ này, lòng tin chắc vào ý
tưởng dân chủ phổ quát đã không được xem như là điều
"hiển nhiên" đối với mọi người. Thí dụ, các đại biểu
của các Chính Quyền Á Châu tụ họp ở Vọng Các năm 1993 trong
buổi họp vùng để chuẩn bị cho hội nghị thế giới của
Liên Hiệp Quốc về Nhân Quyền đã tuyên bố rằng: "Tất cả
mọi quốc gia... có quyền định đoạt hệ thống chính trị cho
họ," với ngụ ý bao gồm cả những hệ thống vô dân chủ. Và
họ nhấn mạnh rằng Nhân Quyền, "phải được xem xét trong
bối cảnh của... quốc gia và những điều cá biệt của vùng
và các quá trình khác nhau về lịch sử, văn hóa, và tôn giáo
của mỗi nước." Mặc dù câu nói trên đã được bày tỏ một
cách khoa trương, như thường dùng trong các lời tuyên bố
ngoại giao, điểm được nêu lên thật là rõ ràng: Dân Chủ có
thể không tốt cho tất cả mọi người. Lời tuyên ngôn ở
Vọng Các đã ngấm ngầm ủng hộ ý kiến của đường lối
chính trị "theo kiểu Á Đông" đặt để tập thể trước cá
nhân, và theo đuổi chính sách phát triển kinh tế bằng các
phương tiện của nền thống trị độc quyền. Các ý tưởng
tương tự, đã được đề ra cho những người ở các vùng
khác, thí dụ như, những người vùng Trung Đông ưa thích các
hệ thống chính trị dựa trên các lời giáo huấn của đạo
Hồi Giáo, hay những người Châu Mỹ La Tinh thì lại thấy hệ
thống chính trị theo kiểu hợp tác bình dân thích hợp hơn là
một nền dân chủ cách "máy móc".
Một đường hướng tranh luận thứ hai thách thức thuyết dân
chủ phổ quát từ một phương hướng khác. Nhiều nhà học
giả Hoa Kỳ đã đặt câu hỏi là không biết những người
thuộc các nước nghèo hay các nước không thuộc Tây phương có
khả năng tự cai trị chính họ hay không? Nhà bình luận chính
trị Irving Kristol đã viết: "Tôi không phải một trong những
người đã vui sướng lên với sự thành công của nền dân
chủ ở Á Căn Đình [Argentina] hay ở Phi Luật Tân [Philippines]
hay ở... Đại Hàn... Tôi cá rằng dân chủ sẽ không sống sót
nổi ở những quốc gia đó," bởi vì các quốc gia đó thiếu
"những điều kiện tiên quyết của nền dân chủ... những
điều chắc chắn... như các quan điểm về truyền thống và
văn hóa." Tâm điểm của quan điểm này, không phải ở chỗ có
một thể chế khác tốt đẹp hơn dân chủ, mà là nền dân
chủ ở các quốc gia đó thực sự bất khả thi. Như nhà học
giả về chính trị James Q. Wilson đã viết: "Dân chủ và sự
tự do của con người thì tốt cho mọi người... Nhưng những
cái tốt họ mang lại chỉ có thể ghi nhận khi người ta điềm
tĩnh và dung thứ được những khác biệt." Ông ta nêu lên, đây
không phải là trường hợp ở Trung Hoa, Nga Sô, hầu hết Phi
Châu và ở Trung Đông, hay hầu hết Châu Mỹ La Tinh. Ông Wilson
và Kristol, là những người bảo thủ, nhưng nhiều học giả
cấp tiến khác đã dựa theo cái nhìn của họ. Thí dụ, khoa
học gia về chính trị Robert Dahl viết:"Đó là một thực tế bi
thảm, dù có thể nhiều người không đồng ý, là hầu hết
tại các nước khác trên thế giới đều thiếu những điều
kiện cần thiết cho sự duy trì và phát triển dân chủ, và
nếu mà có thì cũng yếu ớt."
Chúng ta hãy cùng cân nhắc lại từng điểm một trong hai điều
phản đối thuyết dân chủ phổ quát này. Trước lời tuyên
bố rằng mỗi quốc gia có quyền chọn hệ thống chính trị cho
mình, ta phải hỏi ai đã phát biểu cho quốc gia của mình? Nhà
kinh tế người Ấn Độ, Amartya Sen, người đã đoạt giải
Nobel năm 1998, cho rằng: "những lý lẽ bào chữa cho những xếp
đặt các nền chính trị chuyên chính ở Á Châu... thường
được đưa ra không phải từ những sử gia độc lập mà chính
là từ những giới cầm quyền." Bởi vì những biện luận như
vậy rõ ràng là chỉ nhằm phục vụ riêng tư, nên những điều
đó thường được nêu lên với danh nghĩa của người dân.
Những giới này nói với chúng ta, là "nhân dân Trung Hoa" hay
"nhân dân Tân Gia Ba [Singapore]" hay bất cứ ở nơi nào, người
dân không muốn dân chủ. Bỏ qua một bên điểm khôi hài này,
(tại sao, tách các điều này khỏi những tiền đề dân chủ,
sự việc đã có bao giờ ăn nhằm đến những gì người dân
muốn?) Ở đây câu hỏi được nêu lên, là làm thế nào chúng
ta biết những gì người dân muốn trừ phi chúng ta hỏi họ?
Những kẻ cai trị thường nói họ biết đối tượng của họ
muốn gì, nhưng tại sao phải chấp nhận những lời tuyên bố
của họ? Vào năm 1950, ở miền nam nước Mỹ, phát ngôn viên
cho người da trắng thường khẳng định rằng "những người da
màu" hài lòng chấp nhận việc phân biệt chủng tộc. Nhưng mà
khi quyền bầu cử đã được bảo đảm cho người da đen, thì
lập luận này của những người phân biệt chủng tộc đã
hoàn toàn bị phản bác.
Trên khắp thế giới, đã có nhiều trường hợp trong đó
người sống dưới chế độ độc tài rốt cuộc cũng đã
được cơ hội bày tỏ ước muốn của họ, và kết quả thì
luôn đi ngược lại với những gì những kẻ độc tài tuyên
xưng. Thông thường, điều này đã xảy ra khi chính thể đương
nhiệm tự đưa mình rơi vào vòng áp lực và bởi vậy đã dàn
xếp một cuộc bầu cử dưới những nhiệm kỳ có lợi cho họ
trong niềm hy vọng còn bám víu vào quyền lực. Vào năm 1977, khi
các cuộc biểu tình dâng cao để chống lại hệ thống quân
luật mà Indira Gandhi đã áp đặt trên Ấn Độ, bà đã đồng
ý tiến hành một cuộc bầu cử vì bà tin tưởng rằng cuộc
bầu cử sẽ mang lại cho bà lá phiếu tín nhiệm. Bà lý luận
rằng trong một quốc gia đã kiệt quệ như Ấn Độ, những
tiền đề kinh tế mà bà đưa ra sẽ được chấp nhận nhiều
hơn là những quyền lợi về chính trị. Ngược lại, cuộc
bầu cử đã truất phế bà ra khỏi địa vị, và phe đối lập
là phe được lãnh đạo bởi đảng của "tiện dân", những
người nghèo nhất của những người nghèo (thuộc đẳng cấp
xã hội thấp nhất Ấn Độ) [đã lên cầm quyền]. Vào năm
1987, ông Ferdinand Marcos kêu gọi một "buổi bầu cử tức thời"
ở Phi Luật Tân, để phe đối lập không có đủ thời giờ
tổ chức, nhưng ông ta cũng vậy, đã bị đánh bại. Vào năm
sau đó ở Chí Lợi [Chile], Tổng thống Augusto Pinochet, không dám
liều lĩnh một cuộc tranh cử, đã đồng ý một cuộc trưng
cầu dân ý để quyết định cho ông được tiếp tục cai trị.
Sáng kiến này là để cho cử tri chọn lựa giữa tình trạng
hiện thời hay một tương lai xa lạ mà chỉ dẫn đến bất
ổn. Mặc dù vậy, đa số đã bầu "không chấp nhận" sự tiếp
tục cai trị của ông Pinochet. Vào năm 1989, chính quyền Ba Lan
và phe đối lập đã đồng ý để có một cuộc bầu cử bán
phần. Nhiều ghế trong ngành lập pháp đã được đề ra để
dân chúng lựa chọn, nhưng trong danh sách của những đảng viên
cộng sản cao cấp không có một người đối lập nào để
bảo đảm là họ sẽ thắng cử. Tuy vậy, người dân đã làm
hỏng ý đồ đó. Mặc dầu không có những ứng cử viên khác
để chọn, phần đông cử tri đã xóa trên lá phiếu tên của
những người tai to mặt lớn đang cai trị. Những người này
là những ứng cử viên chưa từng có trong lịch sử, tranh cử
không có đối lập mà vẫn thua. Vào năm 1990, trong lúc các chế
độ độc tài ngã nhào chung quanh thế giới, những nhà cai trị
quân sự ở Miến Điện đã bị đương đầu với những cuộc
biểu tình vĩ đại trên đường phố. Quân lính đã giết rất
nhiều người biểu tình, nhưng rốt cuộc những nhà cai trị
đã phải đồng ý để đưa ra một cuộc bầu cử đầu tiên
trên toàn quốc trong vòng 30 năm qua. Đảng Liên Minh Quốc Gia
Dân Chủ (National League for Democracy) đã thắng hơn 80 phần trăm
lá phiếu, nhưng bi thảm thay chính quyền quân phiệt đã từ
chối chấp nhận kết quả của cuộc bầu cử.
<strong>Ước muốn có nền dân chủ</strong>
Còn rất nhiều những thí dụ điển hình như vậy có thể nêu
lên. Ngược lại, đâu là những thí dụ điển hình về những
người độc tài đã thắng cử trong một cuộc bầu cử tự do
vì nhân dân chấp thuận sự cai trị của họ? Đã có khi nào
người dân lại bỏ phiếu từ bỏ những quyền dân chủ của
họ? Thật ra cũng có những trường hợp các nhà lãnh đạo
được bầu trong cuộc bầu cử tự do, đã từ chối không
nhượng bỏ quyền lực, và do đó đã biến họ trở thành
những kẻ độc tài, nhưng chưa có trường hợp nào mà những
kẻ độc tài đó dám nêu lên ý định độc tài của họ khi
tranh cử. Cũng có những trường hợp những cựu đảng viên
Cộng Sản được bầu trở lại quyền hành ở nhiều quốc gia
thuộc khối Xô Viết cũ. Nhưng không có một ứng cử viên nào
đã đề nghị phục hồi lại sự cai trị độc đảng. Thay vào
đó, họ đã vận động tranh cử trên những vấn đề xã hội
và kinh tế, đồng thời xác nhận sẽ tuân theo những thủ tục
dân chủ.
Hai trường hợp gần đây nhất là người dân Indonesia và Iran
sống dưới sự cai trị chuyên chính đã chứng tỏ ước muốn
chế độ dân chủ cho họ. Các cuộc biểu tình của sinh viên
học sinh đã đưa đến sự sụp đổ chế độ của Tướng
Suharto vào năm 1998; những cuộc bầu cử tiếp sau đó đã
khiến cho đảng phái cai trị Golkar phải thất bại nặng nề.
Iran vẫn chưa đưa ra được những cuộc bầu cử hoàn toàn tự
do. Chỉ có những ứng cử viên nào tuyên hứa ủng hộ một
hệ thống Hồi Giáo và đã được chấp nhận bởi thẩm quyền
của hàng giáo phẩm mới được cho phép ra ứng cử. Nhưng ít
ra, những cuộc bầu cử nghị viện trong năm nay đã chứng tỏ
rõ ràng ước muốn của đại chúng cho một chế độ dân chủ
càng bành trướng hơn. Những biến cố này cho thấy "ông trời
có mắt," vì Iran và Indonesia là hai quốc gia đã lên tiếng
trình bày lý lẽ tích cực nhất ở hội nghị Vọng Các cho
rằng người dân Á Đông không hoan nghênh những tiêu chuẩn
quốc tế về nhân quyền và dân chủ.
Một dạng thái khác của điểm tranh luận này cho rằng một
vài quốc gia không muốn có dân chủ được minh họa bằng lời
của nhà học giả Hoa Kỳ Howard Wiarda, một nhà chuyên môn về
Châu Mỹ La Tinh. "Tôi nghi ngờ rằng Châu Mỹ La Tinh muốn... dân
chủ theo lối Hoa Kỳ (U.S-style)." Điều này thoạt nghe như là
đặt câu hỏi có phải chăng dân chủ là một giá trị thích
hợp phổ quát cho mọi nơi, nhưng hơn thế, có phải chăng tất
cả mọi quốc gia phải có một hệ thống chính trị được
đúc từ một cái khuôn giống nhau, được đặt tên là cái
khuôn của người Mỹ. Đây là một vấn đề sai nhầm. Tại sao
bất cứ quốc gia nào khác lại muốn dân chủ theo lối Hoa Kỳ?
Hệ Thống Mỹ, với những nét đặc thù như chính sách Cân
Bằng và Kiểm Soát, quyền lực mạnh mẽ được phân chia cách
kỳ quặc ở Thượng Viện, sự phân chia quyền lực giữa tiểu
bang và chính quyền liên bang, cái ưu thế của hai đảng chính,
vân vân... được khởi sanh từ những kinh nghiệm riêng của
nước Mỹ. Các chế độ dân chủ khác gồm có các hệ thống
nghị viện, những chính quyền thống nhất, có các cuộc bầu
cử đa đảng, có chế độ đại biểu theo tỷ lệ cân xứng,
có các hệ thống lập pháp đơn viện, và vô số các dạng
khác. Khi những người chiếm cứ Phe Đồng Minh thiết lập Dân
Chủ ở Nhật Bản sau Đệ Nhị Thế Chiến, họ đã thử dùng
hệ thống liên bang trong một thời gian ngắn, nhưng cái đó quá
xa lạ đối với truyền thống của Người Nhật, cho nên hệ
thống đó đã không tồn tại. Mỗi một nền dân chủ có tính
cách riêng biệt của nó, và có thể có nhiều dạng tổ chức
khác nhau.
Tuy nhiên, không thể nói rằng những gì được gọi là dân
chủ thì xứng với tên của nó. Trải qua nhiều năm, nhiều
phong trào và chính thể cách mạng, hay nhiều người Cộng Sản,
đã tự cho họ là "dân chủ" bởi vì họ tự nhận là đã tận
tâm lo cho sự phúc lợi của người dân, mặc dầu họ đã
không được tuyển chọn trong một cuộc bầu cử. Nhưng trong
những năm cuối cùng của Liên Bang Sô Viết, Tổng Thống Mikhail
Gorbachev đã xác nhận là từ ngữ dân chủ đã không được
dùng một cách đúng đắn. Ông nói: "chúng ta biết ngày nay, là
chúng ta có thể tránh khỏi rất nhiều... khó khăn nếu tiến
trình dân chủ đã được phát triển một cách bình thường ở
quốc gia chúng ta." Điều này có nghĩa như ông ta đã nói, "dân
chủ theo lối đại biểu và nghị viện."
<strong>Xác định dân chủ là gì?</strong>
Bởi vì từ ngữ đã được dùng một cách sai lạc, cho nên
rất là quan trọng để nhận ra một số đặc điểm căn bản
dùng phán đoán một quốc gia có dân chủ hay là không. Các
đặc điểm này được tóm tại trong ba điều. Thứ nhất, các
viên chức chính quyền chính yếu phải được tuyển chọn trong
những cuộc bầu cử công bằng và tự do. Điều này có nghĩa
là bất cứ ai cũng có quyền ra tranh cử và tất cả mọi
người đều có quyền bầu cử. Đương nhiên, cũng có một vài
sai biệt nhỏ không quan trọng lắm [nhưng cũng khiến cho dân
chủ không được hoàn thành], như Nam Phi dưới chính sách tách
biệt chủng tộc (apartheid) đã đưa ra những cuộc tranh cử, mà
người da đen lại không được bầu. Đó không phải là dân
chủ. Hay Iran đã có bầu tổng thống và ngành lập pháp, nhưng
nhiều ứng cử viên đã bị chặn ngăn không cho ứng cử bởi
quyền lực của giáo hội, và những viên chức dân cử lại
phải phục tùng các hội đồng tôn giáo không do dân bầu ra.
Đó không phải là dân chủ.
Thứ hai, tự do diễn đạt phải được cho phép, đó là, tự do
ngôn luận, báo chí, hội họp và các tự do giống như vậy. Dĩ
nhiên, cũng có một vài khuyết điểm nhỏ nhưng có thể có
chút quan trọng, như trường hợp tại Tây Bá Lợi Á [Serbia],
các phương tiện truyền thông đại chúng hầu hết nằm trong
sự độc quyền của chế độ, và một số nhỏ các cơ sở
truyền hình và báo chí độc lập thì lại bị quấy nhiễu về
cả thể chất và pháp lý, thì đó không phải là dân chủ mặc
dầu nhà nước đã đưa những cuộc tranh cử có tính cách thi
đua hẳn hoi
Thứ ba, pháp trị phải chiếm được ưu thế. Khi một người
đã bị kết tội với một tội trạng, người đó phải có
được lý do để tin tưởng là trường hợp của mình sẽ
được xét xử theo tội trạng, chứ không theo mệnh lệnh của
các thẩm quyền chính trị đưa xuống cho các vị thẩm phán.
Cũng giống như vậy, khi một người công dân phải chịu đựng
sự ngược đãi sai phạm dưới bàn tay của một viên chức,
thì phải có một số cách thức pháp định qua đó người công
dân có thể đòi được bồi thường. Như vậy, thì Mã Lai
không có thể chấp nhận là có dân chủ, mặc dù quốc gia này
mới tổ chức bầu cử, bởi vì người lãnh đạo bên phe đối
lập đã bị giam giữ trong nhà tù với những sự kết tội do
tổng thống chủ mưu.
Chúng ta hãy cùng nhau trở lại với thách thức thứ hai đối
với thuyết dân chủ phổ quát, đó là điều tranh luận của
các nhà tư tưởng như Kristol, Wilson và Dahl cho rằng dân chủ,
mặc dầu rất thích hợp, nhưng vượt quá khả năng của những
người không phải là Tây phương và nghèo kém.
Lý luận này chẳng phải là điều mới mẻ gì. Một vài thập
niên vừa qua, cũng đã có một số hoài nghi tương tự về khả
năng dân chủ của các xã hội mà nay đã được coi là có nền
dân chủ vững chắc, như Nhật Bản chẳng hạn. Khi Đệ Nhị
Thế Chiến sắp kết thúc, Tổng Thống Harry Truman ra lệnh cho
các chuyên viên hàng đầu về Nhật Bản làm việc ở Bộ Quốc
Phòng Hoa Kỳ thực hiện một báo cáo về chính sách của Mỹ
đối với Nhật Bản khi quốc gia ấy đã bị đánh bại. Chuyên
viên Joseph Grew đã thưa với ông rằng: "từ cái nhìn chiến
lược dài hạn, điều tốt nhất mà chúng ta có thể hy vọng
là thiết lập một chế độ quân chủ lập hiến, vì kinh
nghiệm đã cho thấy nền dân chủ ở Nhật Bản sẽ không bao
giờ thực hiện được." Tương tự như vậy, vào năm 1952 khi
sự chiếm đóng Tây phương ở Đông Đức kết thúc, khoa học
gia về chính trị nổi tiếng Hans Eulau đi kinh lý nước Đức
và viết một cách rất thất vọng rằng "Nền Cộng Hòa Bonn xem
ra giống như là màn trình diễn thứ hai của Weimar[*]... với
điềm báo trước hồ như là sẽ có số phận giống như cũ."
Vấn đề, Eulau giải thích, là "nền chính trị Đức Quốc đã
đặt căn bản không phải trên kinh nghiệm dân chủ mà đã trên
sự kêu gọi tình cảm."
Khi Ý Đại Lợi chuyển qua chủ nghĩa phát xít vào những năm
1920, sử gia Arnold Toynbee viết rằng: "Sự kiện nước Ý bác
bỏ dân chủ đã đặt ra một câu hỏi chưa có câu trả lời
dứt khoát là phải chăng cây chính trị không thể đâm rễ
vững chắc ở bất cứ nơi đâu ngoại trừ ngay trên phần
đất quê hương của nó," nghĩa là Anh Quốc và Hoa Kỳ. Nhưng
dù có ở Hoa Kỳ, nghi ngờ thường được nêu lên về khả
năng chính trị của một số công dân. Như thượng nghị sĩ
Strom Thurmond giải thích ở Viện Đại Học Luật Harvard vào năm
1957: "Nhiều người da đen, đơn giản mà nói, là không đủ
hiểu biết về chính trị để... tham gia vào các sứ vụ công
dân và chính trị... một số lớn khác có lẽ cũng thiếu một
số phẩm chất khác cần có trước để có thể bầu một lá
phiếu thật sự khôn ngoan."
Điều tranh luận nói rằng dân chủ đòi hỏi truyền thống dân
chủ là một lập luận vòng tròn. Làm thế nào mà có được
một truyền thống dân chủ ngoài việc thực tập dân chủ? Câu
trả lời, những kẻ hoài nghi hay nói, là dân chủ bên Tây
phương nảy sinh ra từ một số ý kiến từ truyền thống Tây
phương mà có thể truy tìm ngược lại từ thời cổ điển xa
xưa. Nhưng Amartya Sen có lời đáp lại rất đáng để ý. Ông
vạch ra rằng truyền thống Tây phương gồm có những yếu tố
thay đổi khác nhau. Nguồn gốc của dân chủ có thể truy tìm
từ thời cổ Hy Lạp, nhưng những nhà triết gia Hy Lạp lại
tán thành sự nô lệ. Dân chủ hiện đại được phác họa
dựa trên một số yếu tố lấy từ truyền thống Tây phương
trong khi đó cũng loại bỏ những điều khác. Vả lại, ông Sen
dẫn chứng những yếu tố tự do có thể tìm thấy trong Phật
giáo, Khổng giáo, Bà La Môn giáo, Hồi giáo, và các tư tưởng
cổ xưa của Ấn Độ, và ông ta hỏi tại sao những điều này
lại không có thể rút ra như một căn bản văn hóa để áp
dụng cho dân chủ ở thế giới không phải là Tây phương.
Mặc dầu chúng ta ý thức rằng văn hóa là một điều quan
trọng định đoạt chính trị, sự liên hệ giữa hai điều ấy
rất là khó để ghi ra cho rõ. Học giả về chính trị Samuel
Hungtington đã nhắc nhở chúng ta là một vài thập niên trước
đây tất cả mọi xã hội với phần đông dân chúng theo Khổng
giáo là xã hội nghèo đói, và các nhà học giả về Xã Hội
tranh luận rằng có một số điều gì đó trong thái độ hành
động được thúc đẩy thêm từ những niềm tin của Khổng
giáo đã giữ (những xã hội ấy) ở trong cảnh nghèo đói.
Thế nhưng, kể từ đó, các xã hội Khổng giáo đã kinh nghiệm
sự tăng trưởng kinh tế nhanh hơn là các xã hội Hồi giáo hay
Kitô giáo có thể làm được từ trước đến nay. Bây giờ,
các nhà học giả về Xã Hội đang cố gắng để hiểu điều
gì ở niềm tin Khổng Giáo đã thúc đẩy giàu mạnh.
<strong>Dân Chủ Phổ Quát có phải là điều thích hợp
không?</strong>
Lời phản bác thích đáng nhất đối với những người nghi
ngờ khả năng tiếp thu dân chủ của những người nghèo và
không phải là người gốc Tây phương là kinh nghiệm của
những thập niên gần đây. Chiếu theo bản tường thuật có
căn cứ và đích xác nhất, là bản "khảo sát tự do" hàng năm
do tổ chức tư nhân, "Nhà Tự Do" (Freedom House) thực hiện, là
năm ngoái, 120 quốc gia trong số 190 quốc gia trên thế giới đã
có chính quyền được bầu qua thể thức dân chủ. Tổng số
này tính ra có 62.5 phần trăm các quốc gia và bao gồm 58.2 phần
trăm dân số thế giới. Tới nay đã có 20 chế độ dân chủ
bầu cử ở Phi Châu, 14 ở Á Châu, không đếm các quốc gia
hải đảo vùng Thái Bình Dương Á Châu, trong số các quốc gia
này có 11 quốc gia có chế độ dân chủ. Không cần phải nói
thêm, các nền dân chủ không phải Tây phương này gồm có một
số đông các quốc gia nghèo. Đương nhiên, rất là đúng sự
nghèo đói, nạn mù chữ thất học, và các va chạm trong xã
hội làm cho việc thực thi dân chủ khó hơn. Chắc có thể xảy
ra là những chế độ dân chủ còn non nớt mà Nhà Tự Do đã
đếm năm nay sẽ trở lại chế độ độc tài, như là hầu
hết các quốc gia Tây Âu đã đạt được dân chủ qua những
giai đoạn của tiến triển và thoái lui chứ không phải là
tất cả (tiến đến dân chủ) cùng một lúc. Nhưng kinh nghiệm
lịch sử chứng minh rằng những trở ngại văn hóa và xã hội
không phải là không thể vượt qua được. Hãy cùng xét chế
độ dân chủ đầu tiên được thành lập năm 1776, chế độ
ấy rất là bất toàn, và bây giờ, 224 năm sau, đã có 120 chế
độ dân chủ, điều nổi bật là dân chủ đã bành trướng
rộng lớn đến thế nào chứ không phải là dân chủ đã bị
giới hạn như thế nào.
Nếu tất cả những điều này đã chứng tỏ là dân chủ phổ
quát là điều quả thực có thể thực hiện được, liệu nó
có phải là điều người dân mong muốn không? Tôi tin tưởng
là có. Đầu tiên, nó sẽ tạo ra một thế giới hòa bình hơn.
Các chế độ dân chủ không đánh lẫn nhau. Có rất nhiều
nghiên cứu đã được chú tâm vào điểm quan sát này từ lúc
nó được nêu ra trong 10 hay 15 năm qua, và cho tới ngày nay nó
vẫn đứng vững, như lời nói của một học giả, "như là
một định luật thực nghiệm trong quan hệ quốc tế." Có cuộc
bàn cãi về điều các chế độ dân chủ thì hòa bình hơn, có
phải chăng đó là tự chính bản tính, hay chỉ là hòa bình hơn
đối với các nền dân chủ khác. Nhưng một trong hai đường
hướng, thì chiến tranh sẽ xảy ra ít thường xuyên hơn, nếu
càng đông (quốc gia) trên thế giới trở thành dân chủ.
Cộng thêm điều "hòa bình dân chủ" này, ông Sen đã đẩy
mạnh một đề nghị khác về các chế độ dân chủ mà chưa
có ai đã đưa ra một trường hợp bác bỏ. Ông ta nói là chưa
có một chế độ dân chủ nào đã kinh nghiệm nạn chết đói
hay một tai họa tương tự. Ông nói lý do là nạn chết đói có
thể ngăn ngừa được. Trong các hệ thống chính trị có xếp
đặt cơ cấu "thông báo phản hồi" (feedback), cơ cấu thường
có trong chế độ dân chủ, các chính phủ đã được báo
động khi các trạng huống tạo nên nạn chết đói đang thành
hình và họ đã hành động để làm giảm bớt đi trước khi
những điều đó đạt đến mức tỷ lệ thảm khốc.
Những điều này là những lý lẽ then chốt ủng hộ cho dân
chủ. Nhưng, đối với tôi, có lẽ bởi vì tôi là một người
Mỹ, lý do mạnh mẽ nhất thì không khách quan lắm. Tôi tin
tưởng là mỗi một người trưởng thành phải được có
tiếng nói trong chính phủ của mình, nếu người ấy muốn
vậy. Đây là một phần trong việc hình thành nhận thức của
tôi về nhân phẩm, dù cho các chính quyền dân chủ có đưa ra
những quyết định khôn ngoan hay là không. Nhiều cá nhân không
luôn luôn quyết định một cách khôn ngoan trong cuộc sống cá
nhân của họ, thí dụ như trong việc chọn người phối ngẫu
hay nghề nghiệp. Nhưng tôi tin tưởng cái đó tốt cho người ta
để họ được tự do lựa chọn và phạm sai lầm cho chính
họ, còn hơn là để cho người khác cai quản cuộc đời của
họ. Giống như vậy, theo cái nhìn của tôi, có thể áp dụng
vào phạm vi công cộng. Tôi không chứng minh được là tôi
đúng. Đây không phải là một đề nghị có thể chứng minh
được, nhưng nó là vấn đề của những giá trị cốt lõi.
Dầu vậy, xét về sự lan rộng của dân chủ chung quanh thế
giới, những gía trị này đã được chia sẻ bởi rất nhiều
người có những kinh nghiệm rất là khác với những gì của
cá nhân tôi.
© Học Viện Công Dân 2006
Nguồn: <a
href="http://usinfo.org/wf-archive/2000/000515/epf113.htm">Democracy: A Right
of All Nations</a>
[*] Weimar là nền Cộng hòa của nước Đức giai đoạn 1919-1933.
Khi đế quốc Đức bị hủy bỏ vì thất bại trong Đệ nhất
Thế chiến, quốc hội Đức nhóm họp để thiết lập nền dân
chủ cộng hòa tại thành phố Weimar. Cộng hòa Weimar kéo dài
đến 1933 thì chấm dứt khi Hitler lên nắm quyền, qua bầu cử
tự do và công khai, và thiết lập chế độ độc tài Quốc-Xã.
(Ghi chú của HVCD).
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/7854), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét