về nền kinh tế Việt Nam. Năm 2010 khá đặc biệt vì nó là
năm bản lề, khép lại thời gian hoạt động của chính phủ
cũ và mở màn cho một chính phủ mới. Đây là thời gian khởi
đầu từ năm 2006, sau khi Việt Nam đã hoàn toàn hoà nhập với
nền kinh tế giới, với tất cả các rào cản mà các nước
dựng lên che chắn, hoặc tự mình dựng lên che chắn đã
được xoá bỏ. Từ mốc 2006, Việt Nam đã trở thành thành
viên bình thường của tất cả các định chế quốc tế quan
trọng, từ IMF, World Bank, cho tới WTO và cũng là thành viên của
các tổ chức mang nhiều tính chính trị hơn như ASEAN, APEC, kể
cả việc được bầu làm thành viên không thường trực trong
Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, cũng như đảm nhiệm các vai
trò quan trọng như là nước chủ nhà tổ chức hội nghị APEC
và chủ tịch ASEAN.
Sự nổi lên về mặt chính trị quốc tế như thế lại không
đi kèm với sự nổi lên về mặt kinh tế. Đáng thất vọng là
việc trở thành thành viên tổ chức WTO, sau hàng chục năm vật
lộn với đòi hỏi cải cách của tổ chức này, khơi dậy
được sự tin tưởng của cộng đồng giới làm ăn trên thế
giới rằng một con rồng mới sẽ xuất hiện, kéo theo được
dòng đầu tư khá ồ ạt từ nước ngoài đổ vào Việt Nam,
thì ngọn lửa hy vọng bùng lên từ đó hình như đang heo hắt
và lịm dần. Ngay cả sự tin tưởng của người dân trong
nước vào sự vận hành trơn tru của nền kinh tế cũng đang
mất dần. Điển hình là các hành động găm giữ vàng và
ngoại tệ của doanh nghiệp và người dân vào cuối năm 2010
để bảo vệ tài sản do lạm phát gây ra, đang lập lại tình
trạng lạm phát phi mã của năm 2008.
Bài này sẽ nếu ra một số yếu kém mà nền kinh tế Việt Nam
phải vượt qua, phản ánh những phân tích tác giả đã làm từ
nhiều năm nay.
<h2>1. Ổn định giá cả là ưu tiên số một của chính sách
phát triển</h2>
Hitler và Phát xít Đức nổi lên được vì người dân Đức
không thể chấp nhận được lạm phát phi mã sau thế chiến
thứ nhất. Tưởng Giới Thạch bị đẩy khỏi lục địa cũng
vì người dân mất hoàn toàn tin tưởng vào chính quyền này khi
không kiểm soát được lạm phát. Chính vì thế mà sau thế
chiến thứ hai, Đức và Đài Loan là hai nước đã có chính
sách triệt để không để lạm phát ngóc cổ dậy.
Việt Nam chính vì phải đối phó với nạn lạm phát phi mã có
lúc lên tới gần ngàn phần trăm vào những năm 80, đã phải
cải cách một cách triệt để. Nhưng tiếc thay nạn lạm phát
sau khi bị kéo xuống mức gần mức zero, tạo nên thời gian ổn
định khá dài và sự phấn khởi của người dân, đã trở
lại trong năm năm qua. Không những thế những người làm chính
sách gần như vẫn chưa cảm thấy sự nguy hiểm của nó, bởi
vì không thể không ngạc nhiên khi mà chính quyền vài năm nay
vẫn đề nghị và lại được Quốc Hội chấp thuận với chỉ
tiêu lạm phát ở mức 7%, một tỷ lệ lạm phát mà khó có
một nước đặt ưu tiên ổn định lên hàng đầu lại có thể
chấp nhận được [năm nay, lạm phát lên tới 12% - Diễn Đàn].
Không thể coi sự mất giá trên 70% trong 5 năm qua là bình
thường. Đối với người có đồng lương cố định thì họ
sẽ ngày càng nghèo đi rõ rệt.
<h2>2. Phải xoá bỏ tư tưởng chạy theo tốc độ GDP để tạo
sự ổn định về giá cả</h2>
Tư tưởng chạy theo tốc độ tăng trưởng ở mức 9-10% rồi
xuống mức 7-8% những năm gần đây cũng đều không đạt
được mà lạm phát lại tăng, nợ nước ngoài và nợ của
chính phủ cũng tăng mạnh, đồng thời nhập siêu lớn vẫn
chưa có lời giải.
<em>Biểu 1: Nợ nước ngoài của chính phủ (kể cả được
chính phủ bảo lãnh) (đơn vị: Tỷ đồng US)</em>
<img src="http://danluan.org/files/u1/Screenshot_2.png" width="598"
height="224" alt="Screenshot_2.png" />
Nguồn: Bản tin số 5 của Bộ Tài Chính.
Nợ nước ngoài đã tăng hơn gấp đôi trong 4 năm qua, từ 16
tỷ USD lên trên 37 tỷ (chỉ kể đến năm 2009), bằng 39% GDP.
Nợ của chính phủ chưa tính đầy đủ (vì chưa gồm nợ hưu
trí) cũng đã tăng lên trên 52% GDP. Những tỷ lệ này hoặc đã
vượt hoặc gần với nhưỡng của an toàn. Tuy nhiên do dự trữ
ngoại tệ mỏng, đòi hỏi ngoại tệ cho nhập siêu để đáp
ứng chỉ tiêu tốc độ phát triển lớn hơn khả năng (đặc
biệt là bành trướng đầu tư từ khu vực nhà nước) sẽ
tiếp tục làm giảm nhanh nguồn dự trữ này xuống tới mức
khủng hoảng.
Đặc biệt nghiêm trọng là nợ nước ngoài đang tăng nhanh, ở
mức 43% năm 2009. Quan trọng hơn nữa là nợ của doanh nghiệp
không được nhà nước bảo lãnh (chủ yếu là của doanh
nghiệp quốc doanh) mượn với lãi suất cao trên thị trường
cũng tăng nhanh, hơn gấp đôi năm 2009. Việc Vinashin không trả
được nợ, đã làm lãi suất vay của doanh nghiệp Việt Nam
trên thị trường thế giới tăng hơn 2.5 %, là điển hình của
loại nợ nói ở trên.
<h2>3. Tập trung vào sản xuất có chất lượng, xoá bỏ tham
nhũng</h2>
Tăng chất lượng, xoá bỏ tham nhũng là điều nói dễ, làm
khó, và ngày càng trở nên khẩu hiệu tuyên truyền, nói cho có
nói, không những của chính phủ mà còn của cả những người
phê phán chính phủ.
Tính khoa học đòi hỏi phải có những tiêu chí đánh giá dự
án rõ ràng minh bạch, và sau đó đánh giá chất lượng những
công trình đầu tư đã hoàn thành của nhà nước, để chấm
dứt các tỉnh tranh nhau đầu tư không có nhu cầu, và nếu có
đầu tư thì chi phí tốn kém, nợ tiếp tục chồng chất mà
chất lượng kém cỏi, cần đại tu ngay sau khi hoàn thành.
Việc bảo đảm chất lượng này có thể nói là vượt ngoài
khả năng của bất cứ một nhà kinh tế và kỹ thuật nào. Nó
là vấn đề chính trị và xã hội. Khi mà người dân và nhà
khoa học không có tiếng nói và tham gia thật sự vào quá trình
thông qua dự án và kiểm tra chất lượng, chống lại hệ
thống tham nhũng quyền hành đang hoành hành thì không thể giải
quyết được tình hình.
Một bài tính nhỏ sau đây cho thấy ăn cắp của công có thể
đã rất lớn, đặc biệt thông qua tiền phải "cưa" cho nhà
nhập khẩu và người kêu thầu. Số tiền này thường được
để ở nước ngoài và sau đó chuyển vào Việt Nam dưới dạng
kiều hối.
<em>Bảng 2: Kiều hối hàng năm - báo cáo hàng năm của VN cho
Ngân hàng Châu Á (đơn vị: triệu USD)</em>
<img src="http://danluan.org/files/u1/Screenshot1.png" width="600"
height="131" alt="Screenshot1.png" />
Ta có thể thấy số kiều hối tăng nhanh, điều đó là tốt cho
quốc gia, nhưng cũng nên tự hỏi là nguồn gốc kiều hối này
có thể giải thích được không? Hiện nay, số lao động Việt
Nam làm việc ở nước ngoài là 66 ngàn người, số kiều bào
là 3.0 triệu, nếu trừ đi kiều bào ở những nơi khó có thể
có đóng góp đáng kể như ở Campuchia, Lào, v.v. thì toàn bộ
số người có thể gửi số tiền đáng kể về Việt Nam là 2.5
người. Như vậy tính trung bình, mỗi người gửi về một năm
là 1200USD năm 2005 và năm 2010 là 2800 USD. Một con số cao khó
lòng tưởng tượng được, ngày cả trên cơ sở tính theo hộ
gia đình. Nếu so với Philippines năm 2010, số lao động ở
nước ngoài là 4.8 triệu và số tiền kiều hối là 10.7 tỷ USD
thì trung bình mỗi người gửi về một năm là 2200 USD. Nhưng
nên nhớ là người lao động ở nước ngoài có khuynh hướng
gửi toàn bộ số tiền để dành về còn kiều bào ở nước
ngoài thì hành vi sẽ khác hẳn.
Toà án Philadelphia ở Mỹ vừa xử tội hối lộ của một công
ty bán hàng cho các công ty quốc doanh Việt Nam cho thấy số
tiền hối lộ ở mức 15-20% giá trị nhập.
Nói chung, tham nhũng làm sói mòn mọi tin tưởng vào tương lai
tốt đẹp của xã hội.
<h2>4. Vai trò của quốc doanh</h2>
Có lẽ ít ai lại chủ trương xoá bỏ quốc doanh ngay lập tức.
Nhiều nước trong giai đoạn đầu đã sử dụng quốc doanh như
công cụ tập trung vốn, mở rộng sản xuất, tạo dựng sức
mạnh của nền kinh tế quốc gia rồi sau đó tư hữu hoá vì
cần động lực phát triển của tư sản cá nhân. Ta thấy
nhiều nước đã thành công trong chiến lược ngắn hạn này
như Hàn Quốc, Singapore một số nước Tây Âu như Đức, Pháp,
Anh và hiện nay may ra có thể là Trung Quốc.
Ta thấy thành công đòi hỏi hai điều kiện: luật pháp và kỷ
cương được tôn trọng và người tài được sử dụng. Trong
một xã hội thiếu kỷ cương và luật pháp minh bạch thì chỉ
có người bất tài và lanh ma mới có thể nổi lên. Sự thất
bại của quốc doanh Việt Nam cho đến hôm nay nói lên rằng
những tiền đề nền móng cần có chưa xuất hiện.
<h2>5. Những vấn đề thuộc nền móng xã hội</h2>
Những điều nói ở trên đòi hỏi việc xoá bỏ nguyên nhân
tạo ra tham nhũng, lạm quyền và xây dựng cơ sở cho việc
chống lại chúng. Đây là những vấn đề thuộc nền móng xã
hội, đòi hỏi sự thay đổi quan điểm cơ bản về tương lai
của xã hội thì mới có thể giải quyết được. Xin chỉ nêu
hai vấn đề.
<span class="underlined-text">Vấn đề sở hữu đất đai</span> là
một vấn đề nền tảng. Đất đai cùng với lao động và tư
bản chỉ là một trong ba yếu tố quan trọng trong kinh tế. Lao
động và tư bản đã được cởi trói để từng cá nhân trong
xã hội có thể xác định quyền tư hữu của mình. Thế nhưng
mảnh đất thì vẫn không. Nó thuộc "toàn dân", nhưng thật sự
là thuộc quan chức đang nắm chính quyền; họ có thể lấy
lại quyền sử dụng khi nào họ muốn, theo giá trị họ quyết
định, chuyển đổi mục đích sử dụng theo ý họ quyết
định. Đây chính là cơ sở cho tham nhũng và tạo xáo trộn
trong xã hội.
<span class="underlined-text">Vấn đề độc lập của tư pháp</span>
là yêu cầu quan trọng nhất nhằm bảo vệ công lý, kỷ cương
xã hội, chống tham nhũng, lạm dụng quyền hành của người
cầm quyền. Chừng nào mà tư pháp không độc lập, bị đặt
dưới nguyên tắc: " tất cả quyền lực thuộc về nhân dân;
quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối
hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp" thì khó lòng có công lý và
chống được tham nhũng. Nguyên tắc "quyền lực nhà nước là
thống nhất" đi ngược với nguyên tắc "quyền lực thuộc
về nhân dân", bởi vì người cầm quyền nhà nước không
phải là nhân dân. Lập pháp nếu có độc lập thì cũng chỉ
ngăn được sự lộng quyền của Hành pháp, nhưng không thể
bảo đảm công lý, mà công lý là quan trọng nhất cho quyền
làm người và sự ổn định xã hội.
<em>Vũ Quang Việt</em>
<strong>Chú thích:</strong> Bài đã đăng trên TBKTSG, nhưng không
đầy đủ.
<div class="special_quote"><strong>Vũ Thành Tự Anh - Kinh tế, đối
nội và đối ngoại 2010</strong>
(TBKTSG) – Về phương diện kinh tế, năm 2010 khép lại với
tốc độ tăng trưởng cao hơn một chút so với kỳ vọng, song
với những cái giá phải trả rất đắt: lạm phát so với cùng
kỳ năm trước lên tới 11,75%, lãi suất cho vay tăng vọt lên
15-18%, chênh lệch tỷ giá trong và ngoài ngân hàng lên tới trên
10%, nhập siêu (không kể vàng) xấp xỉ 15 tỉ đô la, dự trữ
ngoại hối đã giảm xuống mức thấp, thâm hụt ngân sách vẫn
nằm ngoài ngưỡng an toàn…
Rõ ràng là ổn định vĩ mô cho đến nay vẫn chỉ dừng lại
ở ước muốn chứ chưa đi vào đời sống kinh tế. Nguyên nhân
chính là do việc quá ham chạy theo tăng trưởng ngắn hạn trong
một nền kinh tế kém hiệu quả, đặc biệt là ở khu vực
doanh nghiệp nhà nước. Không những thế, chính sách tiền tệ
và tài khóa thiếu phối hợp, thậm chí mâu thuẫn nhau, khiến
cho môi trường vĩ mô vốn đã bất ổn càng trở nên bất
định và ẩn chứa nhiều bất trắc.
Trong môi trường này, phản ứng phổ biến của doanh nghiệp là
phòng thủ hay đánh quả, phản ứng phổ biến của người dân
có tiền là tích trữ vàng, đô la, hay bất động sản – các
hành vi không những không tạo ra giá trị gia tăng mà còn làm
tăng thêm sự bất ổn của thị trường và của môi trường
vĩ mô.
Về phương diện đối nội, một sự kiện nổi bật trong năm
2010 là Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Sự
kiện này qua đi với những vui buồn lẫn lộn. Nhưng có lẽ
buồn nhiều hơn vui. Gọi là "đại lễ" song người ta không
cảm nhận được phần "lễ", phần tinh thần của hào khí
Thăng Long ngàn năm trước, mà chỉ vui vẻ trong chốc lát nhờ
sự hoành tráng của phần "hội".
Việc dời đô 1000 năm trước đánh dấu sự trưởng thành
vượt bậc của dân tộc. Từ mảnh đất Hoa Lư nhỏ bé và
hiểm trở, dễ thủ khó công tiến ra Thăng Long, một dải
đồng bằng, hiên ngang đối diện với người láng giềng
phương Bắc. Chỉ mấy chục năm sau, cũng từ kinh đô Thăng
Long, Văn Miếu – Quốc Tử Giám ra đời, đánh dấu sự chủ
động tiếp nhận Nho giáo như một học thuyết trị quốc.
Từ đó trở đi cho đến giữa thế kỷ 19, đất nước nhìn
chung vắng bóng giặc ngoại xâm chiếm đóng lâu dài, vốn là
một tiền đề quan trọng để phát triển. Vượt trên mọi
thăng trầm thế sự, tinh thần độc lập, tự cường, và nhân
văn xuyên suốt theo dòng lịch sử, từ "Sông núi nước Nam"
của Lý Thường Kiệt đến "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn
Trãi, và "Tuyên ngôn độc lập" của Hồ Chí Minh khiến
người dân đất Việt từ nay có thể khảng khái ngẩng cao
đầu trong trời đất. Tinh thần ấy của một thủ đô tuy quy
mô khiêm nhường nhưng tràn đầy hào khí khiến lân bang và
quốc tế phải nể trọng.
Đó chính là điều những người có đôi chút ưu tư về thời
thế chờ đợi ở "đại lễ" lần này, và có lẽ đó cũng
là nguyên nhân chính khiến họ thất vọng. Hà Nội ngày hôm nay
rộng và đông hơn Thăng Long hàng chục, thậm chí hàng trăm
lần. Song về cốt cách và tinh thần, thủ đô ngày hôm nay còn
phải học lại rất nhiều từ cha ông ta ngàn năm trước.
Về phương diện đối ngoại, năm 2010 thực sự là một thành
công ngoài mong đợi. Có thể nói nền ngoại giao Việt Nam là
điểm sáng nhất trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội
của đất nước trong năm 2010. Tự tin và đĩnh đạc, Việt Nam
đã rất thành công trong vai trò Chủ tịch ASEAN và đã để
lại dấu ấn quan trọng trên hầu hết các lĩnh vực, tại hầu
hết các diễn đàn ngoại giao khu vực và quốc tế. Việt Nam
đã rất khéo léo trong việc vận dụng sức mạnh của ngoại
giao đa phương để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia,
từ đó đáp ứng nguyện vọng của người dân. Không những
thế, với việc mở rộng đối tượng thành viên, đặc biệt
là sự tham gia lần đầu của Nga và Mỹ, tại Hội nghị cấp
cao Đông Á và Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở
rộng, Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao vị
thế và tính liên kết của ASEAN, qua đó bảo vệ hòa bình, an
ninh khu vực và tự do hàng hải trên biển Đông.
Ở một "mặt trận" khác, giao thoa giữa kinh tế và ngoại
giao, Bộ Công Thương và Bộ Ngoại giao cũng đã rất chủ
động trong các hoạt động đàm phán Hiệp định đối tác kinh
tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Phạm vi của TPP
rộng hơn nhiều so với Hiệp định Tự do thương mại ASEAN và
thậm chí cả WTO. Chẳng hạn như TPP bao gồm cả các quy tắc
liên quan đến đầu tư, mua sắm chính phủ, chống độc quyền,
và di chuyển lao động.
Đồng thời, TPP cũng chú trọng đến việc bảo đảm quyền
tiếp cận hiệp ước dễ dàng hơn cho các doanh nghiệp nhỏ và
vừa, điều đặc biệt quan trọng với Việt Nam vì trên 95%
doanh nghiệp của nước ta thuộc loại này. Với sự chủ động
của các bộ ngành liên quan, hy vọng rằng lần này các cơ quan
hoạch định chính sách và cộng đồng doanh nghiệp sẽ được
chuẩn bị tốt hơn để khai thác cơ hội và hạn chế rủi ro
đi kèm với TPP chứ không bị động như lần gia nhập WTO
trước đây.
V. T. T. A.
Nguồn: <a
href="http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/45735/Kinh-te-doi-noi-va-doi-ngoai-2010.html">Thời
Báo Kinh Tế Sài Gòn</a></div>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/7445), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét