và Nhà Sản hiện tại có nhiều nét tương đồng: Khi đối
mặt với giặc ngoại xâm thì đoàn kết, mưu lược và dũng
cảm; nhưng lúc thời bình lại xa rời quần chúng, thể chế
mục ruỗng đổ nát. Lịch sử lặp đi lặp lại ở Việt Nam
cũng là bởi chúng ta không xây dựng được một cơ chế kiểm
soát quyền lực, loại bỏ những vị lãnh đạo không phân
biệt được phải trái, không biết lắng nghe tiếng nói của
trung thần nghĩa sĩ thời hậu chiến...</div>
Có một việc tôi đang muốn dành thời gian để làm — đọc
lại sử mình những năm sau chiến tranh.
Ví dụ sau khi đánh xong quân Nguyên, nhà Trần ra sao?
Sách vở hiện đại ghi về chuyện này hơi ít. Cụ thể là
trong các sử gia hiện thời, chỉ có Đào Duy Anh làm, và tôi
chỉ mới đọc có ông chứ chưa có dịp đi vào mấy bộ sử
cổ, song đã thấy cả một đề tài chưa ai khai phá.
Trong cuốn <em>Lịch sử VN - từ nguồn gốc đến thế kỷ
XIX</em>, Đào Duy Anh dành hẳn một chương, chương XXV, nói về
Bước suy đốn của nhà Trần, trong đó nói rõ việc đầu tiên
Trần Nhân Tông cho làm sau khi quân Nguyên rút lui năm 1285 là
duyệt lại hộ khẩu trong nước.
Để làm gì? Theo Đào Duy Anh, để tìm cách "lấy tiền của
mà tu bổ những tổn hại do chiến tranh gây nên."
Tiếp đó, Đào Duy Anh kể ra nhiều việc nhà Trần đã làm sau
1288 nhằm "ra tay bóc lột nhân dân thêm nữa".
"Ngay năm 1290, sử đã chép có nạn đói lớn, mỗi thưng gạo
giá đến một quan, nông dân nhiều người phải bán ruộng
đất và bán vợ con làm nô tì. Sau khi đã ra sức tham gia kháng
chiến trong quân đội hay trong dân quân, người nông dân thấy
đời họ không được cải thiện mà lại còn bị bóc lột hơn
xưa, họ rất lấy làm bất bình mà đã rục rịch phản đối.
Không thể dùng ngay thủ đoạn khủng bố, Trần Khâm (<em>tức
Nhân Tông — VTN</em>) lại nghĩ ngay đến việc dụng binh đối
với các nước nhỏ láng giềng để đánh lạc hướng bất
bình của nhân dân" (Sđd, bản của Nxb Văn hóa Thông tin, 2002,
tr. 258-259)
Một khía cạnh khác, gần đây báo chí nói nhiều tới
việc Nhân Tông thượng hoàng đi tu. Hôm nọ gặp nhau ở SG, anh
Trần Đĩnh -- bậc thày của tôi trên phương diện miên man tự
học, bằng sự lịch lãm của một người đã qua sống qua ba
chục năm chiến tranh và thường xuyên tiếp xúc với nhân học
hiện đại -- dự đoán, chắc là thượng hoàng thấy chiến
tranh khủng khiếp quá, nên tìm cách tách mình ra mà suy nghĩ
đấy thôi.
Cũng là một cách ghi nhận tâm lý hậu chiến!
Chỉ có điều cái tâm thế cao quý ấy là một cái gì mà
người nay chỉ ngưỡng mộ chứ chả thấy ai làm theo cả.
<h2>MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG HOA CUỐI ĐỜI TRẦN</h2>
Đánh xong quân Nguyên, nhà Trần cũng dần dần rơi vào khủng
hoảng.
Sau khi Nhân Tông Trần Khâm qua đời, người kế ngôi là thái
tử Trần Thuyên, đế hiệu là Trần Anh Tông (1293-1314)
Việt nam sử lược của Trần Trọng Kim ghi: "Anh Tông lúc
đầu hay uống rượu và đêm thường lẻn ra ngoài kinh thành đi
chơi, có khi bị đồ vô lại phạm đến".
Tiếp đó là các vua Minh Tông (1314-1329), rồi đến Hiến Tông.
Ông sau này lên ngôi lúc mới 10 tuổi, và làm vua được 13 năm,
tới 1341 thì qua đời, khi mất mới 23 tuổi.
Dụ Tông lên ngôi từ 1341. Vẫn theo Trần Trọng Kim, ông Dụ
Tông này "rượu chè chơi bời, xây cung điện đào hồ đắp
núi, rồi lại cho gọi những người nhà giàu vào trong điện
để đánh bạc. Bắt vương hầu công chúa phải đặt chuyện
hát tuồng (<em>do quân Nguyên đưa sang, mới du nhập – VTN
chú</em>), và bắt các quan thi nhau uống rượu, ai uống được
một trăm thăng thì thưởng cho hai trật.
Chính sự như thế cho nên giặc cướp nổi lên như ong".
Dụ Tông chết, không có con.
Bà Hoàng thái hậu lập một con nuôi là Dương Nhật Lễ, vốn
dân con hát, lên thay, nhưng bị tôn thất nhà Trần giết, dành
ngôi cho Nghệ Tông.
Ông này là một vị vua lạ, ở ngôi chỉ hai năm (1370 -- 1372)
lại nhường ngôi cho em là Trần Duệ Tông.
Lúc này ở Trung quốc, nhà Minh đã thay thế nhà Nguyên.
Xẩy ra một việc rất giống với ngày hôm nay.
Lúc Nhật Lễ đương quyền, vua nhà Minh lợi dụng nước ta
lộn xộn, nghe theo bầy tôi thuộc bộ Lễ, cho bọn này đem các
thần sông núi ở nước ta phụ tế vào đền nhạc độc của
TQ.
Rồi sai đạo sĩ là Diêm Nguyên Phục đến tế thần ở ta.
Đại Việt sử ký tiền biên ghi đó là thần núi Tản Viên và
các thủy thần sông Lô.
Đến khi Nghệ Tông lên, theo Tiền biên, ông cho hủy bỏ những
điều sai trái do các nho sĩ thời trước sinh ra, đó là những
gì bắt chước Trung Quốc.
Nghệ Tông nói "Tiên triều dựng nước có chế độ phép
tắc, không theo chế độ nhà Tống, bởi lẽ phương nam phương
bắc đều có vua của nước mình, không phải theo nhau."
Nghệ Tông nói tiếp, thời Dụ Tông, kẻ học trò mặt trắng
không thấu đạt được ý của sự lập pháp, đem phép cũ của
tổ tông bày đặt theo tục của xứ người. Như các loại
quần áo nhạc chương không thể kể hết được. Nay việc gì
cũng phải theo lệ cũ thời Trần Minh Tông (1314-1329).
Thế mới biết lúc này, ý thức về bản sắc đã hình
thành, có điều nó còn mong manh và phải luôn luôn gia cố.
Trong Đại Việt sử ký tiền biên, sử thần Ngô Thì Sĩ cho
biết người Minh khen Nghệ Tông là "hiếu hữu cung kiệm, bác
học minh mẫn".
Hai năm sau khi lên ngôi vua, Nghệ Tông lại lập em lên thay
thành vua Duệ Tông.
Tức Nghệ Tông là loại xem thường chính sự, coi lên xuống
ngôi vua như chuyện cởi chiếc giầy, thay chiếc áo --- Ngô Thì
Sĩ bình luận.
<div class="special_quote"><h2>Thời kỳ suy tàn</h2>
Nhà Trần đã có một thời đại rất hưng thịnh, đã từng
đại phá quân Nguyên cũng như bình phục được Chiêm Thành,
nhưng kể từ khi thái thượng hoàng Trần Minh Tông qua đời
(1357), vua Trần Dụ Tông ham mê tửu sắc, phó mặc mọi việc
triều chính để cho nhà Trần bước vào giai đoạn suy vi và sau
cùng bị mất ngôi.
Vua Trần Dụ Tông chẳng những bỏ bê triều chính mà còn ra
lệnh cho xây cung điện, tạo sưu cao, thuế nặng làm cho nhân
dân vô cùng khổ sở và ca thán. Trong nước, giặc giã nổi lên
khắp nơi. Trong khi đó tại triều đình, các bọn gian thần kéo
bè kết đảng và trở nên lộng hành vô cùng.
Chu Văn An, một vị quan thanh liêm, trung thần tại triều đình,
đã dâng thất trảm sớ đề nghị trị tội những tên tham quan
ô lại. Vua Trần Dụ Tông đã không nghe theo nên Chu Văn An đã
từ quan về nhà dạy học.
Năm 1369, Trần Dụ Tông mất, một người con là Nhật Lễ lên
thay. Theo sử sách, Nhật Lễ không phải là con Dụ Tông mà mẹ
Lễ vốn là cô đào, vợ của kép hát Dương Khương, đã mang
thai Lễ trước khi làm vợ Dụ Tông. Vì vậy sử vẫn gọi tên
người con là Dương Nhật Lễ. Nhật Lễ ở ngôi bỏ bễ chính
sự, ham tửu sắc, hằng ngày chỉ rong chơi, thích các trò hát
xướng, muốn đổi lại họ là Dương. Sau Lễ lại giết Hiến
Từ Tuyên Thánh Thái hoàng thái hậu vì bà đã hối hận việc
lập Nhật Lễ. Người tôn thất và các quan đều thất vọng.
Tháng 10 năm 1370, các tôn thất nhà Trần hợp mưu lật đổ và
bắt giết Nhật Lễ, đưa con thứ 3 của vua Minh Tông là Phủ
lên ngôi, tức là Trần Nghệ Tông.
Nghệ Tông làm vua được 2 năm, lên làm thái thượng hoàng và
nhường ngôi cho em là Kính lên thay, tức là Duệ Tông. Năm 1377,
Duệ Tông tử trận ở Chiêm Thành, thượng hoàng Nghệ Tông
lập con Duệ Tông là Phế Đế lên thay. Thượng hoàng Nghệ
Tông nắm quyền bính trong tay quyết định mọi việc nhưng lại
quá tin dùng một mình Lê Quý Ly (tức Hồ Quý Ly). Do đó, Quý Ly
xúi giục Nghệ Tông giết hại các trung thần, các hoàng tử,
các thân vương và ngay cả vua Phế Đế cũng bị sự gièm pha
của Quý Ly mà bị Nghệ Tông phế bỏ [6]. Con Nghệ Tông là
Thuận Tông (đồng thời là con rể Quý Ly) được lập lên ngôi
nhưng cũng không có thực quyền.
Vì có mưu đồ soán đoạt ngôi vua mà lại được sự tin dùng
của Nghệ Tông nên Hồ Quý Ly đã tạo được khá nhiều phe
cánh và bè đảng ở triều đình và khắp mọi nơi. Rồi từ
đó Quý Ly càng ngày càng lộng quyền không coi ai ra gì. Năm
1394, Nghệ Tông mất, Hồ Quý Ly nắm lấy cả quyền hành rồi
sai người vào đất Thanh Hoá xây thành Tây Đô. Sau khi công
việc xong xuôi, Hồ Quý Ly bắt Trần Thuận Tông dời kinh về
Tây Đô rồi lập mưu ép Thuận Tông nhường ngôi cho con là
Thiếu Đế khi đó mới có 3 tuổi lên ngôi. Quý Ly lên làm phụ
chính sai người giết Thuận Tông và chuẩn bị cướp ngôi.
Nhìn thấy âm mưu của Hồ Quý Ly, nhiều tướng lĩnh nhà Trần
như Trần Khát Chân lập hội với mưu đồ tiễu trừ Quý Ly,
nhưng cơ mưu bị bại lộ, tất cả đều bị bắt và bị giết
vào khoảng hơn 370 người. Năm 1400, Quý Ly phế truất Thiếu
Đế rồi tự xưng làm vua, chiếm lấy ngôi nhà Trần, đổi sang
họ Hồ.
Nhà Trần chấm dứt,kéo dài 175 năm với 13 đời vua.
<h2>Nhận định</h2>
<h3>Về chiến thắng Mông - Nguyên</h3>
Theo đánh giá của các sử gia, việc nhà Trần lên thay nhà Lý
vào đầu thế kỷ 13 là cần thiết và kịp thời cho sự phục
hưng nước Đại Việt bị suy yếu nghiêm trọng cuối thời nhà
Lý. Nếu không có sự xuất hiện của nhà Trần, nước Đại
Việt sẽ khó tồn tại trong cảnh cát cứ (Nguyễn Nộn, Đoàn
Thượng) bên trong và họa Mông - Nguyên bên ngoài như các nước
Đại Lý, Nam Tống láng giềng. Nguyên nhân cơ bản nhất cho
những thành công của nhà Trần là chính sách đoàn kết nội
bộ của những người lãnh đạo. Dù trong hoàng tộc nhà Trần
có những người phản bội theo nhà Nguyên nhưng nước Đại
Việt không bị mất, nhờ sự ủng hộ của đông đảo dân
chúng [8].
Còn một nguyên nhân nữa phải kể tới trong thành công của
nhà Trần là đội ngũ tướng lĩnh xuất sắc, nòng cốt lại
chính là các tướng trong hoàng tộc nhà Trần. Dù xuất thân
quyền quý nhưng các hoàng tử, thân tộc nhà Trần, ngoài lòng
yêu nước - và bảo vệ quyền lợi dòng tộc - số lớn là
những người có thực tài cả văn lẫn võ. Thật hiếm dòng
họ cai trị nào có nhiều nhân tài nổi bật và nhiều chiến
công như nhà Trần, đặc biệt là thế hệ thứ hai: Trần Quốc
Tuấn, Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đều
là những tên tuổi lớn trong lịch sử Việt Nam. Đó là chưa
kể tới Trần Thủ Độ, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản... [9]
Mông - Nguyên đương thời là đế quốc lớn nhất thế giới.
Những nơi người Mông bại trận lúc đó như Ai Cập quá xa
xôi, Nhật Bản và Indonesia đều có biển cả ngăn cách và quân
Mông cũng không có sở trường đánh thủy quân nên mới bị
thua trận. Thế nhưng nước Đại Việt lúc đó nằm liền kề
trên đại lục Trung Hoa, chung đường biên giới cả ngàn dặm
với người Mông mà người Mông vẫn không đánh chiếm được.
Một đế quốc đã nằm trùm cả đại lục Á-Âu mà không lấy
nổi một dải đất bé nhỏ ở phía nam. Có so sánh tương quan
lực lượng với kẻ địch và vị trí địa lý với những
quốc gia làm được điều tương tự mới thấy được sự vĩ
đại của chiến công 3 lần đánh đuổi Mông - Nguyên của nhà
Trần.
<h3>Về hậu kỳ nhà Trần</h3>
Nhìn chung, triều Trần có thể chia ba thời kỳ: thời thứ
nhất từ Thái Tông đến Nhân Tông là thời xây dựng và chống
Mông-Nguyên, thời thứ hai từ Anh Tông đến Hiến Tông (có
thượng hoàng Minh Tông) là thời kế tục, thời thứ ba từ Dụ
Tông (sau khi thượng hoàng Minh Tông mất) tới khi kết thúc là
thời suy tàn.
Để tránh "họa ngoại thích", nhà Trần chủ trương chính sách
"hôn nhân nội tộc". Chính sự nhà Trần bắt đầu suy từ
đời vua Dụ Tông xa hoa hưởng lạc, xa lánh lương thần, tin
dùng gian thần. Nhưng đó đơn giản chỉ là sự hưởng thụ
như Lý Cao Tông trước đây mà thôi. Tới các đời sau, đặc
biệt là Trần Nghệ Tông và Trần Phế Đế (Đế Hiện), có
hàng loạt biểu hiện của sự mê muội, u tối của người
cầm quyền. Trần Nghệ Tông tin dùng một mình Lê Quý Ly, nghe
lời Quý Ly sát hại hàng loạt con cháu, người thân tộc họ
Trần. Nhiều hành động của Nghệ Tông như thể để "dọn
đường" cho Quý Ly cướp ngôi nhà Trần sau này. Thời kỳ Nghệ
Tông trở về sau, vấn đề chống Chiêm Thành là lớn nhất,
vậy mà một Quý Ly luôn chạy dài trước những đợt tấn công
của địch, không hề lập được công bao giờ, lại vẫn
được tin dùng đến như vậy. Còn Đế Hiện đối với Đỗ
Tử Bình, gian thần xảo trá gây ra cái chết của cha mình (Duệ
Tông), không những không trừng trị đích đáng mà còn nhiều
lần thăng lên làm đại thần cấp cao hơn trước, khi chết
(1382) còn được truy tặng gia phong. Những hành động tối tăm,
mê muội đó phải chăng là sản phẩm của sự "thoái hóa
giống nòi" do "hôn nhân nội tộc" nhiều đời gây ra? Những
lần tiếm quyền, thoán ngôi khác trong lịch sử Việt Nam như
Dương (Tam Kha) đoạt Ngô, Tiền Lê đoạt Đinh, Trần đoạt Lý,
Mạc cướp Lê, Trịnh át Lê đều là "cường thần hiếp chúa".
Quan hệ giữa Quý Ly với Nghệ Tông, Tử Bình với Đế Hiện
không thể như Trần Thủ Độ với Lý Huệ Tông, Mạc Đăng Dung
với Lê Cung Hoàng... Việc dung túng cho cấp dưới, những kẻ
trực tiếp đụng chạm tới quyền lợi của dòng tộc mình mà
vẫn "không hay biết" như các vua Trần quả là hiếm có [10].
Các vua Trần thời hậu kỳ, kể cả Minh Tông, đều không biết
chiêu mộ nhân tài; lực lượng quan lại đều kém tài. Nếu
thế hệ trước thắng Mông-Nguyên khổng lồ một cách oai hùng
bao nhiêu thì đời con cháu phải chạy trốn một Chiêm Thành
nhỏ bé, từng núp bóng mình trong chiến tranh chống Mông-Nguyên
xưa kia, một cách thảm hại bấy nhiêu. Tới lúc bị Chiêm
Thành xâm lấn, không hề có một gương mặt nào của dòng họ
Trần đứng ra chống được giặc mà phải dựa vào một
tướng ngoài hoàng tộc (Trần Khát Chân vốn mang họ Lê). Nếu
trong tông thất nhà Trần thời kỳ sau có những nhân tài như
giai đoạn đầu thì dù Quý Ly có manh tâm cũng không thể tính
chuyện cướp ngôi. Nhà Trần trượt dốc từ Trần Dụ Tông,
sau sự kiện Dương Nhật Lễ và cái chết của Duệ Tông đã
không gượng dậy được nữa. Đó chính là thời cơ cho Hồ
Quý Ly làm việc chuyên quyền và chiếm lấy ngôi nhà Trần [11].
Dù sao, nhà Trần vẫn là một trong những triều đại nổi bật
nhất trong lịch sử Việt Nam. Trang sử về nhà Trần trong sử
sách nằm trong số những trang sáng nhất và để lại nhiều
bài học cho đời sau.
<a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Tr%E1%BA%A7n">Trích từ
Wikipedia tiếng Việt</a></div>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/7419), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét