Đôi điều về Dân Luận

Dân Luận theo đuổi một nền báo chí công dân, nơi mỗi độc giả chính là một nhà báo.

Mục tiêu của Dân Luận là cung cấp cái nhìn đa chiều về các vấn đề kinh tế - xã hội - văn hóa của Việt Nam và thế giới, với mong mỏi độc giả sẽ tự xây dựng cho mình phương pháp tư duy độc lập và khoa học.

Trang blog này là cầu nối giữa Dân Luận với độc giả trong nước, trong trường hợp bạn không truy cập được vào địa chỉ chính thức www.danluan.org.

Chúng tôi được biết Dân Luận đã bắt đầu bị chặn bởi tường lửa ở Việt Nam. Vì thế, xin mời bạn tham khảo cách vượt tường lửa để tiếp tục truy cập Dân Luận. Trong trường hợp gặp trục trặc, bạn có thể liên lạc với tqvn2004 tại huannc@gmail.com được hướng dẫn cụ thể.
(c) Dân Luận 2009. Cung cấp bởi Blogger.

Tổng số lần đọc

Google+ Followers

Nói đến cuốn "Mao Trạch Đông-ngàn năm công tội" lúc này
khá muộn, vì từ khi cựu nhà báo Huy Đức giới thiệu nó
tháng 10 năm ngoái đến nay, trên mạng bình luận đã nhiều.
Nhưng mãi gần đây em mới đọc xong nên giờ mới có chút ý
kiến được.

<div class="boxleft300"><img src="/files/u1/sub01/mao-hard-rock.jpg"
width="294" height="400" alt="mao-hard-rock.jpg" /></div> Cuốn này rất
dễ mua ở Hà Nội. Nhưng nó không phải là 1 cuốn sách được
xuất bản, có giấy phép xuất bản, có ghi thời điểm in xong
và nộp lưu chiểu, có tên tác giả ở đầu, có giá tiền ở
đuôi, có tên dịch giả vân vân như những quyển sách thông
thường khác. Nó là "tài liệu tham khảo đặc biệt" của
TTXVN được đóng dưới dạng 1 quyển sách. Những tài liệu
dạng này, hồi em hành nghề gần phố Phan Huy Chú em cũng hay mua
được ở 1 quầy báo, nghĩa là sách dành cho nội bộ nhưng
ngoại bộ vẫn đọc được, số lượng sách đưa ra ngoài
không nhiều nên chỉ sau một thời gian là hết. Đến cuốn
của ông Tân Tử Lăng (tên tác giả chỉ được nhắc đến ở
phần "cùng bạn đọc") do dư luận quan tâm đặc biệt nên
nó được đưa ra ngoài rầm rộ.

Vì nó chỉ là "tài liệu tham khảo" nên những người chủ
trương dịch cuốn này không dịch đầy đủ tác phẩm của ông
Tân Tử Lăng, họ chỉ dịch những nội dung mà họ cho là
"đối tượng được tham khảo cần tham khảo". Nên có
chương dịch dài, có chương chỉ tóm tắt vài dòng, rõ nhất
là chương 28 ở trang 147 "Mao Trạch Đông chơi trò chính trị
lưu manh" chỉ có 2 câu thế này:

Chương này kể lại việc Mao Trạch Đông bức hại Bành Đức
Hoài và Hạ Long, 2 vị nguyên soái từng lập công rất lớn
trong chiến tranh giải phóng, là bạn chiến đấu trung thành
của Mao. Khi đã quyết tâm mượn tay Hồng vệ binh đẩy 2
người vào chỗ chết thảm khốc, Mao vẫn giả dối tỏ ra quan
tâm và tin cậy họ.

Vậy đối tượng cần tham khảo là ai? Theo em đó là các bạn
trẻ từ thế hệ 8x trở đi. Vì đối với đối tượng già cũ
như em, nội dung cuốn sách này, trừ phần lời kết hơi đặc
biệt, còn lại gần như toàn bộ 244 trang đầu tiên chỉ toàn
là những điều bọn em đã được đọc, được tuyên truyền
thông qua hệ thống tuyên truyền chính phái của nước Cộng
hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam những năm 80. Cách mạng văn
hóa tệ hại thế nào, những chính sách phiêu lưu của Mao làm
dân Trung Hoa đói rét thế nào, Mao hãm hại Bành Đức Hoài, Lưu
Thiếu Kỳ thế nào, chèn ép Chu Ân Lai thế nào, chơi Lâm Bưu ra
sao, mụ Giang Thanh làm những trò gì, v.v, thế hệ Cavenui được
biết thông qua đài ta chứ không phải đài địch, lề phải
chứ không phải lề trái.

Một điều đáng chú ý là khi 2 vị chủ tịch Hồ, Mao còn
sống, quan hệ giữa Bắc Kinh và Hà Nội trên bề mặt là cực
kỳ thân thiện. Đối đầu công khai từ cuối thập niên 70 thì
2 vị chủ tịch ấy đều đã qua đời. Nhưng nếu như Bắc Kinh
thông qua cái loa của Hoàng Văn Hoan chửi bới "tập đoàn Lê
Duẩn phản bội lại đường lối cách mạng chân chính, phản
bội lại chủ trương đoàn kết với Trung Quốc của Hồ chủ
tịch" thì Hà Nội không hề chửi Đặng Tiểu Bình-1 người
từng là nạn nhân của Mao và thực hành khá nhiều chính sách
khác Mao là kẻ "phản bội lại đường lối cách mạng chân
chính, phản bội lại chủ trương đoàn kết với Việt Nam của
Mao chủ tịch" mà chửi luôn cả Mao. Có lý do ông Nixon ăn
vịt quay dưới thời Mao, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa dưới thời
Mao, và cũng có lý do là Liên Xô-nước ủng hộ VN chống TQ,
cực kỳ căm ghét Mao. Nhờ điều này mà thế hệ của Cavenui
biết được nhiều điều lố bịch của chế độ Mao và Mao++,
tóm lại là rất hay ho. (Đồng chí nhạc sĩ bạn nhờ ghi ké 1
câu: Không rõ nhờ chửi Mao mà trong cách điều hành xã hội có
cởi mở hơn không, hehe, nhưng ít ra nhạc đỏ Việt Nam sau 79
bắt đầu tình tứ hơn, cho em khát khao anh khi mùa xuân về).

Chị gì Ngọc Bích phát biểu trên BBC rằng thế hệ 8x bị
ảnh hưởng của tuyên truyền bài Hoa sâu đậm là rất sai, vì
khi sự tuyên truyền này diễn ra trong những năm 80, các bạn 8x
còn quá nhỏ. Không biết lề phải ngừng tuyên truyền chống
bành trướng Bắc Kinh từ khi nào, chỉ biết khi em hồi hương
năm 1993, báo chí ta viết về đảng CS Trung Quốc đã khá là
thân thiện. Những điều bọn em biết, các bạn 8x ít có dịp
được biết nếu chỉ đọc báo trong luồng, nên đối với
họ, cuốn Mao Trạch Đông-ngàn năm công tội, ít nhiều cũng có
giá trị tham khảo.

Những gì ông Tân Tử Lăng chửi Mao trong 244 trang đầu tiên
của cuốn sách chính là những điều những người cộng sản
ghét Mao, trong đó có cộng sản Việt Nam những năm 80, đã
chửi Mao. Trừ 1 chỗ (do vậy em mới dùng từ "gần như toàn
bộ 244 trang"). Đó là đoạn Tân Tử Lăng chửi Mao về quan
hệ với Việt Nam, nhất là đoạn về Bạch Long Vĩ ở trang 55:

"Do nhu cầu đấu tranh chống địch trên vùng biển Vịnh Bắc
Bộ, Mao Trạch Đông còn khinh suất cho Bắc Việt Nam sử dụng
đảo Bạch Long Vĩ thuộc Hải Nam, trên đảo có 2.000 dân Trung
Quốc sinh sống, vùng biển xung quanh là mỏ dầu lớn trữ
lượng dồi dào. Đến nay lâu ngày qua đi, nảy sinh ý kiến
khác về chủ quyền. Thế là tình hữu nghị "vừa là đồng
chí, vừa là anh em" cũng không giữ nổi".

Với đoạn này, lẽ ra các blogger ái quốc phải ghét ông Tân
Tử Lăng hơn ông Mạc Ngôn mới phải?

Bỏ qua cái đoạn đó thì 244 trang đầu ông Tân chửi Mao với
tư thế của 1 người cộng sản ghét Mao. Ông thường xuyên ca
ngợi một số người cộng sản là nạn nhân của Mao, như Bành
Đức Hoài, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình. Ở tận trang 244 ông
còn ghi kết quả 1 cuộc thăm dò dư luận về những lãnh tụ
đáng kính, theo đó Mao không đạt 2% phiếu bầu trong khi Chu Ân
Lai được 100%, Đặng Tiểu Bình 97% số phiếu, rồi còn bình
luận: "quần chúng nhân dân không lẫn lộn giữa Đảng Cộng
sản và Mao Trạch Đông, không vì uy tín của Mao tụt mạnh mà
lung lay niềm tin vào Đảng Cộng sản. 10 nhà lãnh đạo đáng
kính nhất được lựa chọn đều là đảng viên cộng sản".

Đùng một cái từ trang 245 trở đi ông Tân như bừng tỉnh
chuyển sang ca ngợi dân chủ xã hội mới là đệ tử chân
truyền của Marx, Engels, phê phán Lenin và quốc tế III là những
người kế thừa chủ nghĩa Blanqui, dẫn chứng về sự thành
công ở nhiều nước châu Âu khi dân chủ xã hội nắm quyền
hoặc tác động được lên chính quyền v.v. Phần chửi Mao ở
khúc đuôi này khác hẳn phần chửi Mao ở khúc đầu, vì không
chỉ chửi ông Mao mà chửi cả chủ nghĩa mà những nạn nhân
của Mao được ông Tân ca ngợi ở khúc đầu tin theo. Đoạn
cuối khá hay, nhiều điều đáng tham khảo, nhưng sự chuyển gam
từ trang 244 sang trang 245 chưa nuột lắm, không hiểu đó là do
sự kém cỏi của ông Tân Tử Lăng hay của các dịch giả không
nêu tên đây?

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/4826), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

<div class="boxright300"><img src="/files/u1/sub01/Cu_huy_ha_vu.jpg"
width="480" height="300" alt="Cu_huy_ha_vu.jpg" /><div
class="textholder">Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (phải) và Tiến
sĩ Cù Huy Hà Vũ (ảnh: Cù Huy Hà Vũ)</div></div>
<em>VOA: Thưa Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, nhiều người cho rằng trong
chiến tranh Việt Nam người Mỹ không thua trận trên chiến
trường mà thua tại sân nhà, do các làn sóng phản chiến trên
các đường phố Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Một trong những người
này là <a
href="http://www1.voanews.com/vietnamese/news/Comrades-In-Arms-How-The-Ameri-Cong-Won-The-Vietnam-War-Against-The-Common-Enemy-America-03-23-10-88945392.html">Tiến
sĩ Roger Canfield đã nói như vậy trong một cuốn sách của ông
ấy mới đây</a>. Tiến sĩ nghĩ sao về nhận định này?</em>

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Hoa Kỳ cho rằng họ can thiệp quân sự
ở Việt Nam là nhằm ngăn chặn sự bành trướng của chủ
nghĩa cộng sản mà Miền Bắc Việt Nam là "tiền đồn" ở
Đông Nam Á trong bối cảnh chiến tranh lạnh. Vì vậy, việc Hoa
Kỳ đã thua trong chiến tranh Việt Nam đương nhiên có nghĩa họ
đã bại trận trước chủ nghĩa cộng sản, điều mà Nhà
trắng và nhiều người khác hẳn không thể và không muốn
chấp nhận.

Vậy cần phải có một lý giải khác về thất bại quân sự
của Hoa Kỳ tại Việt Nam và tôi cho rằng Tiến sĩ Roger Canfield
đã đi theo hướng đó bằng cách cho rằng Hoa Kỳ thua trận là
do người dân nuớc này phản chiến.

Quan điểm của cá nhân tôi là Hoa Kỳ đã thật sự thua trên
chiến trường Việt Nam và các làn sóng phản chiến trên các
đường phố New York, Washington… chỉ là hệ quả, phản ánh
sự mất kiên nhẫn của người dân Mỹ, đặc biệt trước
thiệt hại quá lớn về sinh mạng của lính Mỹ.

Thực vậy, ngoài con số hơn 300.000 lính Mỹ bị thương, số
lính Mỹ chết trong "Chiến tranh cục bộ" từ 1965 đến 1968
tại Miền Nam Việt Nam là khoảng 58.000, gấp đôi số lính Mỹ
chết trong chiến tranh Triều Tiên từ 1951 đến 1953, trong khi
cộng sản Triều Tiên còn có sự hỗ trợ của gần 3 triệu
lượt quân Trung Quốc.

<em>VOA: Vậy theo ý ông chủ nghĩa cộng sản đã thắng Hoa Kỳ
tại Việt Nam cách nay 35 năm?</em>

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Có một thực tế là Mỹ đã thua trận
trước các lực lượng cộng sản Việt Nam nhưng điều này
tuyệt nhiên không có nghĩa chủ nghĩa cộng sản đã thắng Mỹ.

Như chúng ta đã thấy, chủ nghĩa cộng sản dưới màu sắc
chủ nghĩa xã hội chưa bao giờ là một hiện thực ở Việt Nam
bởi cho đến ngày hôm nay hệ tư tưởng ấy vẫn chỉ là
"định hướng" như chính ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam
thừa nhận.

Nói cách khác, tính ưu việt hay hơn hẳn của chủ nghĩa xã
hội so với chủ nghĩa tư bản mà Hoa Kỳ đại diện chưa bao
giờ được chứng minh ở Việt Nam nên sẽ là quàng xiên khi
nói rằng bên chiến thắng trong cuộc chiến tranh Việt Nam là
hệ tư tưởng cộng sản. Sự sụp đổ ngoạn mục của Liên
Xô và phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối những năm 80
của thế kỷ trước chỉ có thể xác nhận quan điểm này của
tôi.

<em>VOA: Vậy theo Tiến sĩ, Hoa Kỳ thua trong chiến tranh Việt Nam
là vì những lý do gì?</em>

TS Cù Huy Hà Vũ: Phải khẳng định rằng không có sự giúp đỡ
đắc lực của Liên Xô và Trung Quốc thì khó có thể tưởng
tượng nổi Hà Nội đã có thể giành chiến thắng trước Hoa
Kỳ. Tuy nhiên, phương tiện chiến tranh mà các lực lượng
cộng sản Việt Nam nhận được từ hai cường quốc cộng sản
này chắc chắn không thể bì được với phương tiện chiến
tranh mà Hoa Kỳ sở hữu tại chiến trường cả về số lượng
lẫn chất lượng.

Để nói rằng, sự giúp đỡ mà Liên Xô và Trung Quốc đã dành
cho Việt Nam trong cuộc chiến với Mỹ là đặc biệt quan trọng
nhưng rõ ràng không phải là nhân tố quyết định chiến thắng
của Việt Nam.

Tất nhiên không ai có thể sửa lại được lịch sử nhưng theo
tôi, lẽ ra đã không có chiến tranh Việt Nam và tất nhiên đã
không có chuyện Hoa Kỳ thua trận nếu như siêu cường quốc
này đã không cố tình mắc sai lầm trong đánh giá đối
phương. Thực vậy, việc Hoa Kỳ bao cho Pháp đến 80% chi phí
quân sự vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Đông Dương
lần thứ nhất rốt cuộc không cứu vãn nổi sự thất bại
của Pháp ở Điện Biên Phủ vào năm 1954 ngay từ lúc đó đã
chứng tỏ ưu thế về phương tiện chiến tranh không phải cái
để bảo đảm chiến thắng trước những chiến binh Việt Nam
cộng sản.

Nói cách khác, lẽ ra chiến tranh Việt Nam đã có thể tránh
được nếu như trước đó Mỹ đã không ngộ nhận những
người lính của Tướng Giáp là những rô-bốt của Trung Quốc
và Liên Xô, hay lính đánh thuê cho chủ nghĩa cộng sản, nếu
như Hoa Kỳ đã dụng công để hiểu người Việt.

<em>VOA: Như vậy phải chăng ý Tiến sĩ muốn nói rằng muốn
xử lý quan hệ với Việt Nam, thì điều kiện tiên quyết là
phải hiểu người Việt? Nếu đúng vậy thì tại sao?</em>

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Khi tiến hành chiến tranh ở Việt Nam,
Hoa Kỳ đã quy những người cộng sản Việt Nam và những
người ủng hộ họ vào chủ nghĩa cộng sản, tức những
người này được điều khiển bởi một hệ tư tưởng duy
nhất là chủ nghĩa cộng sản. Sai lầm chết người của Hoa
Kỳ chính là chỗ này: người Việt có hệ tư tưởng riêng
của họ nên không còn chỗ cho hệ tư tưởng khác, mà ở đây
là chủ nghĩa cộng sản, trú ngụ.

Hiểu như thế thì chủ nghĩa cộng sản chỉ là phương tiện
mà người Việt sử dụng để phục vụ hệ tư tưởng riêng
của mình.

Như vậy, Hoa Kỳ vào Việt Nam là để đánh chặn hệ tư
tưởng cộng sản nhưng thực tế lại phải giao chiến với hệ
tư tưởng của người Việt, điều mà Hoa Kỳ không hề tính
tới trước khi lâm trận nên thất bại là tất yếu.

<em>VOA: Ông vừa nói người Việt có một hệ tư tưởng, vậy
hệ tư tưởng đó là gì, thưa ông?</em>

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Việt Nam là một nước đa sắc tộc và
người Việt chiếm tới 90% dân số, do đó cái tên Việt
được các triều đại phong kiến Việt Nam dùng để chỉ cư
dân và làm cơ sở để đặt tên nước như Đại Cù Việt,
Đại Việt rồi Việt Nam.

Người Việt hiện nay còn được gọi là người Kinh. Còn tại
sao có cái tên này thì chưa có nghiên cứu nào, từ điển nào
đề cập. Nhưng theo tôi, cái tên "Kinh" là đặt theo tên
của Kinh Dương Vương, thủy tổ của người Việt theo huyền
sử và điều này chứng tỏ người Việt rất có ý thức về
nguồn cội của mình.

Như vậy, có thể nói dân tộc Việt Nam là một dân tộc thuần
Việt suốt chiều dài lịch sử và chính đặc điểm "thuần
Việt" này đã hình thành cho người Việt tư tưởng Một dân
tộc, Một quốc gia hay Dân tộc đồng nhất với Quốc gia, để
từ đó đi đến nguyên lý bất di bất dịch: không thể có
độc lập dân tộc thực sự với một quốc gia bị chia cắt
về lãnh thổ, hay độc lập dân tộc phải gắn liền với
thống nhất lãnh thổ quốc gia, thống nhất đất nước.

Cũng phải nói rõ rằng sự hình thành của người Việt miền
Nam Việt Nam là do di dân từ Bắc Việt Nam xuống. Thực vậy,
năm 1611, Chúa Nguyễn Hoàng là bề tôi Nhà Hậu Lê, đã từ
Thuận Hoá, tức là Quảng Trị - Thừa Thiên - Huế ngày nay, là
nơi ông trấn thủ, thực hiện cuộc Nam tiến đầu tiên để
mở rộng bờ cõi Đại Việt xuống phía Nam.
Do đó, cái gốc Bắc của người Việt Miền Nam bản thân nó
đã là một sự kháng cự khủng khiếp chống lại mọi toan
tính hay hành vi chia cắt miền Nam khỏi miền Bắc.

Nhà thơ Xuân Diệu, bác ruột và là cha nuôi tôi, trong cuộc
diễn thuyết đầu tháng 12/1945 tại Hà Nội với tiêu đề
không gì rõ hơn: "Miền Nam nước Việt và người Việt Miền
Nam" kêu gọi thanh niên Miền Bắc gia nhập các đội quân Nam
tiến để cùng "đồng bào" Nam bộ chống Pháp tái chiếm,
đã nhắc tới cái đau đáu nguồn cội của những người Việt
theo Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam bằng những câu thơ bất tử của
Huỳnh Văn Nghệ: "Từ thuở mang gươm đi mở cõi/Trời Nam
thương nhớ đất Thăng Long".

Tóm lại, hệ tư tưởng của người Việt là Việt Nam là một
thể thống nhất và vì vậy là sự phủ nhận chủ nghĩa ly
khai. Tôi gọi hệ tư tưởng ấy của người Việt là chủ
nghĩa Nhất thể Việt, tạm dịch là Vietnamunism, tương tự như
chủ nghĩa Bài Ly Khai vậy.

Tôi cũng khẳng định rằng một dân tộc có hệ tư tưởng
của riêng mình là bất diệt.

<em>VOA: Lịch sử Việt Nam là sự đan xen của các cuộc chiến
tranh vói nước ngoài và các cuộc nội chiến. Vậy liệu chủ
nghĩa Nhất thể Việt hay chủ nghĩa Bài Ly Khai của người
Việt mà ông vừa nói tới liệu có mâu thuẫn với các cuộc
nội chiến không, thưa ông? </em>

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đúng là lịch sử Việt Nam không chỉ
gồm các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và vệ
quốc. Thế nhưng có một điều vô cùng đặc biệt và tưởng
chừng mâu thuẫn là các cuộc nội chiến lại không dẫn đến
sự chia cắt lãnh thổ mà ngược lại, củng cố sự thống
nhất của quốc gia.

Thực vậy, các cuộc nội chiến đều nổ ra vào giai đoạn
thoái trào của triều đình đương thời như một sự tất yếu
để bầu chọn người lãnh đạo mới của quốc gia. Điều này
là cốt tử đối với người Việt vì nếu không kịp thời
thay thế triều đình suy vi thì Việt Nam sẽ là miếng mồi ngon
cho phong kiến Trung Hoa. Nghĩa là "Nội chiến hay là Chết"
trong bối cảnh Việt Nam luôn bị nước lớn phương Bắc này
rình rập thôn tính.

Tóm lại, cần xem nội chiến như chất kháng thể có sẵn trong
cơ thể quốc gia Việt Nam có chức năng can thiệp kịp thời
để lành mạnh hoá cơ thể.

Cũng bởi đều nhằm tới sứ mạng quốc gia ấy nên không bên
tham chiến nào có ý đồ cát cứ, ly khai dẫn tới chia cắt
lãnh thổ quốc gia. Nghĩa là "được ăn cả, ngã về không"
như cách nói dân gian và thỏa hiệp nếu có thì chỉ là tạm
thời.

Điển hình cho quyết tâm nội chiến để duy trì và củng cố
sự thống nhất quốc gia Việt Nam là Chúa Nguyễn Ánh. Sau khi
đánh bại Chúa Trịnh rồi Triều Tây Sơn trong cuộc nội chiến
nổ ra khi Triều Lê mạt vận, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế
và để chứng tỏ thống nhất đất nước là mục tiêu tối
thượng của cuộc chiến do ông tiến hành, đã ghép chữ đầu
của Gia Định là thủ phủ Miền Nam với chữ cuối của Thăng
Long là kinh đô Nhà Lê ở Miền Bắc để làm niên hiệu Gia
Long.

Để nói thống nhất Bắc-Nam, thống nhất đất nước Việt Nam
là vấn đề có tính lịch sử, là yêu cầu tối thượng của
hệ tư tưởng của người Việt hay chủ nghĩa Nhất thể Việt
và vì vậy là bất khả kháng. Do không hiểu được người
Việt như thế nên Hoa Kỳ đã can thiệp quân sự nhằm duy trì
Vĩ tuyến 17 chia đôi Việt Nam và thất bại là cái giá phải
trả.

<em>VOA: Vậy theo Tiến sĩ, chiến tranh Việt Nam kết thúc vào
ngày 30/4/1975 là cuộc chiến của Hoa Kỳ hay là nội chiến
giữa người Việt với người Việt?</em>

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Theo tôi chiến tranh Việt Nam là cuộc
chiến tranh của Hoa Kỳ được bắt đầu từ cuối cuộc chiến
tranh của Pháp tại Đông Dương khi Hoa Kỳ quyết định tài
trợ 80% chi phí cho cuộc chiến tranh này như đã đề cập. Tuy
nhiên cuộc chiến tranh này của Hoa Kỳ lại dẫn đến cuộc
chiến huynh đệ tương tàn giữa những người Việt. Vì vậy
nói chiến tranh Việt Nam là một cuộc nội chiến là không sai
nhưng đó chỉ là một cuộc chiến trong một cuộc chiến khác,
cuộc chiến tranh do Hoa Kỳ tiến hành.

Trên thực tế, giai đoạn sau khi Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam
vào năm 1973 theo Hiệp định Paris được các chuyên gia quốc
tế gọi là giai đoạn "Việt nam hoá" chiến tranh của Hoa
Kỳ.

Chính vì vậy tôi cho rằng ngày 30/4/1975 là ngày kết thúc cuộc
chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam, đồng thời cũng là ngày
kết thúc cuộc nội chiến giữa những người Việt.

<em>VOA: Ông nghĩ sao về cách diễn đạt của ban lãnh đạo
Đảng cộng sản Việt Nam và nguyên cả bộ máy tuyên truyền
cho rằng ngày 30/4/1975 là "Ngày giải phóng Miền Nam" ?</em>

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Khi nói "giải phóng Miền Nam" thì
không thể không xác định giải phóng Miền Nam khỏi ai, khỏi
cái gì.

Trước hết, chắc chắn không phải "giải phóng Miền Nam"
khỏi sự chiếm đóng của Hoa Kỳ vì ngày 30/4/1975 quân đội
cộng sản nhận sự đầu hàng của Tổng thống Việt Nam Cộng
hoà Dương Văn Minh, đó chưa kể Hoa Kỳ đã rút hết quân khỏi
Miền Nam từ năm 1973 theo Hiệp định Paris.

Vậy chỉ còn khả năng "giải phóng Miền Nam" khỏi chế
độ tư bản, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội theo học thuyết
Mác – Lê nin. Tại thời điểm năm 1975 thì đúng là như vậy
do có sự ngộ nhận của một bộ phận những người cộng
sản Việt Nam, mà bằng chứng là các chiến dịch "cải tạo
công thương nghiệp tư doanh" và "tập thể hoá nông
nghiệp" trên cơ sở quốc hữu hoá cơ sở sản xuất, đất
đai thuộc sở hữu tư nhân do chính quyền mới tiến hành ngay
sau đó.

Tuy nhiên tại thời điểm hiện nay thì quan niệm đó chắc
chắn không chỉ là lỗi thời mà còn là phản động theo đúng
nghĩa đen của từ này vì ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt
Nam đã công khai đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

<em>VOA: Ông có thể chứng minh điều này được không vì cho
đến thời gian gần đây, lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam
vẫn tuyên bố kiên định với chủ nghĩa Xã hội?</em>

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Cốt lõi của chủ nghĩa xã hội theo
học thuyết Mác-Lê Nin là kinh tế Nhà nước chỉ huy hay kinh
tế tập trung, kinh tế tư nhân được coi là "bóc lột
người" bị loại trừ. Thế nhưng nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa đã phá sản tuyệt đối vào năm 1985 khi chính sách
giá-lương-tiền của Chính phủ Việt Nam gây lạm phát tới
900%, dẫn đến kinh tế tư nhân hay kinh tế thị trường được
Đảng cộng sản Việt Nam phục hồi tại Đại hội 6 của
Đảng vào năm sau, 1986.

Nhưng phải đến năm 1990 thì chủ nghĩa tư bản mới được
chính danh bằng Luật Công ty và doanh nghiệp tư nhân. Và Đại
hội 10 của đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra cách đây 4 năm
đã hoàn tất công cuộc phá bỏ chủ nghĩa xã hội bằng cách
chính thức cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân.

Ngoài ra, hai giai cấp được đảng Cộng sản Việt Nam coi là
nòng cốt xây dựng chủ nghĩa xã hội và là đối tượng
được hưởng sự chăm sóc đặc biệt của chế độ này là
công nhân và nông dân, Búa và Liềm ấy, hiện nay trên thực
tế lại thuộc những người cùng khổ của xã hội, tựa
những gì mà Nguyễn Ái Quốc đã mô tả cách đây 90 năm trong
báo Le Paria - Người cùng khổ.

Thực vậy, ở nhiều địa phương công nhân bị bóc lột và
bị xúc phạm nhân phẩm thậm tệ, không có quyền đình công
trên thực tế, còn nông dân thì bị chính quyền công nhiên
chiếm đoạt đất đai, nguồn sống có thể nói là duy nhất
của họ.

<em>VOA: Nếu vậy tại sao ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt
Nam vẫn tuyên bố kiên định chủ nghĩa xã hội theo học
thuyết Mác-Lê nin, thưa ông?</em>

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Sở dĩ có chuyện ban lãnh đạo Đảng
cộng sản Việt Nam nói một đằng, làm một nẻo là vì họ
sợ mất quyền lợi của bản thân. Thực vậy, nếu chính thức
tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa xã hội thì Đảng cộng sản Việt
Nam sẽ mất độc quyền lãnh đạo đất nước trong khi quyền
lực lại là phương tiện làm giàu của đại đa số đảng
viên có chức vụ.

Tóm lại, việc duy trì cho Đảng cộng sản Việt Nam độc
quyền lãnh đạo đất nước không gì khác hơn là để phục
vụ lợi ích phi pháp của một nhóm nhỏ trong Đảng cộng sản
Việt Nam, đi ngược lại lợi ích của tuyệt đại đa số nhân
dân trong đó có hàng triệu đảng viên cộng sản và vì vậy
quyết không thể kéo dài hơn được nữa!

Do đó, để tránh cho ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam
một sự sụp đổ như đã diễn ra với các chính thể cộng
sản tại Liên Xô và Đông Âu, thậm chí tồi tệ hơn rất
nhiều vì hành xử của tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân
đáng tiếc là vẫn đậm chất nông dân theo đó cách mạng
đồng nghĩa với trả thù, phục hận, cách duy nhất là mau
chóng thực hiện chế độ đa đảng, điều mà Hiến pháp Việt
Nam chưa bao giờ cấm và bản thân Hồ Chí Minh người sáng lập
Đảng cộng sản Việt Nam đã chủ trương và thực hiện.

<em>VOA: Nghĩa là Tiến sĩ cho rằng cách diễn đạt "Ngày giải
phóng Miền Nam" theo ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam
và bộ máy tuyên truyền bây giờ là không đúng?</em>

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đúng như vậy và vì thế cần phải
bỏ. Đó là chưa kể cách diễn đạt này dễ bị diễn giải
thành "Miền Bắc thôn tính Miền Nam" và trong trường hợp
đó lại trở thành mầm mống gây chia rẽ Bắc – Nam không
chỉ trong nhân dân mà trước hết và ngay trong chính nội bộ
những người cộng sản.

Mặt khác, không thể nào thực hiện được hoà hợp, hoà giải
với những người Việt bên kia chiến tuyến như Nhà nước
cộng sản Việt Nam chủ trương nếu Nhà nước này vẫn duy trì
cách diễn đạt mang đậm chất "thắng – thua" như trên.

Mặc dầu vậy, không thể phủ nhận tính lịch sử của ngày
30/4/1975 vì đó là ngày đất nước Việt Nam thống nhất sau 30
năm chiến tranh, độc lập dân tộc được Chính phủ Hồ Chí
Minh mà phụ thân tôi, Cù Huy Cận là bộ trưởng thành viên,
tuyên ngày 2/9/1945 đến lúc đó mới thực sự trọn vẹn.

So với những nước khác cũng bị Chiến tranh lạnh chia cắt
thì đó dứt khoát là một kỳ tích của người Việt Nam. Thực
vậy, mãi 14 năm sau bức tường Berlin mới sụp đổ còn bán
đảo Triều Tiên thì chưa biết khi nào mới có thể chứng
kiến Bàn Môn Điếm được tháo dỡ. Hoàn cảnh Trung Quốc và
Đài Loan tuy có khác đôi chút, nhưng cũng vậy, chưa biết bao
giờ mới chung một màu cờ.

Do đó "Ngày thống nhất đất nước" theo tôi là thích hợp
nhất để diễn đạt ngày 30/4/1975 và cũng là trung thành với
nguyên lý "Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất
đất nước" của chủ nghĩa Nhất thể Việt hay hệ tư
tưởng của người Việt.

<em>VOA: Chúng tôi được biết vào tháng 3 vừa qua, Tiến sĩ có
gửi lãnh đạo Nhà nước Việt Nam kiến nghị xây Đài tưởng
niệm chung cho các chiến sĩ hy sinh trong chiến đấu bảo vệ
Hoàng sa và Trường Sa, trong đó ông đề nghị tôn vinh các quân
nhân quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh bằng cách công
nhận họ là liệt sĩ. Xin ông cho biết mục đích khi ông đã
đưa ra sáng kiến này?</em>

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Thực lòng khi đưa ra Kiến nghị tôi
không nhằm bất cứ mục đích chính trị nào mà chỉ đơn
giản nghĩ rằng tất cả những ai đã hy sinh để bảo vệ sự
toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đều có quyền được Nhà
nước thay mặt nhân dân Việt Nam tri ân và tri ân một cách
xứng đáng.

Trừ những kẻ phản bội Tổ quốc Việt Nam, không ai có quyền
tước đoạt cái quyền thiêng liêng ấy của những người lính
Việt Nam Cộng Hoà đã ngã xuống trong cuộc chiến bảo vệ
Hoàng sa, lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam.

Tất nhiên khi Kiến nghị này được Nhà nước Việt Nam nghiêm
túc thực hiện thì đó sẽ là sự khởi đầu quan trọng cho
hòa hợp, hoà giải giữa những người Việt từng ở hai bờ
chiến tuyến.

Nhưng để có được hoà hợp, hoà giải dân tộc thực sự và
bền vững thì Nhà nước Việt Nam phải thay đổi căn bản tư
duy về vấn đề này.

<em>VOA: Ông có thể nói rõ hơn về chuyện thay đổi căn bản
tư duy này, chẳng hạn thay đổi như thế nào, thưa Tiến
sĩ?</em>

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Hoà hợp, hoà giải dân tộc là xuất
phát từ lợi ích chung, lợi ích quốc gia nên dứt khoát không
phải là sự ban phát của nhà cầm quyền mà phía bên kia là
kẻ chịu ơn, không phải là sự tha thứ, khoan dung dành cho
những đứa con hư biết hối lỗi như cách Nhà nước Việt Nam
thể hiện bấy lâu nay.

Hoà hợp, hoà giải dân tộc là biết tôn trọng và tốt hơn
nữa, biết nhân nhượng những quan điểm chính trị khác biệt,
kể cả đối lập để phụng sự Tổ quốc Việt Nam một cách
tốt nhất, hiệu quả nhất. Nói cách khác, hoà hợp, hoà giải
dân tộc là chấp nhận chung sống của các quan điểm chính
trị khác biệt

Cần lưu ý rằng chính sách đoàn kết toàn dân tộc mà Nhà
nước Việt Nam luôn đề cao trước hết phải là đoàn kết
chính trị, tức đoàn kết các quan điểm chính trị khác biệt
bởi nếu cùng chính kiến thì cần gì phải đoàn kết.

Tổ quốc Việt Nam không của riêng ai và vì vậy sẽ là có
tội nếu Nhà nước Việt Nam chần chừ hoặc tồi tệ hơn,
không thực tâm thực hiện hoà hợp, hoà giải dân tộc để
mọi người Việt bất luận chính kiến đều có cơ hội cứu
nước trước nguy cơ Trung Quốc xâm lược Trường Sa nói riêng,
lãnh thổ Việt Nam nói chung, rõ ràng hơn bao giờ hết!

Nhân đây một lần nữa tôi kêu gọi ban lãnh đạo Đảng cộng
sản Việt Nam mau chóng thực hiện chế độ đa đảng ở Việt
Nam bởi nếu không, Hoà hợp, hoà giải dân tộc sẽ lại trở
thành Lừa dối dân tộc với hậu họa đã có thể nhìn thấy
trước.

<em>VOA: Xin cảm ơn Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ về sự chân thành và
thẳng thắn cũng như thời gian mà ông đã dành cho chúng tôi
trong cuộc phỏng vấn này.</em>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/4848), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

"Hòa hợp, hòa giải dân tộc Việt Nam" suốt trong những ngày
qua trở thành chủ đề bàn thảo gây tranh luận và suy tư
nhiều nhất trên hầu hết các trang báo như: BBC, RFA, BauxiteVN,
DânLuận, Talawas, Vietnamnet v.v...

<strong>I. Nhận định khái quát:</strong>

Nhiều ý kiến của các cựu và đương kim quan chức cả hai
phía Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam đều đã được các trang báo đăng tải những suy nghĩ
riêng như của ông Trần Bình Nam, ông Nguyễn Gia Kiểng, ông Bùi
Tín v.v... cho đến các nhà báo phỏng vấn và ghi nhận dưới
nhiều góc độ như ông Nguyễn Đạc Thành (sĩ quan chế độ
Việt Nam Cộng Hòa) rồi ông Trung tướng Nguyễn Văn Thái, Nhà
cựu ngoại giao Võ văn Sung, bà Nguyễn Thị Bình, ông Nguyễn
Minh Triết... và còn rất nhiều các nhân vật kỳ cựu khác
trước đây đã đề cập vấn đề hòa giải dân tộc như ông
Nguyễn Cao Kỳ, ông Võ Văn Kiệt v.v... Có thể nói tất cả các
quan chức của cả hai chế độ trước và sau 1975 đều có chung
một mục đích, một cách nhìn về "hòa giải dân tộc", các lý
giải phân tích mặc dù còn có điểm này, điểm kia có khác
biệt nhỏ nhưng tựu trung vẫn nhìn về một hướng tích cực
và đều mong muốn toàn dân Việt Nam từ trong cho đến ngoài
nước đều xóa bỏ hận thù, đoàn kết vì tương lai Việt Nam,
mặc dù có lúc, có người còn dùng những ngôn từ thiếu tế
nhị (có thể do quán tính đã ăn sâu nên sử dụng ngôn từ
(mà tôi nghĩ) theo phản xạ , không có ác ý), những bức xúc
thao thức của các cựu quan chức hoặc đang đương nhiệm là
điều mà những ai theo dõi thời sự đều nhận thấy rõ: môt
sự đau đáu làm sao cho quá trình hòa hợp, hòa giải dân tộc
diễn ra mang tính khả thi nhất.

Các bài bình luận, phân tích trên các trang mạng của các nhà
báo, nhà văn, nhà chuyên môn về lĩnh vực sử học, kinh tế
học, chính trị học, các nhà quân sự, ngoại giao v.v... cũng
gần như có chung cách nhìn tích cực lạc quan về quá trình hòa
giải cho dân tộc Việt Nam (tôi xin bỏ qua một vài ý kiến
nhìn việc hòa giải ở góc độ bi quan, cố chấp mà những
ngày qua rõ ràng không hề là ý kiến của số đông) để cùng
đi đến mục tiêu đơn giản mà lại là khao khát lớn nhất cho
đến nay của dân tộc Việt Nam; CHUNG TAY XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG.

Những dẫn chứng phân tích của một số cây bút về cuộc
nội chiến của Mỹ cách đây 145 năm về trước, quá trình
thống nhất Tổ quốc của nước Đức, tinh thần tự lực tự
cường, xóa bỏ mặc cảm của người Nhật, các "phương
thuốc" của cây viết Lê Tâm v.v... là những điều bổ ích cho
chúng ta suy ngẫm...

<strong>II. Vai trò của các lĩnh vực trong vần đề "hòa hợp
hòa giải dân tộc":</strong>

Góp thêm vào các ý kiến của mọi người, tôi xin phân tích vai
trò của một số lĩnh vực để cùng nhau bàn luận.

<strong><em>1. Vai trò của lịch sử:</em></strong>

Theo thiển ý của tôi, lịch sử đóng vai trò vô cùng quan
trọng trong việc hòa giải, hòa hợp dân tộc. Cần trả lại
tính khoa học và tính trung thực cho lịch sử Việt Nam, không
"chính trị hóa" lịch sử, không lên gân, thổi phồng những
công trình, những bình luận nghiên cứu lịch sử (ví dụ ngày
30.4 là "Sự thắng lợi vang dội", "là điểm son chói lọi trong
lịch sử hào hùng chống ngoại xâm" v.v...) hoặc cái gì đại
loại mà người ta hay cường điệu lên sẽ làm cho lòng người
trở nên quá khích, vô hình chung lại thành "bệ phóng lý
tưởng" cho sự ngạo nghễ, dương dương tự đắc của người
chiến thắng và "sự bay bổng trong chiến thắng" càng rạt rào
hơn bao giờ hết, bởi lẽ người ta dễ nghĩ rằng có gì còn
ngăn nổi bước chân của người chiến thắng(!) tuy nhiên
người chiến thắng đó lại chưa trang bị đủ cho mình nhãn
quan khách quan lại vô hình đạt được một giá trị cộng
thêm mang danh: vị cứu tinh của dân tộc. Tất nhiên, "Vị cứu
tinh" này mang lại độc lập tự do cho toàn bộ dân tộc VN...
lúc đó, ở góc độ duy lý thì khoa học, pháp luật, tính đa
nguyên, trọng lý v.v... chỉ còn là thứ yếu, hoặc giả ở góc
độ duy tình như : tính quân tử, lòng cao thượng, sự vị tha,
lòng bao dung dễ được người ta bỏ sót trong cái "men chiến
thắng". Tâm lý "phơi phới" của người chiến thắng lên cao bao
nhiêu thì tâm lý tủi nhục, uất hận của kẻ bại trận cũng
dâng cao bấy nhiêu. Đó là trạng thái cân bằng trong mối
tương quan tâm lý xã hội. Tâm lý của người chiến thắng kể
cả của người bại trận mà thiếu tỉnh táo là tâm lý đáng
sợ nhất.

Hãy công nhận cuộc chiến kết thúc vào ngày 30/4/1975 là:
<em>cuộc nội chiến Việt Nam về ý thức hệ</em>. Tên gọi này
sẽ làm cho mọi người dân trong và ngoài nước, từ Bắc chí
Nam đều không cảm thấy bị tổn thương vì cái lẽ "thắng -
thua", song song đó, "Ý thức hệ" luôn được hiểu là sự khác
nhau về nhận thức của một bộ phận dân tộc, nó không hề
sai mà cũng chẳng thể gọi là đúng, "Ý thức hệ" chỉ có phù
hợp hay không phù hợp trong một giai đoạn lịch sử nhất
định mà thôi, bên cạnh đó "ý thức hệ" là một sản phẩm
tinh thần, nó hoàn toàn có thể thay đổi theo tiến trình nhận
thức của xã hội, nó không bao giờ là sự bất di bất dịch.
Đó cũng là một cách nhìn khoa học trong nhận thức: <em>"Vận
động là tuyệt đối, đứng yên là tương đối".</em>

Hãy để các nhà nghiên cứu sử học và các nhà khoa học có
liên quan làm công việc của họ và hãy trả lại đúng tên
gọi của cuộc chiến. Điều này cũng góp phần làm nhẹ gánh
"ân oán".

Hình thức đôi khi quan trọng không kém nội dung của môt sự
việc, cho dù đó là sự việc lớn hay nhỏ, ví dụ như kinh tế
gia Huỳnh Bửu Sơn (*)(trong nhóm Thứ Sáu) khi đề nghị lấy
tên người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước là Thống đốc thì
một vài vị trong Hội đồng Bộ Trưởng lúc bấy giờ cho
rằng: "Nghe sặc mùi đế quốc!". Hình thức - ở đây là tên
gọi cuộc chiến không hề là vấn đề nhỏ mà ngược lại nó
phản ánh khá đầy đủ tư duy và tấm lòng hướng về chân
giá trị sau cuộc chiến của Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam.

<em><strong>2. Vai trò của tôn giáo và văn hóa:</strong> </em>

Chiến tranh chấm dứt, bên chiến thắng "say men" là điều dễ
hiểu.

Nhìn lại cách "ăn mừng" cuộc chiến sau 30.4.1975, ta dễ dàng
nhận thấy trên các mặt báo, trên các phương tiện truyền
thông, trên đường phố, các điểm du ngoạn, vui chơi v.v...
chỉ toàn là niềm vui và tiếng cười, ẩn sau đó là những
mảnh đời, những uất ức, những đau thương mà lại không có
dịp bộc lộ trước đại chúng, đó hóa ra lại là một vở
tuồng đúng nghĩa "bi, hài, chính kịch" được trộn lẫn của
dân tộc.

Hãy cùng nghe thử (***) bài hát "Đất nước trọn niềm vui"
của nhạc sĩ Hoàng Hà :

<em>"...Ta muốn bay lên, say ngắm sông núi hiên ngang,
Ta muốn reo vang, hát ca muôn đời Việt Nam, Tổ quốc anh hùng!
Ôi quê hương dẫu bao lần giặc phá điêu tàn mà vẫn ngoan
cường
Giành một ngày toàn thắng.
Đẹp quá!
Đời rực sáng những ánh mắt lấp lánh,
Ta muốn ôm hôn mỗi tấc đất quê hương,
ta muốn ca vang bước chân những người chiến sĩ giải phóng
kiên cường!"
</em>
Bài hát này là một bài tiêu biểu cho tinh thần vui mừng đến
mê muội mà không biết đang góp phần làm cho "men chiến thắng"
được đầy lên đến tột độ, trong sách nhà Phật có câu
:"Cực lạc sinh bi" là vậy.

Hay một niềm đau tê tái trong ca khúc "Sài Gòn niềm nhớ không
tên" của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn:

<em>"Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên
như giòng sông nước quẩn quanh buồn
như người đi cách mặt xa lòng
ta hỏi thầm em có nhớ không..."</em>

Ứng với điều Bốn của Phật dạy: "Bi ai lớn nhất của
đời người là ghen tị". Trong lời bài hát da diết buồn và
tiếc nuối thấp thoáng vẫn là sự ghen tị với kẻ chiến
thắng của người chiến bại là vậy.

Hai bài hát này, theo tôi là tiêu biểu sau cuộc chiến để
phản ánh nỗi buồn tê tái cũng như niềm vui tột độ của
kết cuộc 30.4.1975 mà như nhà thơ Nguyễn Duy đã nói đại ý:
Ai là kẻ chiến thắng thì cuối cùng người dân cũng là
người thất bại.

Tại đây (ngay sau khi chiến thắng), lẽ ra vai trò của tôn giáo
nên được đặt lên hàng đầu,<em> <em>tôn giáo sẽ làm dịu
</em>lại</em> tất cả những tâm hồn đang quá khích hay đau
đớn, những cái đầu đang nóng hổi hay đang tê tái, những
trái tim đang rung lên rộn ràng nhịp đập của bầu máu nóng
hay những trái tim đang bị bóp nghẹt bởi gần như máu đang
đông lại trước niềm tuyệt vọng.

Lẽ ra những người chiến thắng nhận định đúng và sớm
nhất vai trò của Tôn giáo quan trọng như thế nào ngay sau cuộc
chiến thay vì đi từ sai lầm này (cuộc chiến chưa chấm dứt
bao lâu thì nổ ra sự chống đối bằng súng đạn hẳn hoi của
Nhà thờ Vinh Sơn vào đầu năm 1976 - (đường 3/2 bây giờ)
đến sai lầm khác nghiêm trọng hơn (các sự việc tại Bát
Nhã, Thái Hà, Tam Tòa v.v...), như vậy Nhà nước này đang lún
càng ngày càng sâu vào lòng căm thù triền miên, bất tận. Họ
không đủ khách quan dưới cặp mắt độ lượng để nhìn
nhận vai trò Tôn giáo trong bất kỳ giai đoạn nào của đất
nước? Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lại có
vẻ thích áp đặt suy nghĩ của họ vào dân tộc, đặc biệt
khi họ tự huyễn hoặc về sự thần phục và biết ơn của
người dân mà họ cho là chắc chắn .

Khi đã đề cập đến những ngôn từ mang tính chất tôn giáo,
có lẽ chúng ta cũng nên nhìn nhận nghiêm túc vai trò của Tôn
giáo sau cuộc chiến. Một vấn đề mà cho đến nay theo kiểm
nghiệm của cá nhân, tôi cho rằng "các bên" chưa đánh giá và
phân tích hết tác động quan trọng của Tôn giáo.

Hãy lắng nghe thử ý kiến mới nhất của ông Nguyễn Đạc
Thành (**) trả lời phóng viên Hà Mi thuộc đài BBC: <em>"Khi tôi
nằm đó, tôi vái Phật Bà, Phật Tổ, và tôi vái những anh em
đã chết, rằng nếu mà cứu tôi được, tôi sống được mà
ra khỏi tù và có cơ hội thì tôi sẽ đưa họ về".</em>

Hay khá xưa, khi ông Tố Hữu khóc ông Hồ Chí Minh trong bài thơ
"Bác ơi!"

Bác đã lên đường theo Tổ tiên
Mác - Lê nin thế giới người hiền.

Chúng ta sẽ thấy ngay vai trò của Tôn giáo như thế nào trước
một người khóc một người đã chết hoặc một người đang
biết mình sắp chết. Thông thường khi người ta tuyệt vọng
nhất, nơi mà người ta bấu víu ngay lập tức để giải thoát
tâm lý tuyệt vọng, đau đớn đó chính là TÔN GIÁO. Dưới góc
nhìn của ông Tố Hữu (khi ông Hồ Chí Minh vừa mất)Mác - Lê
nin là môt thế giới tốt đẹp (không khác gì một thiên
đàng), chắc chắn là vậy, bất chấp đó là một nhà thơ
mệnh danh "cách mạng nhất" có nghĩa tính vô thần (ở góc độ
tâm linh) là điều không một ai có thể nghi ngờ ở ông ấy.
Ở đây, tôi không có ý định đề cao vai trò Tôn giáo (xin
khẳng định tôi là người chưa bao giờ theo một tôn giáo nào
cả, vì tôi là người thuộc<a
href="http://www.zend2.com/Go.php?u=Oi8vZGFubHVhbi5vcmcvbm9kZS80NzQ0&b=5">bên
Năm</a>.

Bây giờ, ta thử cầm đồng dollar của Mỹ mà xem, trên bất
cứ tờ bạc nào cũng có dòng chữ "In God we trust". Một đất
nước mà người thương cũng lắm, kẻ ghét cũng nhiều, một
quốc gia cho đến nay vẫn là "số Một" trên thế giới về
nhiều mặt - họ vẫn xem Tôn giáo là những gì cần phải đánh
giá trân trọng. Tôi cho rằng, không hề là ngẫu nhiên hay ngẫu
hứng khi các nhà thiết kế đồng dollar đặt dòng chữ "In God
We Trust" một cách trang trọng vào tờ giấy bạc. Điều này có
thể làm chúng ta cần suy nghĩ khá nhiều vai trò Tôn giáo nói
riêng trong vấn đề hòa giải dân tộc từ một hình ảnh mang
thuộc tính kinh tế (đồng Dollar).

Khi những thông tin về ông Nguyễn Tấn Dũng đi thăm Vatican,
Thiền sư Thích Nhất Hạnh tổ chức đàn giải oan cho mọi
người dân chết trong các cuộc chiến mà không phân biệt đó
là ai, ở đâu, ở phía nào v.v... đã làm người dân mong ngóng
và chờ đợi những động thái hòa giải tiếp theo của các
phía thì sự việc Thái Hà, Tam Tòa, Bát Nhã, Đồng Chiêm v.v...
như một gáo nước sôi tạt vào những "vết thương hận thù"
đang cần lắm những bàn tay xoa dịu. Xin nhấn mạnh, các đệ
tử Phật gia, các con chiên của Chúa (Thiên Chúa giáo và Tin
Lành), các tín đồ của Cao Đài, Hòa Hảo v.v... là lực lượng
không nhỏ trong vấn đề hòa giải dân tộc. Nhà nước Cộng
Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam cần nghiêm túc và tận tâm xem
xét lại vai trò Tôn giáo sau cuộc chiến gắn với tinh thần
hòa giải hòa hợp dân tộc, song song đó nên đánh giá trung
thực và khách quan vai trò của Tôn giáo cho các vấn đề khác
như : đạo đức, giáo dục, tính nhân đạo, an ninh xã hội
v.v... thậm chí cả vấn đề kinh tế mà Tôn giáo có thể mang
lại hiệu quả nhất định nào đó. Đặc biệt, trong vấn đề
hòa hợp hòa giải dân tộc, một thuộc tính luôn cần được
nêu cao đó là "TÍNH NHÂN ĐẠO". Nói không quá, chỉ có Tôn
giáo mới đáp ứng đầy đủ thuộc tính này nhất so với các
lĩnh vực khác.

Nhìn lại quá khứ trước 1975, sự thất bại của chế độ
ông Ngô Đình Diệm, ông Nguyễn Văn Thiệu, vẫn thấp thoáng có
tính chất không tôn trọng Tôn giáo trong đó mà chúng ta có
giở lại lịch sử sẽ nhớ lại sư tự thiêu của Hòa thượng
Thích Quảng Đức, đấu tranh cho tự do tôn giáo của Ni Sư
Quỳnh Liên v.v... là những bài học cho bất cứ nhà cầm quyền
nào. Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Hòa thượng Thích Quảng Độ
là những bậc chân tu kêu gọi tự do tôn giáo và dân chủ hòa
bình từ trước 1975 chứ không chỉ sau này, đó là điều mà
Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam cần đánh giá
một quá trình, không chỉ là một làng Mai ngày nay, một Bát
Nhã ngày nay hay một Thanh Minh Thiền Viện ngày nay để quy tội
cho các Vị ấy là chống đối Nhà nước hiện hành, hoặc một
Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt mà sự ra đi có vẻ như
cận kề của ông đang là một đề tài lớn không những trong
giáo giới mà cả trong suy nghĩ của Nhà nước.

Vai trò Tôn giáo chưa bao giờ là nhỏ bé và hời hợt trong vấn
đề hòa giải hòa hợp dân tộc. Hãy trả lại vị trí quan
trọng của Tôn giáo nói chung mới mong quá trình hòa giải hòa
hợp dân tộc diễn ra nhanh chóng. Tuy nhiên, các hệ lụy kéo
theo, đặc biệt trong đó các tài sản của các giáo phái là
điều vô cùng quan trọng mà Nhà nước xử lý không tốt sẽ
chẳng bao giờ đạt được mục tiêu hòa hợp hòa giải dân
tộc.

<em><strong>3 Vai trò của giáo dục:</strong></em>

Khi lịch sử đã được trả lại tính khoa học, trung thực và
Nhà nước phi "chính trị hóa" lịch sử thì giáo dục là nơi
cần phải tính đến ngay, bởi lẽ những gì lớp trẻ đang
học phải chăng đang góp phần làm cho sự hòa giải dân tộc
mà chúng ta đang mong muốn có vẻ như đang giãn ra xa hơn với
một hố sâu ngăn cách ngay giữa lớp trẻ trong nước với nhau
và trong nước với nước ngoài? Những giáo trình giáo dục về
lịch sử là tối quan trọng cho lớp trẻ về tinh thần hòa
hợp hòa giải dân tộc nói chung là điều cần phải làm song
song khi trả lại tính khoa học, trung thực cho lịch sử. Hãy
để lớp trẻ được nhìn thẳng vào những "vết thương cuối
cùng" và những "vết sẹo thời gian" mà thế hệ cha ông đã
gây ra cho nhau để họ thấm thía ý nghĩa :chiến tranh là tội
ác theo cái cách mà người Nhật đã dạy cho thế hệ trẻ của
họ về nước Nhật hoang tàn và đổ nát sau chiến tranh. Giúp
cho lớp trẻ nhìn chiến tranh bằng ánh mắt sợ hãi và tránh xa
chứ không bằng ánh mắt hận thù.

Lớp trẻ là lớp người năng động, dễ chan hòa, dễ tiếp thu
cái mới và luôn thích tiếp thu cái thật. Khi trả lại tính
khoa học và trung thực cho lịch sử, thế hệ trẻ sẽ nhìn
nhận một cách công tâm về các cuộc chiến trước 1975, trong
khi đó lớp trẻ cũng lại là lực lượng đông nhất và tiếp
nối cho việc hòa hợp hòa giải dân tộc nhanh chóng nhất vì
họ là những người ít bị hoặc không bị tổn thương trong
cuộc chiến (kể cả thế hệ sinh từ 1965 đến 1975) dù cho có
thì với thời gian 35 năm cũng đã phai mờ nhiều so với lớp
cha, anh của họ. Hiện nay lớp trẻ sinh từ 1965 trở về sau là
một lực lượng lớn và quan trọng trong mọi lĩnh vực. Cần
biết dùng thế hệ trẻ trở thành một lực lượng quan trọng
cho vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc không thua kém lực
lượng Tôn giáo.

<em><strong>4. Vai trò kinh tế:</strong> </em>

Nhà nước đã có nhiều chính sách kinh tế để phát huy nội
lực trong nước. Cần có một chính sách nhất quán và xuyên
suốt dành cho kiều bào hải ngoại không chỉ riêng việc mua
nhà, kêu gọi về giảng dạy, nghiên cứu, làm việc v.v... mà
cần có một bộ luật ưu đãi những kiều bào có chất xám,
có vốn về đầu tư những lĩnh vực quan trọng mà khó sinh
lời nhanh như y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng. Những ưu đãi
này phải đảm bảo nổi trội so với những ưu đãi của bất
cứ đối tượng nào. Đó cũng là một trong các phương thức
góp phần để tiến trình hòa hợp hòa giải dân tộc diễn ra
nhanh hơn.

<strong>III. Kết :</strong>

Dân tộc Việt Nam ta, phần lớn khi có lỗi mà là lỗi nghiêm
trọng thì hành động gián tiếp có vẻ thích hợp với tâm lý
người Việt hơn là lời xin lỗi trực diện, trực tiếp. Vấn
đề còn lại là một sự thật tâm của tất cả các phía,
trong đó vai trò Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam quan trọng nhất để thúc đẩy tiến trình này.

Nguyễn Ngọc

____________________

(*)
http://www.tuanvietnam.net/2010-04-06-tri-thuc-che-do-cu-gop-suc-cai-to-nganh-ngan-hang

(**) http://www.bbc.co.uk/vietnamese/av/2010/04/100428_nguyendacthanh.shtml

(***) http://www.nhacso.net/Music/Song/Cach-Mang/2005/10/05F5E51E/

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/4846), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Gần đây Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân ở Hà Nội đã
mở hội nghị để viết lại tài liệu lịch sử về ngày
30-4-1975, với ý định được tuyên bố là «thuật lại thật
chính xác những gì đã xảy ra trong ngày hôm ấy tại Dinh Độc
lập giữa Sài Gòn»'.

Thật đáng tiếc là tài liệu được tạo nên có một số
điều sai sự thật.

Là một người chứng kiến tại chỗ, tôi buộc lòng phải lên
tiếng, không hề vì động cơ cá nhân.

Tôi giữ thái độ trung thực, tôn trọng sự thật đúng như nó
có, không tô vẽ gì thêm - không tự vẽ thêm râu ria - cũng
không để ai khác nhận vơ những điều chính tôi đã phát
biểu.

Trong tài liệu nói trên của Bộ Tổng tham mưu, không hề nói
gì đến chuyện tôi, Bùi Tín, lúc ấy là Thượng tá QĐND, cũng
là cán bộ cao cấp duy nhất chứng kiến sự đầu hàng của
nội các Dương Văn Minh vào buổi trưa và xế chiều ngày
30-4-1975 tại «Dinh Độc Lập».

Tôi không hề mảy may có ý tranh dành tiếng tăm hay vinh dự gì
trong thời điểm lịch sử này.

Biết bao liệt sỹ của 2 bên đã nằm xuống, trong đó có
nhiều bạn thân, đồng đội, anh em, con cháu trong dòng họ của
tôi. Việc tranh dành công trạng là điều tôi coi là xấu xa
đáng sỉ nhục.

Nhưng lịch sử là lịch sử. Sự thật lịch sử cần tôn
trọng tuyệt đối. Nói sai lịch sử về một số chi tiết có
thể gây nghi ngờ về nhiều điều lớn hơn.

Do có những nhận định mang tính chất bôi xấu, vu cáo là tôi
đã tự nhận là người nhận đầu hàng của tướng Dương Văn
Minh, thậm chí cho là tôi không hề có mặt ngày 30-4 ở Dinh
Độc Lập, nên tôi thấy cần nói rõ sự thật chân thực là
như sau:

-Tôi đến Dinh Độc lập cùng Trung tá Nguyễn Trần Thiết -
phóng viên ban biên tập quân sự của báo QĐND - lúc 12 giờ
rưỡi trưa ngày 30-4-1975, sau khi đoàn cơ giới của Lữ đoàn xe
tăng 202 của Quân đoàn 2 đột nhập vào trong sân;

-Tôi và Trung tá Thiết ra ngoài cổng Dinh hỏi chuyện vài thanh
niên cưỡi xe gắn máy đang tò mò xúm quanh mấy xe tăng, rồi
vội vào cùng đi khắp các tầng, các phòng của dinh Độc Lập.
Xong chúng tôi tìm ngay chỗ ngồi viết bài tường thuật để
gửi gấp về Hà Nội, vì biết rằng ngoài tòa soạn đang mong
chờ cho số báo in ngay tối nay.

-Tôi đang viết bài thì Trung tá Bùi Văn Tùng, chính ủy Lữ
đoàn 202 và Trung tá Nguyễn Văn Hân, trưởng Ban Bảo vệ của
Quân đoàn 2, cùng đến yêu cầu tôi vào gặp nội các Dương
Văn Minh. Tôi từ chối việc này, vì tôi không được giao trách
nhiệm, lại đang chăm chú lo viết bài báo. Tôi trả lời 2 trung
tá: «Các anh nên đưa 1, 2 người ra đài phát thanh để công
bố tin toàn thắng đi, nên làm gấp để cả nước và thế
giới biết». Sau này gặp lại anh Tùng, tôi mới biết 2 anh
trung tá ấy cùng nghĩ rằng cấp trung tá chỉ là cán bộ trung
cấp, nên việc làm không đủ giá trị theo quân phong quân kỷ.
Họ cần ý kiến một cán bộ cao cấp, mà lúc ấy không có
một ai khác là tôi, họ biết tôi là cấp thượng tá, là phó
tổng biên tập báo QĐND.

[Cần nói rõ thêm để các bạn ở ngoài quân đội biết là
giữa Trung tá và Thượng tá là khác không chỉ một cấp, mà
khác hẳn một bậc. Cán bộ sơ cấp từ Thiếu uý lên Đại úy
là bậc Sơ cấp, từ Thiếu tá và Trung tá là bậc Trung cấp,
từ Thượng tá lên cấp Tướng là bậc Cao cấp. Phân biệt 3
cấp ấy rất rõ, khác hẳn nhau, từ bếp ăn, phòng ngủ, nhà
ở, quân phục, tiền lương, sổ mua hàng, lớp học, trường
học, hội nghị, tài liệu đều phân biệt rõ.]

Ngay sau đó, Trung tá Bùi Văn Tùng đưa ông Minh ra Đài phát thanh
Sài Gòn để loan tin đầu hàng trong vòng nửa tiếng rồi cùng
trở về dinh Độc Lập, chờ cấp trên vào; họ chờ nhất là
Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Tư lệnh Quân đoàn II. Tôi cũng
đã viết gần xong bài báo. Tôi còn nhớ Trung tá Thiết mở
hộc bàn giấy của tổng thống lấy ra tờ giấy cứng in Thực
đơn của Tổng thống trưa 30-4-1975, trên đó có 2 món chính là:
«gân bò hầm sâm» và «cá thu kho mía», đưa cho tôi xem để
ghi thêm trong bài báo cho sinh động.

Hai Trung tá Tùng và Hân lại khẩn khoản nói với tôi: họ đang
ngồi chờ trong kia, chừng 30 người, các ông tướng chưa ai vô,
anh vào gặp họ đi, để họ chờ lâu không tiện.

Anh Thiết bàn với tôi: «Anh vào gặp họ đi, ta cùng vào rồi
sẽ viết thêm vài chi tiết, sau ta sẽ vào trại Davis – Tân
Sơn Nhất, nhờ tổ thông tin đánh bài báo ra Tổng cục chính
trị».

Trung tá Hân dẫn 2 chúng tôi vào phòng họp lớn. Anh Hân, trên
cương vị trưởng ban bảo vệ Quân đoàn hiện là người sắp
xếp trật tự của dinh Độc Lập. Anh vào trước, báo tin:
«Tất cả đứng dậy! Sắp có một cán bộ cao cấp QĐND vào
gặp các ông!»

Tôi và anh Thiết bước vào. Phòng khách rộng lớn, ghế ngồi
lót dạ đỏ, trên bàn có những cốc nước và mấy hộp hạt
đào lộn hột. Anh Thiết ghi tên suốt lượt cả 28 người có
mặt, từ các ông Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn
Huyền đến các ông Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Có, Bùi
Tường Chiểu, Nguyễn Hữu Hạnh, Bùi Hòe Thực, ông Diệp, ông
Trường v...v...

Vừa lúc ấy, Trung tá Hân đón tổ quay phim Quân giải phóng (có
2 người) vào. Ông Minh bước tới trước, nói chậm
rải:-«Thưa quý ông! Chúng tôi chờ quý ông từ buổi sáng
đặng chuyển giao chính quyền».

Tôi đáp ngay: «Các ông còn có gì mà bàn giao; không thể bàn
giao khi trong tay không còn có gì!»

Tôi không nói gì đến chuyện đầu hàng vì 2 Trung tá Tùng và
Hân đã cho tôi biết ông Minh vừa tuyên bố đầu hàng ở đài
phát thanh. Ý tôi muốn nói là không thể có chuyện bàn giao
chính quyền, vì tình hình đã ngả ngũ xong xuôi.

Tôi thấy các ông Minh, Mẫu, Huyền, Hảo, Có …đều buồn. Ông
Minh cúi hẳn đầu, tôi thấy cằm ông lún phún râu, đường
gân 2 bên má co giật nhẹ. Tôi liền an ủi: «Hôm nay là ngày
vui. Hòa bình đã đến. Cuộc chiến tranh đã kết thúc. Chỉ có
người Mỹ là thua. Tất cả người Việt nam ta là người
chiến thắng».

Tôi thấy một số vị gật gật đầu, ông Mẫu nở nụ cười
vui vẻ, tán đồng. Tôi liền thêm: «Bất cứ ai có tinh thần
dân tộc đều có thể coi ngày hôm nay là ngày vui lớn của
mình».

Sau đó tôi mời mọi người ngồi, uống nước, trò chuyện
thân mật. Tôi hỏi chuyện ông Minh, sức khỏe ra sao, ngày ông
chơi mấy «sét» tennis? Collection phong lan của ông có bao nhiêu
giò rồi? có những loại hiếm quý nào? Ông trả lời hết, vui
vẻ, tự nhiên …

Tôi quay sang ông Mẫu hỏi ông từ giã miền Bắc từ hồi nào?
Ông còn nhớ gì về vùng quê Chèm Vẽ…nay Cầu lớn Thăng Long
qua gần đấy; tôi hỏi về trường Luật ông đang dạy, tôi
cũng hỏi ông: Sao tóc ông đẹp, dài vậy, tôi nghe có hồi ông
cắt tó phản đối chính quyền? ông cười, đó là chuyện 2
năm trước, ông luôn mê say với sinh viên trẻ ngành Luật…

Một lát sau, ông Nguyễn Văn Hảo yêu cầu gặp riêng tôi. Tôi
cùng ông ngồi cạnh chiếc bàn con bên cửa sổ lớn nhìn xuống
sân trước, ông nói: «Tôi là Nguyễn Văn Hảo, giáo sư, phó
thủ tướng đặc trách kinh tế, xin báo với riêng ông một tin
quan trọng: bọn này đã giữ lại trong kho Ngân khố quốc gia
hơn 16 tấn vàng, không cho họ mang ra khỏi nước, mong quý ông
báo ra Hà Nội cho người vô nhận…»

Tôi hỏi kỹ lại và tối đó tôi điện ngay cho Thiếu tướng
Lê Quang Đạo phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị. Ngày 2-5 Hà
Nội cho chuyên cơ IL 18 vào Sàigòn nhận đủ hơn 16 tấn vàng
ấy.

Đêm ấy, tôi gửi bài báo «Sài Gòn 30-4: Trong ánh chớp của
lịch sử» in trên số báo QĐND ra sáng 1-5-1975, do tổ thông tin
của Đoàn đại biểu Mặt trận Giải phóng trong Ban Liên hợp 2
bên trong trại Davis – Tân Sơn Nhất chuyển bằng tín hiệu
morse. Đây là bài báo duy nhất gửi được từ Sài Gòn, vì bưu
điện bị đóng cửa liền 2 ngày. Fax, điện thoại viễn liên,
điện báo đều tắc. Do chuyển bằng morse, tên 2 món trong thực
đơn của tổng thống bị sai, «cá thu kho mía» thành «cá thu
kho giá» và «gân bò hầm sâm» thành «gan bò hầm sâm»!

Sáng 1-5 tôi gặp các phóng viên Boris Galash (Tây Đức) và Tiziano
Terzani (Ý) và nhận chuyển giúp 2 bài báo ngày 30-4 của họ qua
con đường Thông tấn xã Viêt Nam ở Hà Nội. Họ mừng rỡ vô
cùng vì đó là điều họ lo, sốt ruột nhất. Bài báo đến
được Berlin, Bonn và Roma.

Những sự việc trên đây tôi ghi lại thật đúng với thực
tế lịch sử.

Trong tài liệu chính thức của bộ Tổng tham mưu, các câu nói
của tôi trên đây được đặt trong miệng Trung tá Bùi Văn
Tùng(!). Tôi khá thân với anh Tùng, từng ghé thăm 2 vợ chồng
anh. Tôi tin là anh Tùng sẽ có thể đến lúc không ngại gì nói
rõ sự thật đầy đủ.

Có những nhân chứng còn sống, về những lời nói của tôi
trưa hôm ấy, như các ông Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Có,
Nguyễn Hữu Hạnh, các ông Diệp, Trường (tôi không nhớ
họ)… cũng như tổ phim Giải phóng hay nhà báo Nguyễn Trần
Thiết rất ngay thật thẳng tính.

Sự thật là hoàn cảnh ngẫu nhiên đưa đẩy để tôi là cán
bộ cấp cao duy nhất của QĐND có mặt tại dinh Độc Lập trong
khoảng thời gian từ 12 giờ đến 16 giờ chiều 30-4-1975 để
chứng kiến và chút ít tham gia sự kiện lịch sử này.

Vị tướng đầu tiên tôi gặp lúc đã xế chiều ở Dinh Độc
lập là Thiếu tướng Nam Long, phái viên của bộ Tổng tham mưu,
tôi cùng tướng Nam Long chụp chung ảnh kỷ niệm. Tối mịt
Thiếu tướng Nguyễn Hữu An mới đến, khi quanh sân anh em nổi
lửa nấu cơm, mỳ ăn liền.

Sở dĩ một số báo nước ngoài cứ nói phóng lên là tôi là
người nhận đầu hàng của tướng Minh là vì tướng Trần Văn
Trà chủ tịch ủy ban Quân quản Sài Gòn hồi tháng 9-1975 có
lần giới thiệu tôi với các nhà báo Nhật, Pháp, Thái lan, Hoa
Kỳ … rằng: đây là nhà báo, sỹ quan cao cấp nhất chứng
kiến sự đầu hàng của chính quyền Sài Gòn. Rõ ràng «chứng
kiến » và «nhận» là 2 điều khác nhau.

Hồi 1989, khi tôi đưa nhà báo Mỹ Stanley Karnow đến gặp Đại
tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà khách chính phủ (đường Ngô
Quyền), ông Giáp giới thiệu với S. Karnow: Đại tá Bùi Tín là
sỹ quan cao cấp nhất có mặt ở Dinh Độc Lập khi chính quyền
của tướng Minh đầu hàng.

Từ đó, có thể có người hiểu sai, hiểu lầm cho rằng tôi
là người nhận đầu hàng. Cũng có thể có người hiểu sai,
cho rằng khi tôi nói «không còn gì để bàn giao» thì cũng có
nghĩa là tôi đòi họ phải đầu hàng tôi!

Đã có bài báo tiếng Việt ở Pháp bịa ra rằng: Bùi Tín rút
súng chĩa vào nội các Dương Văn Minh, hét mọi người phải
giơ tay đầu hàng, rồi bắn loạn xạ lên trời để thị uy,
làm phách…!

Tôi không bao giờ nhận một điều gì không phải của mình,
không do mình làm.

Hơn nữa, sự có mặt của tôi ngày 30-4 -1975 ở Sài Gòn với hy
vọng hòa giải và hòa hợp dân tộc trọn vẹn đã sớm tan
thành mây khói, với chính sách thực tế của lãnh đạo CS là
chiếm đóng, trả thù, đày đọa các viên chức, binh sỹ,
đồng bào ruột thịt ở miền Nam, tịch thu quyền sống tự do,
có nhân phẩm, nhân quyền của nhân dân cả nước suốt 35 năm
nay. Gần 20 năm nay họ để cho bọn bành trướng uy hiếp, mua
chuộc, để chúng lấn đất, lấn biển, lấn đảo, giết hại
ngư dân ta…

Do tình hình đất nước nguy kịch như thế, đã 20 năm nay, tôi
chỉ một điều tâm niệm là góp hết sức thực hiện đoàn
kết thống nhất dân tộc, cùng toàn dân đấu tranh dành lại
các quyền tự do dân chủ bị một chế độ độc đảng toàn
trị tước đoạt hơn nửa thế kỷ nay. ./.


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/4845), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Một tiêu đề của tờ báo địa phương dường như nói lên
tất cả: "<em>Phương pháp chủ yếu là dùng Tình Cảm</em>". Câu
chuyện: hoạt động buôn bán Phụ nữ và Trẻ em dọc biên
giới Việt - Trung.

Một trong những "phương pháp tình cảm" được sử dụng như
thế này: Một người đàn ông từ thành phố dụ dỗ một
thiếu nữ thôn quê, rồi đem cô ta qua biên giới Trung Quốc sau
khi làm đám cưới với cô. Khi đến nơi, cuộc trăng mật biến
thành một trao đổi nô lệ: chú rể bán cô dâu ngây thơ của
mình vào một nhà chứa, rồi biến mất dạng.

<div class="boxright320"><img src="/files/u1/sub01/vietnam-new-money.png"
width="600" height="443" alt="vietnam-new-money.png" /><div
class="textholder">Trong khi học thuyết Marxist Leninist vẫn được
giảng dạy tại các trường phổ thông và đại học, những
nông dân nghèo khổ thường bị bứng khỏi đất đai với số
tiền bồi thường nhỏ nhoi để những kẻ giàu có và quyền
lực sử dụng làm sân gôn.</div></div>
Hoặc nói có thể là "phương pháp tình cảm gia đình": một goá
phụ tuyệt vọng vì người chồng nông dân của mình chết trong
một tai nạn, đã quyết định bán con gái của bà. Đứa con
gái ngỡ đây là một chuyến mua hàng bên kia biên giới Trung
Quốc nhưng lại hoá ra là một cơn ác mộng. Người con gái
trẻ bị bán vào một nhà chứa và lại bị bán cho một ông
già để làm.

Trong cả hai trường hợp, các nạn nhân đều bị bỏ rơi bởi
tình yêu và lòng trung thành. Đối với họ điểm mấu chốt
ảnh hưởng đến cuộc đời cả hai rốt cuộc là sự phản
bội.

Nhưng phản bội không đơn giản là câu chuyện của những phụ
nữ và trẻ em bị buôn bán, một hiện tượng đang vượt tới
tầm mức đại dịch. Trong một ý nghĩa khác, nó đã trở thành
câu chuyện của chính Việt Nam. Các triều đại hưng thịnh
rồi lụi tàn, những kẻ thực dân đến rồi đi, những cuộc
nội chiến xảy ra, mạng sống và đất đai bị tàn phá, nhưng
điểm mấu chốt của việc bị lừa dối, bị phản bội vẫn
tiếp tục tạo dựng nên lịch sử của đất nước này.

Đương nhiên có nhiều dạng phản bội. Ba mươi lăm năm
trước, Quân đội Nam Việt Nam bị Hoa Kỳ bỏ rơi và nguồn
cung cấp vũ khí vào cuối cuộc chiến bị giảm xuống còn vài
viên đạn cho mỗi người lính khi những chiếc xe tăng của
Cộng sản phía bắc đang tiến về phía nam.

Nhưng bị phản bội không chỉ thuộc về những người thua
trận. Nó cũng cũng đùa giỡn một cách mỉa mai hơn nữa đối
với những người được cho là thắng trận. Những người
Việt Cộng - du kích quân của Mặt trận Dân tộc Giải Phóng
Miền nam Việt Nam - nhanh chóng nhận ra rằng họ đã không thực
sự "thắng" khi Sài Gòn sụp đổ. Chỉ trong vài tháng, các đơn
vị của họ bị giải thể hoặc bị hợp nhất dưới sự chỉ
huy của Hà Nội, giới lãnh đạo miền nam bị buộc phải về
hưu. Mặc dù so với những thành phần khác, họ là những
người chịu đựng mất mát nhiều nhất, những người Việt
Cộng nhận ra mình bị mất quyền tự quản và rốt cuộc biến
thành thuộc cấp của giới lãnh đạo phía bắc.

Nhưng chính bản thân các quan chức cộng sản miền bắc cũng
không thoát khỏi việc bị phản bội. Trong số khoảng chục
người bất đồng chính kiến lưu vong là Đại tá Bùi Tín,
viên sĩ quan cao cấp nhất của Hà Nội tiến vào Sài Gòn khi
cuộc chiến kết thúc để tiếp nhận sự đầu hàng chính
thức của Nam Việt Nam. Ông Tín lại bỏ Việt Nam đến Pháp
khoảng một thập niên sau. Nguyên nhân: ông bức xúc trước giai
đoạn hoà bình của cộng sản khi những trại cải tạo và
những vùng kinh tế mới được dựng lên để trừng phạt
miền nam, trong khi vô số thuyền nhân bỏ mạng trên biển.
Đấy không phải những gì ông trông đợi khi miền Bắc đang
tìm cách "giải phóng" miền Nam khỏi tay người Mỹ trong chiến
tranh. Những cuốn sách của ông: "Đi theo con đường của Hồ
Chí Minh: Hồi ký của một người miền bắc," và "Từ thù
đến bạn: Qua cái nhìn của một người miền bắc về cuộc
chiến" đã trở thành những bằng chứng hùng hồn của sự
kiêu ngạo và thoái hoá ở Việt Nam, cộng thêm lời kêu gọi
dân chủ thống thiết.

Và ngay cả Hồ Chí Minh, người cha của Chủ nghĩa Cộng sản
tại Việt Nam, hoá ra cũng không thoát khỏi sự phản bội. Theo
một số ít người Việt hiểu biết nội tình của đảng, Bác
Hồ đã trải qua những năm cuối của đời mình trong cảnh bị
quản thúc tại gia, người yêu của ông bị giết chết và con
cái bị lấy đi. Đấy là những gì tiểu thuyết gia Dương Thu
Hương, hiện sống lưu vong đã viết trong cuốn sách mới nhất
của bà là "Đỉnh cao chói lọi", một tiểu thuyết dựa trên
lịch sử không chính thức về những năm cuối đời của Hồ
Chí Minh. Bản thân bà Hương nếm mùi bị phản bội một cách
sâu đậm. Từng là đoàn viên thanh niên trong phong trào Cộng
sản, về sau bà bị quản thúc tại gia vì những cuốn sách phê
phán Cộng sản, đặc biệt là cuốn "Những thiên đường mù".
Các quan chức chính quyền gọi bà là "con mẹ phản quốc".

Việt Nam trong thì hiện tại là một Việt Nam ở phía cuối
của xã hội không tưởng của Orwell, như được miêu tả một
cách châm biếm trong Trại Súc Vật, nơi mà "<em>mọi súc vật
đều bình đẳng nhưng một số súc vật thì bình đẳng hơn
những con khác</em>". Tham nhũng tràn lan, và theo tờ báo Asia Times
Online, "<em>Việc sang nhượng đất đai trở thành những vấn
đề nghiêm trọng ở Việt Nam. Một số nhà quan sát tiên đoán
rằng, giống như Trung Quốc, việc thu hồi đất đai nhà nước
đầy nghi vấn có thể dẫn đến sự tràn lan về bất ổn xã
hội và ngăn cản quá trình phát triển xã hội kinh tế của
Việt Nam</em>".

Trong khi học thuyết Marxist Leninist vẫn được giảng dạy tại
các trường phổ thông và đại học, những nông dân nghèo khổ
thường bị bứng khỏi đất đai với số tiền bồi thường
nhỏ nhoi để những kẻ giàu có và quyền lực sử dụng làm
sân gôn. Trong khi những phụ nữ và trẻ em nghèo khó ở vùng
quê hiện đang trở thành những món hàng bị bán qua biên giới,
thường là với sự đồng loã của những quan chức địa
phương, thì thành phố lại sáng ngời với sự giàu sang mới,
và những ngôi nhà cao tầng tiếp tục mọc lên như nấm.

Ta không phải tìm xa hơn Sài Gòn. Biển quảng cáo nước hoa
Chanel và túi Versace giờ đây che phủ những khẩu hiệu Cộng
sản tuyên dương giới công nhân, nông dân và thiên đường xã
hội chủ nghĩa. Những tiệm massage nằm trong tầm nhìn của
bức tượng Hồ Chí Minh đang tươi cười ở trung tâm Sài Gòn,
một thành phố được đổi tên một cách không đúng đắn
lắm cho một con người từng cổ vũ cho tính giản dị.

Trong một buổi tối gần đây ở khu vực mới của Sài Gòn là
Quận 7, tại một nhà hàng 3 tầng thời thượng có tên là Cham
Charm - được xây nhái theo đền Angkor Wat với đá hoa đen và
dòng nước chảy theo hai bên tam cấp bóng lộn - có những
chiếc Mercedes, Lexus và cả một vài chiếc Ferrari lẫn Rolls Royce
dừng bánh với giới paparazzi đang chụp ảnh tại lối vào. Hôm
ấy là sinh nhật của ca sĩ nổi tiếng Hồng Nhung và những
người bạn giàu sang - đa số có quan hệ với chính quyền
hiện tại - đang tổ chức một buổi tiệc riêng dành cho cô.
Champagne tuôn trào, rượu vang được rót, và một dãy dài đầy
ắp những món hào biển, sushi và tôm hùm dùng để phục vụ
350 khách VIP. Một lúc sau, Nhung gọi những "đồng chí" của
mình lên trên sân khấu, nhiều người trong họ là những triệu
phú hoặc vợ chồng của triệu phú. Họ cùng nhau hát một bài
ca tuyên truyền của Cộng sản - lên đường đáp lại tiếng
gọi của tổ quốc. Trong khi những người phục vụ đeo nơ
trắng rót rượu Champagne, chiếc máy chiếu phát ra những hình
ảnh ngày xưa của Nhung: Một thiếu nữ mặc đồng phục Cộng
sản đang ca hát. Đương nhiên, chẳng ai hát bài ca về sự
phản bội tại một buổi dạ tiệc vàng, nhưng người ta cũng
thấy được một sự mỉa mai quá hiển nhiên.

Cách buổi dạ tiệc không xa mấy, một nhạc sĩ già trong căn
hộ tồi tàn của mình nói rằng ông cực kỳ cay đắng: "<em>Xã
Hội Chủ Nghĩa đã trở thành Cơ Hội Chủ Nghĩa</em>". Ông
từng quen biết và tận tâm phục vụ Bác Hồ nhưng giờ đây,
tuổi già sức yếu, ông trở thành một người lớn tiếng chỉ
trích chính quyền Hà Nội. Ông vô cùng đau đớn khi ba năm
trước Việt Nam đã nhượng bộ những mảnh đất dọc theo
biên giới cho Trung Quốc và còn ký kết một hợp đồng trị
giá hàng tỉ Mỹ kim để biến những đồi núi nguyên thuỷ
của tỉnh Lâm Đồng thành nơi khai thác bauxite, một quá trình
phá huỷ hệ thống sinh thái.

Điều đáng lo hơn là việc tranh chấp quần đảo Trường Sa
cũng đã rơi vào tay Trung Quốc, làm vùng biển Việt Nam trở
nên yếu thế trước sự bành trướng của Trung Quốc. Có
những cuộc biểu tình phản đối hiếm hoi nhưng chẳng ai lắng
nghe. "<em>Các quan chức chính quyền đã thái hoá cùng cực</em>",
người nhạc sĩ già nhận định. "<em>Họ chỉ biết cúi đầu
trước đồng tiền. Tôi đã mặc quân phục và đi biểu tình.
Tôi thấy buồn khi chứng kiến chính quyền lừa dối nhân dân
năm này qua năm khác. Nếu ta nhường đất cho Trung Quốc, thì
khác nào bán máu của dân</em>".

Điều này có thể giải thích rằng tại sao, trong một thế
giới với phương châm "làm giàu là vinh quang," và kim chỉ nam
đạo đức đã bị hỏng, thì mẹ có thể bán con, chồng bán
vợ, chính quyền bán đi đất đai từng phải đổ những giọt
máu quí giá để có được.

Hệ quả là những ai sống trong thế giới này mà vẫn giữ
những đức tính xưa sẽ là người đau khổ nhất. Nguồn tin
nói rằng cô gái bị mẹ mình bán đi, sau này được giải cứu
đã nói rằng cô không oán trách mẹ mình. Cô nói với các nhân
viên xã hội rằng cô sẵn sàng chịu đựng để cứu gia đình.
Và người nhạc sĩ già yêu nước, từng là một con người lý
tưởng, giờ đang khóc trong giấc ngủ của mình. Và người
chống đối lưu vong đang tuyệt vọng nhìn Việt Nam bị chủ
nghĩa vật chất nuốt chửng.

Những người khác thì vẫn đang tiến tới với tốc độ chóng
mặt. Vì để tồn tại ở Việt Nam, cũng như định luật mới
của xứ sở này, điều tiên quyết nhất là người ta phải
học cách phản bội quá khứ.


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/4844), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Lần đầu tiên, tôi được nghe một nhà ngoại giao, chính trị
gia Việt Nam nói những điều này: "<em>Ngày ấy (năm 1975)
chúng ta đã thực hiện những chính sách mà… đáng lẽ nếu
tỉnh táo hơn, được một phần của Đổi Mới sau này thôi,
thì Việt Nam bây giờ đã mạnh lắm, cường thịnh lắm...
Nhưng thay vì khoan dung và khéo léo trong đối nội, chúng ta lại
có những chính sách như cải tạo công thương nghiệp. Những
chính sách ấy từ khi áp dụng ở miền Bắc đã thấy trục
trặc rồi, vậy mà ta lại tiếp tục áp dụng ở miền Nam.
Hậu quả là làm nền sản xuất không thể nào đứng vững
được, người dân thì hoang mang</em>".

Người nói câu ấy là ông Nguyễn Dy Niên, nguyên Bộ trưởng
Ngoại giao Việt Nam.

________________

<em>- Phóng viên: Đã công tác suốt hơn 50 năm trong ngành ngoại
giao (từ năm 1954 khi mới 19 tuổi), chứng kiến nhiều thăng
trầm của đất nước và tham gia nhiều cuộc đàm phán quốc
tế, ông đánh giá sao về tình hình Việt Nam và bối cảnh
quốc tế sau ngày thống nhất đất nước, 30-4-1975?</em>

- Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên: Sau khi giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta bước vào
một thời kỳ hòa bình và xây dựng. Nhưng phải nói rằng khúc
khải hoàn ngắn quá, bởi ngay sau đó, chúng ta lại vướng vào
chiến tranh ở biên giới Tây Nam, Pol Pot bắt đầu quấy phá,
rồi chiến tranh Campuchia. Đó là thời kỳ cực kỳ khó khăn,
miền Bắc kiệt quệ, xơ xác sau những năm tháng dốc toàn lực
cho chiến trường, miền Nam đổ vỡ vì chiến tranh, các vấn
đề kinh tế - xã hội đặt ra rất lớn, công việc thì bề
bộn. Đất nước hồi đó khó khăn lắm.

<div class="boxleft300"><img src="/files/u1/sub01/8294373_n.jpg" width="514"
height="720" alt="8294373_n.jpg" /><div class="textholder">Nguyên Bộ
trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (ảnh Ngô Vương Anh)</div></div>
Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, thời gian sau ngày 30-4-1975 là
một cơ hội cực kỳ tốt mà chúng ta chậm khai thác. Hầu như
tất cả các nước phương Tây khi ấy đều muốn thiết lập
quan hệ với Việt Nam. Mỹ cũng muốn bình thường hóa quan hệ
với ta. Bởi vì vị thế của Việt Nam lúc đó là vị thế
của người chiến thắng, ngời ngời vinh quang, các nước rất
nể trọng, quý mến. Nhưng rất tiếc là chúng ta còn dè dặt
– cũng một phần do những ràng buộc của lý luận - nên đã
bỏ lỡ, không tận dụng được cơ hội ấy.

Đến lúc ta vướng vào vấn đề Campuchia thì tất cả những
thuận lợi đó đều mất đi: Trước hết là những người
ủng hộ ta bắt đầu hoang mang, không hiểu tại sao một dân
tộc đã tự giải phóng mình nay lại đưa quân sang nước khác.
Rồi tới những người trước đây đã lưỡng lự, chưa hoàn
toàn ủng hộ Việt Nam, thì đến lúc này họ quay hẳn sang
chống lại chúng ta. Họ đâu biết rằng Việt Nam đang làm một
nghĩa vụ quốc tế cực kỳ quan trọng mà không dân tộc nào
lúc đó làm được, đâu biết rằng vào Campuchia là Việt Nam
phải hy sinh ghê gớm lắm, mất đi sự ủng hộ của thế
giới, mất bao xương máu, mất cả nguồn lực kinh tế dồn vào
để bảo vệ, giúp đỡ Campuchia. Đến bây giờ, khi đã hiểu
ra tình hình rồi, người ta mới cảm ơn Việt Nam. Chúng ta luôn
mong muốn hòa bình, nhưng vào giai đoạn ấy, chúng ta bắt buộc
phải làm những việc khiến vị thế quốc tế của mình gặp
khó khăn.

<em>- Như vậy, có phải những khó khăn mà Việt Nam gặp phải
vào những năm sau chiến tranh là bất khả kháng?</em>

- Không hẳn như thế, còn do phần nguyên nhân chủ quan nữa.
Lúc ấy, giá chúng ta khôn khéo hơn trong chính sách đối nội,
thì đã trấn an được lòng người. Tôi muốn nói rằng, nếu
ngày ấy chúng ta đẩy mạnh hòa hợp dân tộc, chúng ta có cái
khoan dung của người chiến thắng, thì sẽ làm yên lòng người
dân, nói chính xác là sẽ làm một bộ phận không nhỏ người
dân miền Nam yên lòng với chế độ mới. Nhưng thay vì khoan
dung và khéo léo trong đối nội, chúng ta lại có những chính
sách như cải tạo công thương nghiệp. Những chính sách ấy
từ khi áp dụng ở miền Bắc đã thấy trục trặc rồi, vậy
mà ta lại tiếp tục áp dụng ở miền Nam. Hậu quả là làm
nền sản xuất không thể nào đứng vững được, người dân
thì hoang mang.

Tôi nhớ năm 2008, tôi sang Ý, gặp một bạn Việt Nam khoảng 40
tuổi, thuộc diện di tản. Cậu ấy kể lại, hồi 1975, nhà
cậu ấy chỉ sản xuất bút viết thôi nhưng cũng bị cho là
bóc lột (vì có thuê người làm công), thế là bị "đánh".
Đánh lần thứ nhất thì gia đình còn cố gắng chịu được,
nhưng đến lần thứ hai, bị tịch thu hết cả phương tiện
sản xuất, thì không sống nổi nữa và buộc phải ra đi. Cậu
ấy kể lại thảm cảnh của người vượt biên, nghe xót xa
lắm. Gia đình dồn hết cả tiền bạc, mang theo đứa em mới
có ba tuổi. Ra ngoài khơi thì thuyền thủng đáy, phải chuyển
sang thuyền khác, chẳng may trong lúc lúng túng, đứa bé rơi
xuống biển. Bà mẹ đã định nhảy theo xuống biển tự tử,
may mà người ta giữ lại được. Cậu ấy kể: "Bố mẹ cháu
hận lắm, nhưng dần dần thì cũng nguôi đi". Tôi hỏi:
"Thế bây giờ cháu có hận không?". "Không, cháu không thù
hận nữa. Cháu về nước nhiều lần rồi, lấy vợ Việt Nam
rồi" – cậu ấy nói thế.

Đó, phải nói là ngày ấy mình đã thực hiện những chính
sách mà đáng lẽ nếu tỉnh táo hơn, được một phần của
Đổi Mới sau này thôi, thì Việt Nam đã mạnh lắm, cường
thịnh lắm.

Dẫu sao, mọi chuyện đã thành lịch sử. Một con người còn
khó mà hoàn hảo, huống gì là cả một cuộc cách mạng. Nhưng
điều hay là sau này chúng ta biết sửa sai, đổi mới. Không
thể tránh khỏi những sơ sảy và có cái giá phải trả, do
những sai lầm chủ quan của mình và cả nguyên nhân khách quan
thêm vào. Nhưng điều quan trọng trong bất kỳ thời nào là
phải rút ra bài học để không bao giờ lặp lại những sai
lầm ấy nữa, để mình đi lên.

<em>- Từ năm 1975 đến nay, có những sự kiện nào là mốc nổi
bật, có ý nghĩa nhất trong hoạt động ngoại giao của Việt
Nam, thưa ông?</em>

- Sự kiện chính trị lớn nhất là Đại hội VI của Đảng
đề ra Đổi Mới. Không có Đổi Mới thì đúng là không biết
Việt Nam sẽ đi về đâu, thậm chí có tồn tại như ngày nay
được không. Tôi nghĩ đó là cái mốc lớn nhất, căn bản
nhất. Về đối ngoại thì sự kiện quan trọng sau năm 1975 là
tìm được giải pháp cho vấn đề Campuchia, rút quân khỏi
Campuchia. Tiếp theo là bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc
và Mỹ.

Mấy mốc ấy rất quan trọng. Bạn phải biết là con đường
đi đến Đổi Mới cũng gặp nhiều cái vướng lắm chứ không
phải dễ dàng thênh thang đâu. Cố Bộ trưởng Ngoại giao
Nguyễn Cơ Thạch là người rất nhạy cảm với cái mới, ông
muốn vươn lên, muốn đi rất nhanh, và trong nội bộ ban lãnh
đạo cũng có nhiều người ủng hộ ông lắm, ấy vậy mà chưa
được, cũng phải đến lúc có sự đồng thuận trong toàn
Đảng mà nhất là trong Bộ Chính trị thì mới đổi mới
được. Đổi Mới là cái mốc lớn nhất, căn bản nhất, đánh
dấu việc chúng ta đã biết rút ra bài học và tìm đường đi.
Còn bình thường hóa cũng không hề dễ dàng. Phải đi từng
bước thật vững, thật cân bằng, cho phù hợp với tình hình
trong nước, tình hình khu vực và thế giới. Những bước đi
đó đều là các vấn đề phải tính toán rất kỹ.

<em>- Nói riêng về quá trình đàm phán với Mỹ, chúng ta đã
trải qua những khó khăn thế nào, thưa ông?</em>

- Từ năm 1976 ta bắt đầu đàm phán với Mỹ. Nhưng lúc ấy
mình đưa ra, như trong nghề ngoại giao chúng tôi hay nói, đưa ra
cả một "cục xương" mà họ không nuốt nổi (cười), đó
là bồi thường chiến tranh. Chủ trương của chúng ta ngày ấy
là dứt khoát đòi bồi thường. Trưởng đoàn Phan Hiền lên
đường đàm phán, lãnh đạo căn dặn đại ý "hai triệu sinh
mạng đã mất trong chiến tranh, anh nhớ lấy điều đó". Với
chủ trương ấy, trong tình hình ấy, người đàm phán không
thể làm khác được, thế là chúng ta bỏ mất cơ hội bình
thường hóa quan hệ với Mỹ, trong khi vào thời điểm đó,
mình là người ra điều kiện để bình thường hóa. Sau này,
tới những năm 90 thì Mỹ lại là bên ra điều kiện. Ta bỏ
lỡ mất 20 năm. Nhưng nói vậy thôi, cũng phải hiểu rằng lúc
đó, chúng ta chưa chuẩn bị được đâu. Miền Nam vừa giải
phóng mà lại có một Đại sứ quán Mỹ mới ở TP.HCM… thì
cũng khó chứ…

(Còn nữa)

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/4843), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Các bài viết có liên quan của vụ án Cù Huy Hà Vũ được Dân Luận tập hợp tại đây: Hồ Sơ Cù Huy Hà Vũ, hoặc theo từ khóa "Cù Huy Hà Vũ".

Độc giả có thể truy cập Dân Luận an toàn hơn qua cổng HTTPS (HTTP có mã hóa bảo mật), bằng cách thêm https:// vào đằng trước địa chỉ danluan.org, hoặc bấm vào đây!
Bấm vào đây để đọc chuyên mục Góp ý sửa đổi Hiến Pháp 1992
Bấm vào đây để đọc cuốn Trần Huỳnh Duy Thức - Con Đường Nào Cho Việt Nam

Quỹ Dân Luận


Bấm nút Donate để ủng hộ tài chính cho Dân Luận qua Paypal. Thu chi quỹ Dân Luận: xem ở đây!

Hỗ trợ dân chủ

Bạn có thể chia sẻ tấm lòng của mình với các nhà hoạt động dân chủ trong nước và gia đình của họ, ngay cả khi bạn đang ở trong nước. Bạn chỉ cần ra bưu điện, hỏi về dịch vụ "chuyển tiền nhanh". Người ta sẽ cấp cho bạn một phiếu, trong đó có phần thông tin người gửi và người nhận. Phần người nhận bạn cần điền chi tiết và chính xác. Còn phần người gửi, bạn không cần điền chính xác. Phí chuyển tiền không đắt, hãy làm gì đó chứng tỏ xã hội đứng phía sau những công dân này!

Danh sách các nhà hoạt động dân chủ trong nước và địa chỉ của họ có thể được tìm thấy ở đây!

Dân Luận kêu gọi bài vở theo chủ đề: Nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh bất bạo động và xây dựng phong trào của Tổ chức Otpor (Phản Kháng) của Serbia. Đây là kinh nghiệm là các lực lượng đối kháng tại Tunisia và Ai Cập đã vận dụng để lật đổ độc tài tại các quốc gia này...

Bài mới trên Dân Luận

Archives