GS Nguyễn Tiến Dũng - Các cách hủy hoại nền đại học (1)

Các đại học là các "vườn ươm tri thức" của nhân loại.
Nó vừa là nơi đào tạo ra đội ngũ trí thức và chuyên gia cao
cấp cho xã hội, vừa là nơi hình thành và phát triển các tri
thức cơ bản mới của xã hội loài người trong mọi lĩnh
vực, từ khoa học tự nhiên và công nghệ cho đến nhân văn
nghệ thuật cho đến chính trị và kinh tế, giúp cho toàn xã
hội phát triển. Nếu như thời trung cổ trên thế giới chỉ
rải rác có vài trường đại học, thì ngày nay đã có hàng
nghìn trường đại học lớn xuất hiện, góp phần đưa thế
giới vào kỷ nguyên đại đồng với nền kinh tế dựa trên
hiểu biết.

Để có thể đảm nhiệm đúng nghĩa hai sứ mệnh đào tạo và
nghiên cứu đem lại lợi ích cho toàn xã hội của mình, hệ
thống đại học cần có được sự tụ hợp của nhiều điều
kiện thuận lợi trong một quá trình phát triển lâu dài. Tuy
nhiên, trong lịch sử, hệ thống đại học không phải lúc nào
cũng có được những điều kiện thuận lợi để phát triển,
mà trái lại, luôn có các thế lực hay chính sách vì cố tình
hay vô ý đã và đang hủy hoại nền đại học.

Trong bài viết này, tôi muốn điểm qua một số cách hủy hoại
đại học tiêu biểu nhất đã từng được áp dụng. Tôi sẽ
chủ yếu bàn về thế giới ngoài Việt Nam, và qua đó ta có
thể chiêm nghiệm so với với Việt Nam.

<h2>Nô lệ hóa</h2>

Tuy rằng hệ thống đại học phải phục vụ chung cho toàn xã
hội, nhưng các thế lực chính trị và tôn giáo có xu hướng
độc quyền luôn tìm cách "nô lệ hóa" đại học về tư
tưởng, "rửa não" sinh viên, <span class="underlined-text">biến
trí thức thành tay sai cho chế độ của mình</span>. Khi mà đại
học đã bị "nô lệ hóa", thì không còn sự tự do tư
tưởng, là thứ "sinh khí" cần thiết cho trí thức và khoa
học phát triển. Mất đi sự "độc lập tự do" đó, thì
đại học cũng mất đi một vài trò quan trọng, là làm phản
biện cho xã hội.

Thời phát xít Đức những năm 1930, các đại học ở Đức đã
bị biến thành công cụ để sản sinh ra các "nazi ưu tú",
phục vụ cho các giáo điều điên rồ của nazi, gây chiến tranh
hủy diệt thế giới. Ở Liên Xô cũ, các sinh viên cũng phải
học thi quốc gia các môn chính trị giáo điều, với nhiều
"kiến thức" trái ngược thực tế.

Để "nô lệ hóa" hệ thống đại học, thế lực cầm
quyền cần có tay sai trung thành do họ dựng lên nắm quyền
quản lý đại học. Những tay sai đó không cần hiểu biết về
khoa học hay văn hóa, không cần biết là đại học để phát
triển thì cần làm thế nào, mà quan trọng là phải biết nghe
lời phía trên, o ép phía dưới theo đúng "khuôn mẫu".

Một biểu hiện của sự nô lệ hóa là khi khoa học rởm và
một số nhà khoa học rởm nhưng "trung thành với chế độ",
được dựng lên và ưu ái, đè ép khoa học thật và cưỡi lên
đầu lên cổ các nhà khoa học thật. Ở Nga Xô Viết, nhà khoa
học rởm <a href="http://en.wikipedia.org/wiki/Trofim_Lysenko">Trofim
Lysenko</a>, với các lý thuyết giả khoa học về sinh vật nhưng
hợp với giáo điều và lọt tai Stalin, đã được dựng lên
nắm "quyền sinh sát", phá hoại nền khoa học Xô Viết trong
mấy thập kỷ cho đến khi bị lật đổ vào những năm 1960. Ở
Rumani, bà <a
href="http://zung.zetamu.com/2010/01/elena-ceausescu-d%E1%BB%89nh-cao-c%E1%BB%A7a-khoa-h%E1%BB%8Dc-r%E1%BB%9Fm/">Elena
Ceaucescu</a> đã trở thành "đỉnh cao của khoa học rởm" cho
đến khi chế độ mà bà ta góp phần dựng lên bị lật đổ
và bà ta bị tử hình vào năm 1989. Bà này "trình độ lớp
4" nhưng trở thành "nhà khoa học vĩ đại" bằng cách dùng
quyền lực chính trị ép các nhà khoa học thật viết mướn cho
mình và ép các tổ chức học thuật danh giá trên thế giới
trao tặng các văn bằng danh dự. Trong một chế độ dân chủ
hơn, không bị độc tài làm nô lệ hóa đại học, thì những
kẻ giả tạo như Lysenko hay Ceaucescu vẫn tồn tại, nhưng không
gây tác oai tác quái hủy hoại nền đại học và khoa học
được lâu dài đến vậy.

<h2>Đàn áp khủng bố</h2>

Đại học là cái nôi của tri thức. Trí thức trước hết
phải là những người có suy nghĩ độc lập tự do và biết
tôn trọng sự thật (và tôn trọng các giả thuyết khoa học khi
chưa rõ sự thật). Nhưng sự thật nhiều khi trái nghịch lại
với các giáo điều. Khi trí thức không chịu làm nô lệ về
tư tưởng, dám nói lên sự thật hay giả thuyết khoa học trái
ngược lại với các giáo điều, thì điều này làm cho các
thế lực mà quyền hành đang dựa trên các giáo điều đó khó
chịu, tìm cách tiêu diệt đàn áp trí thức.

Cách đàn áp thẳng tay nhất là <span class="underlined-text">bỏ
tù</span> và <span class="underlined-text">giết</span>. Nhà thờ Thiên
chúa giáo đã lôi nhà khoa học <a
href="http://en.wikipedia.org/wiki/Giordano_Bruno">Giordano Bruno</a> lên
giàn thiêu vì lý thuyết của ông ta (vũ trụ có nhiều mặt
trời, và trái đất quay quanh mặt trời) được coi là tà
đạo, trái ngược với kinh thánh. Ngày nay, các thế lực tôn
giáo không còn quyền xử tội về pháp lý những nhà khoa học
chống lại họ nữa, nhưng họ vẫn có thể làm trò ám sát
thủ tiêu. Ở Irak, một số học giả đã bị ám sát trong thập
kỷ vừa qua vì lý do tôn giáo.

Ở Liên Xô thời Stalin, hàng trăm nhà khoa học bị bắt đi đày
hay bị giết vì nghiên cứu các học thuyết khoa học bị coi là
"phản động, phản Mac-Lê", như di truyền học hay kinh tế
thị trường. Tiêu biểu là nhà kinh tế học <a
href="http://fr.wikipedia.org/wiki/Nikolai_Kondratiev">Nicolai
Kondriatiev</a> (của chu kỳ Kondriatiev), bị xử tử hình năm 1938,
hay nhà di truyền học <a
href="http://en.wikipedia.org/wiki/Nikolai_Vavilov">Nikolai Valvilov</a>,
bị tống tù rồi chết vì đói vào năm 1943. Nhà kinh tế <a
href="http://en.wikipedia.org/wiki/Wassily_Leontief">Wassily Leontief</a>
(giải Nobel kinh tế 1973 về "general equilibrium theory") cũng
bị đi tù rồi bỏ chạy sang Đức rồi sang Mỹ, <a
href="http://en.wikipedia.org/wiki/Leonid_Kantorovich">Leonid Kantorovich</a>
(cha đẻ quy hoạch tuyến tính, giải Nobel kinh tế 1974) cũng
suýt bị đi tù 2 lần do dám nghiên cứu về biến động giá
cả trái ngược với học thuyết Marxist. Các nhà vật lý như <a
href="http://en.wikipedia.org/wiki/Vladimir_Fock">Vladimir Fock</a> và <a
href="http://en.wikipedia.org/wiki/Lev_Landau">Lev Landau</a> cũng từng
bị bắt, nhưng thoát được tù vì "Stalin còn cần có người
làm bom".

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, các nhà khoa học Xô Viết
dám nói sự thật "mất lòng" vẫn tiếp tục bị tù đày
hoặc là bị đàn áp kiểu khác: tiêm thuốc và <span
class="underlined-text">tống vào nhà thương điên</span>. Điển
hình như nhà vật lý <a
href="http://en.wikipedia.org/wiki/Andrei_Sakharov">Andrei Sakharov</a> (cha
đẻ bom H) bị đi đày, nhà vật lý <a
href="http://www.newworldencyclopedia.org/entry/Pyotr_Kapitsa">Pyotr
Kapitsa</a> bị giam tại gia, nhà sinh vật học <a
href="http://en.wikipedia.org/wiki/Zhores_Medvedev">Zhores Medvedev</a> bị
tống vào nhà thương điên. Nhà toán học Vladimir Arnold thì
"tội" nhẹ hơn, dám ký vào một bản kiến nghị phản đối
chính quyền tống một nhà khoa học "dissident" hoàn toàn
khỏe mạnh vào nhà thương điên, nên không bị đi tù nhưng
cũng bị trù dập: không được giải Fields (phái đoàn Xô
Viết dọa tẩy chay đại hội toán học thế giới nếu Arnold
được giải Fields), và mãi đến năm 1990 khi Liên Xô gần sụp
đổ mới được bầu vào Viện Hàn lâm tuy tên tuổi khoa học
trên thế giới đã lẫy lừng từ lâu trước đó.

Ở Trung Quốc, Mao Trạch Đông từng nói "trí thức không bằng
cục cứt". Kiểu đàn áp của Mao đối với trí thức khó
bảo là <span class="underlined-text">tống đi lao động cải
tạo</span> (cũng là một hình thứ bỏ tù) trong thời kỳ
"Cách mạng Văn hóa" (thập kỷ 60-70 của thế kỷ 20). Hệ
quả hiển nhiên là hệ thống đại học của Trung Quốc suy
sụp trong giai đoạn đó (nhà toán học nổi tiếng <a
href="http://www-history.mcs.st-and.ac.uk/Biographies/Wu_Wen-Tsun.html">Wu
Wen-Tsun</a> thời đó cũng được cho đi làm công nhân nhà máy
chế tạo máy tính). Nhưng "không may" cho Mao, Cách mạng Văn
hóa thất bại, Mao chết, và nhân dân Trung Quốc lại quay trở
lại xây dựng hệ thống đại học của họ trong mấy thập
kỷ qua, để đến ngày nay đã có một số trường đại học
ở Trung Quốc đạt đẳng cấp quốc tế.

<div class="boxright320"><img
src="http://danluan.org/files/u1/berlin_book_burning.jpg" width="401"
height="307" alt="berlin_book_burning.jpg" /><div class="textholder">Ảnh:
Đốt sách ở Berlin thời phát xít Đức (lấy từ
internet)</div></div>

Một kiểu phổ biến để đàn áp các "tư tưởng đối
lập" là đốt sách. Chế độ Nazi ở Đức những năm 1930 đã
biến các đại học thành bộ máy phục vụ chế độ. Các sách
vở mà Nazi coi là "phản động", hay được viết bởi các
tác giả "thoái hóa" hay chống Nazi, bị đem đốt. Riêng thư
viện trường đại học Humboldt ở Berlin đã có khoảng 20 nghìn
quyển sách bị đốt như vậy. Không chỉ đốt sách, Nazi còn
đàn áp trực tiếp những giảng viên đại học bị coi là
"phản động" hay gốc Do Thái. Những người đó đầu tiên
là bị đuổi khỏi trường, rồi đến những năm tiếp theo là
bị bắt hay bị giết.

Chuyện đốt sách tất nhiên không phải là sáng tạo riêng của
Nazi. Nhà thờ trước đó cũng đã từng đốt nhiều sách "tà
đạo". Người Do Thái cực đoan cũng đốt sách trái với
đạo của họ. Thế kỷ 21 này, vẫn xảy ra các cuộc đốt
sách "tà đạo" ở một số nơi trên thế giới.

Ở Mỹ, vào quãng giữa thế kỷ 20 ("McCarthy era"), các giảng
viên đại học từng là đảng viên cộng sản hay bị coi là
"thân cộng" cũng bị đàn áp bằng cách đuổi khỏi các
trường đại học, nhưng không đến nỗi bị tù đày hay tử
hình như các "phần tử phản động" ở Liên Xô, Trung Quốc,
hay Đức phát xít.

Sự đàn áp viết phía trên là "đàn áp có chọn lọc": ngay
trong một trường đại học hay viện nghiên cứu, không phải
nhà khoa học nào hay sinh viên nào cũng bị đàn áp. Những
người chấp nhận mất tự do tư tưởng sống cúi đầu giả
vờ tuân theo giáo điều, hoặc là cơ hội chủ nghĩa "chia máu
ăn phần" với chế độ độc tài, thì ít bị đàn áp.

Sự khủng bố nói đến trong mục này, là sự khủng bố với
toàn bộ một hay một loạt trường đại học và tất cả các
thành viên của nó. Sự khủng bố đó thường đến từ các
thế lực thù địch bên ngoài (chứ không phải từ bên trong hay
từ thế lực cai trị phía trên).

Đặc biệt là trong chiến tranh, các đại học cũng trở thành
mục tiêu của bom đạn. Thời chiến tranh với Việt Nam, Mỹ
đã ném bom phá hoại cả các trường đại học ở miền Bắc.
Israel trong những năm gần đây cũng đã ném bom phá hoại các
cơ sở đại học của Palestine.

Các nhóm khủng bố như kiểu Al Qaeda cũng coi các đại học là
mục tiêu khủng bố. Ở Pakistan, các đại học phải có lính
quân đội canh cổng, cầm máy dò mìn dò các xe ô tô trước khi
cho đi qua cổng, nhưng vẫn có đại học bị đánh bom trong
những năm gần đây.

<h2>Bỏ đói</h2>

Không cần đàn áp các học giả hay phá hủy cơ sở vật chất,
mà chỉ cần bỏ đói họ, không cung cấp đủ kinh phí cho các
đại học hoạt động, thì các đại học cũng sẽ tự khắc
xuống cấp, thoái hóa.

Sự bỏ đói dễ nhận thấy nhất, là khi các giáo sư đại
học được <strong>trả lương cực thấp</strong> so với các
nghề khác, có khi thấp hơn cả nhân viên quèn ở các hãng tư.

Thời Xô Viết, các nhà khoa học tuy không giàu, nhưng đủ sống
và được chăm lo bao cấp nhiều khoản, không phải lo về vật
chất, có thể yên tâm giảng dạy nghiên cứu khoa học, trừ
những ai có vấn đề với chế độ. Bởi vậy thời kỳ Xô
Viết, tuy có nhiều nhà khoa học bị bắt bớ tù đày trong
những giai đoạn nào đó, vẫn là thời kỳ hoàng kim của khoa
học Nga nói chung. Khi chính quyền Xô Viết sụp đổ, chế độ
mới lên thay đã bỏ rơi giáo dục và đại học trong hai thập
kỷ 1990-2010, khiến cho nền giáo giục và nền đại học của
Nga xuống cấp trầm trọng về chất lượng, đặc biệt là
đại học (Thực ra sự xuống dốc này đã bắt đầu thể
hiện từ cuối thập kỷ 1980s trước khi Liên Xô tan rã). Trong
khi kinh tế tư nhân ở Nga "bùng nổ", giá cả ở Matxcơva
trở nên đắt đỏ loại nhất thế giới, và thu nhập trung
bình của người dân Matxcơva cũng trở nên thuộc loại khá cao
trên thế giới (chủ yếu nhờ vào xuất khẩu nguồn tài nguyên
thiên nhiên giàu có), thì thu nhập của giảng viên đại học
ở Nga bị kìm kẹp bởi chế độ từ thời bao cấp chậm thay
đổi không theo kịp sự trượt giá. Vào thời điểm 2010,
lương giáo sư của MGU (đại học danh giá nhất nước Nga) chỉ
có khoảng 1000 USD một tháng, trong khi một kỹ sư máy tính
xoàng cũng có thể được 2-3 nghìn USD/tháng.

Hệ quả tất yếu của việc bỏ đói là sự chảy máu chất
xám. Nếu như trước 1991 số lượng các nhà khoa học Nga
"vượt biên" sang phương Tây còn tương đối hiếm (trừ
những người gốc Do Thái đi khỏi Nga về Israel), thì trong
suốt giai đoạn 1991-2010 có sự ra đi ồ ạt của các nhà khoa
học Nga sang phương Tây và sang cả các nước châu Á như Nhật
Bản, Hàn Quốc, v.v. Những người còn ở lại Nga thì cũng
thỉnh thoảng ra nước ngoài kiếm sống, bỏ rơi sinh viên trong
nước, hoặc "chân trong chân ngoài", hoặc tệ hơn là tham
nhũng thoái hóa, bán điểm, làm luận án thuê, v.v. Nhiều giáo
sư hay tiến sĩ của Nga sẵn sàng viết thuê luận án, bán danh
dự để nuôi thân. Cũng vì vậy mà nhiều con buôn Việt Nam sang
Nga "du học" bảo vệ được "tiến sĩ" hay "tiến sĩ
khoa học" với luận án do người khác viết.

Các nước Đông Âu như Ba Lan và Hungary, sau khi không còn XHCN và
sát nhập vào với cộng đồng Châu Âu, đã có chính sách tốt
hơn trong quá trình chuyển đối, không bỏ đói đại học một
cách tồi tệ như Nga, nên các nhà khoa học ở các nước đó
(cũng giỏi không kém gì ai) phần lớn yên tâm làm việc ở
nước mình, không phải "chạy loạn" như các nhà khoa học
Nga.

Việt Nam hiện là một trong các nước hiếm hoi, mà các giảng
viên đại học cũng bị "bỏ đói" tương tự như ở Nga. Ở
Việt Nam, số ít những ai có đủ trình độ để có thể đi
thỉnh giảng ở nước ngoài thì cũng ra nước ngoài đều đặn
mỗi năm vài tháng kiếm tiền. Phần đông còn lại "bán cháo
phổi" dạy thêm suốt ngày hoặc làm nghề tay trái khác, không
có thời giờ đâu cho nghiên cứu khoa học hay cập nhật kiến
thức và bài giảng.

Tình hình ở Pháp tất nhiên không đến nỗi tồi như ở Nga hay
Việt Nam. Nhưng cán bộ đại học hay nghiên cứu khoa học nhà
nước của Pháp cũng được trả lương khá thấp so với nhiều
nước tiên tiến khác. Một tiến sĩ trẻ được nhận vào làm
nghiên cứu viên CNRS ở Paris (là một công việc khá "danh
giá") nhưng đi thuê nhà không thuê được, vì với mức lương
CNRS như vậy không ai cho thuê nhà. Một người châu Âu được
nhận làm giáo sư ở Paris, nhưng sau khi biết được là lương
giáo sư là bao nhiêu, bèn từ chối thôi không nhận việc nữa.
Một giáo viên dạy "classes prépa" (các lớp chuẩn bị để
thi vào các trường lớn ở Pháp) cũng có thể có thu nhập cao
hơn là giáo sư đại học ở Pháp. Theo một thống kê (xem:
http://nicolas.tentillier.free.fr/Salaires/index.html), lương khởi
điểm của "maitre de conference" ("giảng viên chính") ở
Pháp bị giảm liên tục trong hơn 20 năm 1986-2008 sau khi đã trừ
đi lạm phát (tức là lương tăng chậm hơn so với lạm phát),
lương năm 2008 chỉ có sức mua bằng quãng 85% lương năm 1986,
trong khi nền khi tế đi lên nhiều trong hơn 20 năm đó.

Chính phủ Pháp vào năm 2010 đang "làm bộ" quan tâm hơn đến
khoa học với những cải cách này nọ, nhưng về cơ bản thì
cán bộ đại học vẫn bị đối xử tệ. Ngay chính sách tài
trợ nghiên cứu của Pháp hiện tại cũng không khuyến khích
được mọi người tích cực nghiên cứu hơn. Nói một cách nôm
na, đó là chính sách "20% tốt, 80% dốt" (tiếng Pháp: "20%
de bons, 80% de cons"). Có nghĩa là người ta đặt ra một qui
định khá máy móc tùy tiện là, chỉ có 20% số giảng viên
đại học xin tiền phụ cấp nghiên cứu được xếp hạng
"tốt" (và nói chung cũng chỉ những người đó được phụ
cấp nghiên cứu, thường trong quãng 4 nghìn đến 6 nghìn
eurro/năm). Kể cả với 6 nghìn euro phụ cấp nghiên cứu khoa
học thì lương đại học của Pháp vẫn thấp hơn ở các
nước giàu ngang Pháp. Và chỉ có một lượng khoảng 20% người
được phụ cấp, những giáo sư/phó giáo sư còn lại, dù có
tích cực nghiên cứu cũng không được phụ cấp, và điều này
khiến cho nhiều người chán nản bỏ nghiên cứu. (Để công
bằng và khuyến khích nghiên cứu tốt hơn, thì đáng nhẽ phụ
cấp phải tỷ lệ thuận theo kết quả, tức là những ai không
lọt vào 20% đầu mà có kết quả nghiên cứu tốt thì vẫn
phải được hưởng phụ cấp nghiên cứu nào đó).

Thế hệ trẻ khi thấy tấm gương bị bỏ đói của các thầy
cô giảng viên đại học của mình, thì sẽ không còn ham muốn
đi theo con đường nghiên cứu và giảng dạy khoa học. Hệ quả
là, đất nước sẽ ỳ ạch mãi hoặc lụi bại dần về khoa
học và công nghệ, dẫn đến kém phát triển về lâu dài.
Điều này không chỉ thấy ở Nga hay ở Việt Nam, mà ngay ở
Pháp và một số nước tiên tiến khác cũng đang diễn ra: xã
hội không coi trong khoa học, sinh viên không thích đi theo khoa
học, lượng sinh viên đăng ký học các ngành khoa học ngày
càng giảm. (Thậm chí có thể giảm đến trên 50% trong 1 thập
kỷ).

Có nhiều người, kể cả những người có chức trách, ảo
vọng về xã hội "hậu công nghệ", không còn cần chú ý
đến phát triển khoa học công nghệ nữa (mà chỉ cần phát
triển các mánh khóe?!), và một phần bởi vậy sự phát triển
khoa học bị bỏ rơi. Tư tưởng "hậu công nghệ" không có
gì mới, vì từ cách đây 1 thế kỷ đã có những người tuyên
bố rằng "thế giới này không còn gì mới để phát minh
nữa". Nhưng những nước nào bỏ rơi sự phát triển đại
học và khoa học công nghệ sẽ phải trả giá đẳt cho nó
bằng sự thụt hậu của mình. Trung Quốc đang phát triển rất
nhanh, thành cường quốc kể cả về khoa học công nghệ, sẽ
có cơ thống lĩnh thế giới, nếu các nước khác bỏ rơi khoa
học.

Một xu hướng ở nhiều nước hiện nay là, mỗi khi chính phủ
có khó khăn về tài chính (chẳng hạn do phải vung tiền cứu
giới tài chính sau khi giới này đầu cơ làm loạn tài chính và
kinh tế thế giới), thì hệ thống đại học là một trong
những nơi dễ bị họ cắt giảm ngân sách nhất. Cắt giảm
ngân sách cũng là một cách bỏ đói đại học. Dù rằng đại
học có là động lực để phát triển kinh tế về lâu dài, và
kinh tế trước nay được hưởng dương rất nhiều từ đại
học, và hệ thống đại học không phải là nơi gây ra các khó
khăn khủng hoảng về kinh tế, nhưng trước mắt chỗ nào cắt
được thì họ cứ cắt. Nhiều nhà chính trị nhìn "không xa
quá mũi", đối với họ các nghiên cứu cơ bản và các nghiên
cứu có ảnh hưởng tốt chung đến xã hội trong những lĩnh
vực không đếm ra được ngay thành tiền (như văn hóa, nghệ
thuật, tinh thần) chẳng có ý nghĩa gì mấy, và ngân sách cho
những chỗ đó càng dễ bị cắt giảm. Ở Anh, theo tin BBC ngày
15/10/2010 (xem: http://www.bbc.co.uk/news/education-11550619), hệ thống
đại học sẽ bị cắt giảm ngân sách đến 4.2 tỷ bảng Anh.
Điều này ắt hẳn sẽ làm cho Anh trở nên kém cạnh tranh trên
thế giới về chất lượng đại học và khoa học, và làm cho
nền kinh tế Anh trì trệ thêm về lâu dài.

Việc cắt giảm kinh phí đại học hiện không chỉ xảy ra ở
Anh, mà còn ở các nước khác như Mỹ, Tây Ban Nha, v.v. với lý
do "khó khăn kinh tế". Chẳng hạn ở Tây Ban Nha, các giảng
viên đại học đều bị giảm lương khoảng 6%. Một điều hơi
khó hiểu là, chính phủ Mỹ một mặt in tiền và tung các gói
"kích cầu" khổng lồ nhằm vực kinh tế khỏi suy thoái,
nhưng một mặt lại cắt giảm kinh phí cho đại học, mà đại
học chính là một động lực quan trọng cho sự phát triển kinh
tế bền vững. Nếu như trong những thập kỷ trước, nước
Mỹ thu hút được nhiều nhân tài từ các nước khác trên thế
giới do đổ nhiều tiền vào đại học, cho nhiều học bổng
cho học sinh nước ngoài, v.v. thì ngày nay thế mạnh đó của
Mỹ đang giảm đi (trong khi thế mạnh của Trung Quốc tăng lên).

<h2>Thương mại hóa</h2>

Hầu hết các đại học lớn quan trọng nhất trên thế giới,
dù là đại học công như <a href="http://www.cam.ac.uk/">Cambridge</a>
hay là đại học tư như <a
href="http://www.princeton.edu/main/">Princeton</a>, hiện đều là
<em><strong>các đại học phi lợi nhuận</strong></em>, còn các
đại học vì lợi nhuận chỉ tạo thành một phần nhỏ của
hệ thống đại học. Lý do là, các đại học là các tổ chức
có ảnh hưởng dương rất lớn đến xã hội (nói theo thuật
ngữ kinh tế, là có "positive externality"), làm lợi chung cho
toàn xã hội. Chính vì toàn bộ xã hội được ảnh hưởng
dương rất lớn từ hệ thống đại học, nên có thể coi đại
học là của cải chung của xã hội, và xã hội có trách nhiệm
"nuôi" nó. Các đại học tư phi lợi nhuận do các doanh nhân
giàu có bỏ tiền tài trợ, cũng là một hình thức đóng góp
và gây ảnh hưởng đến xã hội của họ.Các đại học vì
lợi nhuận có vai trò nhất định trong xã hội, nhưng không đem
lại được lợi công cho xã hội như là đại học phi lợi
nhuận, mà mục đích chính của chúng là đem lại lợi tư cho
chủ sở hữu. Các đại học vì lợi nhuận sẽ chỉ chú trọng
đầu tư vào những gì sinh lời tư nhanh chóng, mà không đầu
tư vào những hướng nghiên cứu hay đào tạo có ảnh hưởng
tốt lâu dài đến toàn xã hội. Bởi vậy, xã hội muốn
được hưởng nhiều thành quả từ hệ thống đại học, thì
không thể dựa vào đại học vì lợi nhuận, mà cần dựa vào
đại học phi lợi nhuận. (Cũng vì vậy, ở Việt Nam, khi một
số "chuyên gia kinh tế" xui chính phủ nên cổ phần hóa các
đại học công lớn, tôi đã có bình luận rằng đây là một
ý tưởng điên rồ, sẽ chỉ làm lợi cho một số tư nhân mà
làm hại chung cho toàn đất nước).

Tuy nhiên, ở một số nước tư bản hiện nay, song song với xu
hướng cắt giảm ngân sách nhà nước cho đại học, đang có
một xu hướng khá nguy hiểm là thương mại hóa đại học,
dần dần biến chúng thành các "công ty thương mại". Khi các
đại học không còn được chính phủ hay tổ chức từ thiện
cung cấp kinh phí, mà chủ yếu dựa vào hợp đồng với các
hãng tư nhân vì lợi nhuận cho ngân sách khoa học của mình,
thì việc nghiên cứu khoa học bị bóp méo đi, các nghiên cứu
có lợi chung cho xã hội bị bỏ rơi, "cha chung không ai
khóc", chỉ có những nghiên cứu đem lại lợi tư được phát
triển. Sự tự do tư tưởng trong nghiên cứu cũng sẽ mất dần
đi. Từ "giáo sư" sẽ mất dần đi ý nghĩa "người
thầy" cao quí của nó, mà dần dần biến thành nghĩa
"người làm công ăn thuê cho các ông bà chủ nắm quyền ở
đại học".

Việc đại học hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp, để
điều chỉnh công việc đào tạo và nghiên cứu cho thích hợp
với nhu cầu xã hội, là việc tốt và cần thiết. Việc doanh
nghiệp tài trợ cho đại học, đổi lấy sự đảm bảo nguồn
nhân lực trí thức và sự hỗ trợ về khoa học công nghệ, là
việc tốt. Nhưng nếu đại học trở nên quá phụ thuộc về
kinh tế vào các doanh nghiệp tư, thì lại thành xu hướng nguy
hiểm: đấy là xu hướng nô lệ về kinh tế, trở thành tay sai
cho các quyền lợi tư, mất đi ảnh hưởng dương đến chung
toàn xã hội. Một ví dụ gần đây về sự nguy hiểm của
việc nô lệ hóa đại học về kinh tế là, khi xảy ra vụ nổ
giàn dầu hỏa của công ty British Petroleum ở ngoài vịnh Mexico
vào tháng 04/2010, dẫn đến một lượng dầu hỏa rất lớn
chảy ra biển và tràn vào các bờ biển gây tác hại lớn cho
môi trường và cho người dân, thì British Petroleum đã liên tục
tìm cách "bịt mắt" công chúng, đưa ra các con số thiệt
hại nhỏ hơn nhiều lần thực tế. Họ thuê các chuyên gia
đại học đi điều tra về vụ này, nhưng lại ra điều kiện
là các kết quả điều tra được phải nộp lại cho British
Petroleum mà không được cho công chúng biết. Khi ăn tiền như
vậy, thì đại học không còn giá trị xã hội nữa, mà thành
tay sai của công ty tư nhân.

Đại học Luxembourg (mới thành lập từ năm 2003 ở Luxembourg)
là đại học công, nhưng là một ví dụ về việc quản lý
đại học như là công ty thương mại. Trong cái "công ty
thương mại" đó, giáo sư chỉ là một nhân viên dưới quyền
quản lý của cấp trên trực tiếp, và ngược lại là sếp
của mấy cấp dưới trực tiếp (phụ giảng, postdoc), chứ
không có được sự tôn trọng như là người thầy và sự tự
do như ở những nơi khác. (Ở Pháp hiện tại, các giáo sư
được xếp vào hàng cán bộ cao cấp nhà nước, dù có không
làm quản lý thì cũng vẫn có thể ngang hàng với hiệu trưởng
trong thang bậc công chức chứ không phải là "cấp dưới"
bảo gì nghe nấy; những người làm quản lý chỉ là những
người phụ trách công việc hành chính chứ không phải là
"có quyền sinh sát" với các giảng viên. Ở Mỹ các giáo sư
trường tư không phải "công chức" nhưng cũng có được sự
độc lập tự do). Giáo sư cho đến nghiên cứu sinh ở Luxembourg
phải đến phòng làm việc ngồi hàng ngày "từ 9 giờ đến 5
giờ" và mỗi năm được cấp một số ngày phép y hệt như
là các nhân viên bàn giấy. Khi nghỉ phép, thì họ "được
phép" dừng hết mọi hoạt động khoa học. Nhưng kiểu quản
lý như vậy hoàn toàn trái ngược với truyền thống của giới
khoa học (làm việc không kể giờ giấc, cả khi đi nghỉ hay khi
ở nhà vẫn nghĩ về khoa học, không cần "ngày phép" chính
thức, nhưng cần tự do). Kiểu quản lý đó khiến cho sinh viên
thì không có được thói quen làm việc của nhà khoa học mà
chỉ thành những nhân viên làm công ăn lương, còn các nhà khoa
học giỏi thì ít muốn đến trường Luxembourg làm việc tuy
lương ở đó khá cao.

Một biểu hiện của xu hướng thương mại hóa, là khi sinh viên
được coi thành "khách hàng", quan hệ giữa trường đại
học và sinh viên không còn là một quan hệ có trách nhiệm xã
hội trong đó, mà xuống cấp thành quan hệ thương mại "kẻ
mua – người bán". Khách hàng là "thượng đế", nên đại
học sẽ ra sức "chiều" sinh viên, đổi "điểm tốt"
lấy tiền. Giảng viên thì không dám kỷ luật sinh viên không
nghiêm túc hay cho điểm xấu những sinh viên học kém, vì sợ
làm "mếch lòng thượng đế". Hậu quả là lạm phát văn
bằng, chất lượng đào tạo không đảm bảo, học ấm ớ vẫn
có đủ các thứ bằng miễn là nộp đủ tiền. Đặc biệt có
những đại học vì lợi nhuận ở phương Tây mà nghề chính
là "bán bằng", đủ các thứ bằng từ thạc sĩ đến tiến
sĩ rồi đến cả giáo sư, viện sĩ, dân Việt Nam có những
người đi mua các thứ bằng đó về lòe thiên hạ. "Thượng
đế" chỉ được chiều khi "thượng đế" có tiền. Xu
hướng thương mại hóa cũng góp phần tạo rào cản cho những
học sinh học giỏi nhưng ít tiền không vào được đại học
(kể cả đại học công), trong khi con nhà giàu học dốt thì
được nhận học. Hệ quả là vừa lãng phí đầu tư công và
lãng phí tiềm năng xã hội, vừa làm tăng phân biệt giàu
nghèo.

Một biểu hiện nữa của xu thế thương mại hóa, là việc bỏ
quá nhiều tiền cho các trò có tính quảng cáo, ví dụ như trò
thi đấu thể thao. Bản thân việc chơi thể thao, văn nghệ,
v.v., biểu diễn và thi đấu giữa các trường, là việc tốt,
làm cho cuộc sống của đại học thêm phong phú và thăng bằng.
Tuy nhiên khi việc đó được thương mại hóa, trở thành nguồn
hút tiền hay chỗ tiêu tiền chính của đại học, thì đây
lại là một dấu hiệu đáng ngại. Theo ông Trưởng khoa Toán
ở Đại học California Berkeley (một đại học công hàng đầu
của Mỹ) cách đây không lâu, Berkeley hiện chi đến 25% ngân
sách của trường cho các trò thể thao không liên quan gì đến
khoa học, và người được trả lương cao nhất đại học
Berkeley (trên 1 triệu USD/năm) không phải là một nhà khoa học
danh tiếng lừng lẫy nào, mà là ông huấn luyện đội tuyển
bóng bầu dục (American football) nghiệp dư của trường! Tại sao
trong khi tiền cho khoa học thì thiếu, mà trường công lại chi
quá nhiều tiền cho thể thao? Ban giám hiệu giải thích là,
việc đó cần thiết để gây thanh thế cho đại học và nhận
được tài trợ của các nhà hảo tâm. Không rõ là nếu không
chi phí cho thể thao như vậy, thì thâm hụt của Berkeley do các
nhà hảo tâm đóng góp tiền ít đi có vượt quá con số 25%
tổng ngân sách đó không. Nhưng dùng sao đi nữa, khi xã hội và
các nhà hảo tâm nhớ đến các đại học vì thành tích "tiêu
khiển tốt", thay vì các đóng góp về đào tạo và nghiên
cứu, thì giá trị đích thực của đại học đã bị giảm đi.

(còn tiếp)

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/7363), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét