Giang Lê - Sự đồng thuận Bắc Kinh (Beijing consensus)

Một người bạn gửi cho tôi transcript buổi nói chuyện của
Jing Huang, giáo sư Trường Chính sách Công Lý Quang Diệu về mô
hình kinh tế TQ và các thách thức TQ phải đối mặt. Buổi nói
chuyện này do Bộ Ngoại giao VN và Hội đồng Lý luận Trung
ương tổ chức ngày 22/10 vừa qua, không rõ thành phần tham dự
có những ai. Mấy ngày qua bản transcript này có vẻ được lưu
truyền khá rộng trong giới trí thức VN, chẳng hiểu vô tình
hay cố ý. Ấn tượng của tôi khi đọc bài nói chuyện này
là... nó kém các bài viết của TS Vũ Minh Khương (cũng là GS
trường Lý Quang Diệu). Riêng phần kinh tế, các lập luận/phân
tích của GS Huang khá hời hợt, thậm chí sai trọng tâm và
nhầm lẫn. Tôi không dám bình luận về phần chính trị, ngoại
giao, quân sự của bài nói chuyện, nhưng thấy nhiều điểm
trong đó không mới và không sâu như nhiều chuyên gia khác đã
đề cập đến (vd The Economist cách đây 2 tuần có một chuyên
đề về sự trỗi dậy của TQ và quan hệ Mỹ-Trung trong tương
lai). Công bằng mà nói tôi thấy phần hỏi-đáp cuối buổi nói
chuyện thẳng thắn và bổ ích hơn, tiếc là số câu hỏi và
chủ đề được hỏi không nhiều và không hóc búa. Dưới đây
tôi sẽ phân tích một số vấn đề kinh tế mà GS Huang nêu ra
trong buổi nói chuyện.

Theo GS Huang, thành công kinh tế của TQ trong 3 thập kỷ vừa qua
có 3 nguyên nhân chính: <strong>(i)</strong> ổn định chính trị
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung quốc;
<strong>(ii)</strong> cơ chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa của TQ; <strong>(iii)</strong> môi trường bên
ngoài hòa bình thịnh vượng. Từ những lập luận này, GS Huang
cho rằng mô hình phát triển của TQ là "Đồng thuận Bắc kinh"
(Beijing Consensus), đặt trọng tâm vào lợi ích cộng đồng chứ
không phải lợi ích cá nhân như Washington Consensus. Tuy nhiên GS
Huang cho rằng về lâu dài Beijing Consensus sẽ hội tụ vào
Washington Consensus, một kết luận không ăn nhập lắm so với
những gì ông nói trước đó nhưng lại phù hợp với quan
điểm của ông về tương lai dân chủ ở TQ trong phần
hỏi-đáp.

Trong nguyên nhân thứ nhất, GS Huang nhất mạnh vào 2 điểm "ổn
định chính trị" và "lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung
quốc". Theo tôi cả 2 vấn đề này đều sai, hoặc nhẹ hơn là
không đúng trọng tâm. Ổn định chính trị không phải là yếu
tố quyết định cho phát triển kinh tế ở TQ hay bất kỳ quốc
gia nào khác. Hãy nhìn sang Thailand, Philippines, Indonesia, hay thậm
chí những nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Úc. Ở những
quốc gia này "khủng hoảng chính trị" không phải là điều
hiếm thấy nhưng kinh tế vẫn phát triển. Ngược lại ai dám
nói dân Bắc Triều tiên đang chết đói vì ở đó không có
"ổn định chính trị"? Tôi nghĩ GS Huang, hoặc vô tình hoặc
cố ý, đánh đồng "ổn định chính trị" với "ổn định xã
hội", cái sau mới là yếu tố cần thiết cho phát triển kinh
tế.

Ổn định xã hội có thể đạt được bằng một thể chế
chính trị "bàn tay sắt" như Chile, Korea, Singapore trước đây hay
TQ hiện tại, bóp nghẹt mọi chống đối chính trị để nó
không gây ra bất ổn xã hội. Tuy nhiên nó không phải là cách
duy nhất, nhiều nước lựa chọn cách xây dựng những thể
chế chính trị/xã hội tolerable với các bất đồng chính trị,
ngăn không để các bất đồng này biến thành bạo động hoặc
nội chiến, đảm bảo các cuộc chuyển giao quyền lực diễn ra
trật tự. Tất nhiên cách thứ hai khó hơn và mất thời gian
hơn, tuy nhiên nó bền vững hơn và không phụ thuộc vào một
nhân vật lịch sử cụ thể như Pinoche hay Lý Quang Diệu. Ngay
bản thân GS Huang cũng thừa nhận dù TQ có ổn định chính
trị, đất nước này có nguy cơ đối mặt với một số bất
ổn xã hội và điều này sẽ ảnh hưởng đến phát triển
của TQ trong tương lai. Giải pháp căn cơ cho vấn đề này cuối
cùng vẫn phải là quay về cách thứ hai, nghĩa là xây dựng
một thể chế dân chủ, TQ đã chấp nhận điều này và câu
hỏi bây giờ không phải là if nữa mà là when.

Trong phần hỏi-đáp có một câu hỏi liên quan đến chủ nghĩa
dân tộc. GS Huang nói đúng là chủ nghĩa/tinh thần dân tộc ở
châu Á bắt nguồn từ sự nhục nhã, thất bại và tâm lý
muốn phục thù trước phương Tây. Không dấu diếm, GS Huang
chỉ ra việc Đảng Cộng sản Trung quốc đang phải dùng chủ
nghĩa dân tộc để "củng cố tính hợp pháp chính trị của
mình". Nếu vậy yếu tố "dưới sự lãnh đạo của ĐCSTQ" xem
ra không hẳn cần thiết cho "ổn định chính trị". Bất kỳ
một đảng phái nào nếu có tính hợp pháp (theo nghĩa có tinh
thần dân tộc), đều xứng đáng và có thể đứng ra đảm
đương trách nhiệm cầm lái được. Cứ cho là hoàn cảnh lịch
sử đặt ĐCSTQ vào vai trò lãnh đạo, câu nói của GS Huang
đúng ra phải là "ổn định xã hội dưới sự đồng thuận
về tinh thần dân tộc". Tinh thần dân tộc, chứ không phải
bất kỳ thứ chủ nghĩa nào khác, là chất keo gắn kết xã
hội TQ đồng lòng phát triển kinh tế.

Yếu tố thứ hai cho sự thành công của TQ theo GS Huang, cơ chế
kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa, là một
khái niệm khá "dũng cảm". Chưa cần viện dẫn các bằng
chứng/lập luận từ các nguồn khác, chỉ nhìn vào những gì GS
Huang nêu ra về các doanh nghiệp nhà nước, hệ thống ngân
hàng, ngành dịch vụ..., cũng có thể thấy vai trò của cái mà
ông gọi là "định hướng xã hội chủ nghĩa" khá mờ nhạt.
Theo GS Huang, "định hưỡng xã hội chủ nghĩa" đồng nghĩa với
nhà nước giữ lại các ngành kinh tế then chốt, các commanding
heights theo cách gọi của Lenin. Từ đó nhà nước có thể "can
thiệp" vào tiến trình phát triển kinh tế để lèo lái nó theo
một con đường tối ưu, trong hoàn cảnh của TQ là đảm bảo
tăng trưởng 2 chữ số.

Tôi không phải chuyên gia chính trị nhưng tôi hiểu tính từ
"socialist" không phải là "nhiều can thiệp nhà nước", đó chỉ
là một hệ quả phụ. Một hệ thống chính trị/xã hội có
tính socialist là một hệ thống hướng đến phúc lợi và sự
bình đẳng của mọi người dân thông qua vai trò của nhà
nước, trái với một hệ thống free market chấp nhận sự bất
bình đẳng xã hội. Xét trên quan điểm này hệ thống kinh tế
TQ trong những năm vừa qua thiên về phía free market hơn là
socialist. Hầu hết các doanh nghiệp quốc doanh của TQ đều
được cổ phần hóa hoặc chuyển đổi theo hướng thị
trường, cắt bỏ hầu hết các phúc lợi xã hội cho nhân viên.
Chênh lệch thu nhập trong xã hội ngày càng lớn trong khi các cơ
chế bảo hiểm xã hội hầu như chưa có. Cựu thủ tướng Chu
Dung Cơ là một lãnh đạo bị "căm hận nhiều nhất [sic]" bởi
vì ông đã phá bỏ nhiều yếu tố socialist trong nền kinh tế
TQ.

Nhưng chính việc chuyển dịch dần sang phía free market đã tạo
ra sự tăng trưởng thần kỳ của TQ. Nếu cứ coi can thiệp nhà
nước là "đinh hướng xã hội chủ nghĩa" như GS Huang nói, can
thiệp quan trọng nhất trong hơn 30 năm đổi mới của TQ là
để các doanh nghiệp quốc doanh vận hành theo cơ chế thị
trường. Ngay cả trong ví dụ chính phủ TQ cho các ngân hàng
quốc doanh "bán nợ xấu" cho Morgan Stanley, Goldman Sachs mà GS Huang
nhắc đến, bản chất vấn đề là write off bad assets, một
biện pháp cực kỳ pro-market mà ngay cả các nước "tư bản
đầu sỏ" cũng rất ngại khi phải áp dụng. GS Huang hoàn toàn
không đưa ra một ví dụ nào về việc chính phủ can thiệp vào
các commanding heights để thúc đẩy tăng trưởng. Xét về mặt
này, VN với những can thiệp chính phủ nhằm thúc đẩy tăng
trưởng ở những ngành mũi nhọn như đóng tàu trước đây hay
khai khoáng hiện nay còn có "đinh hướng xã hội chủ nghĩa" hơn
TQ nhiều (tất nhiên trên quan điểm của GS Huang coi định
hướng xã hội chủ nghĩa tương đương với can thiệp nhà
nước).

GS Huang có nhắc đến các cố gắng kiềm chế lạm phát và ổn
định tiền tệ, nhưng ông khá "ngắc ngứ" khi bị hỏi về dự
trữ ngoại hối. Một lần nữa những điều ông đề cập
đến chẳng ăn nhập gì với khái niệm "định hướng xã hội
chủ nghĩa" theo cả cách hiểu của ông lẫn cách của tôi. Ổn
định vĩ mô luôn là mục tiêu của mọi nền kinh tế dù theo
định hướng nào đi nữa. Yếu tố cuối cùng liên quan đến
thành công của TQ là môi trường bên ngoài hòa bình thịnh
vượng. GS Huang không nói gì thêm về điều này trong bài phát
biểu, có lẽ vì ông cho rằng không quan trọng và quá obvious.
Nếu tôi được đặt câu hỏi cho ông về vấn đề này, tôi
sẽ hỏi sự sụp đổ của khối XHCN ở Đông Âu và chiến
tranh lạnh chấm dứt có ảnh hưởng thế nào đến TQ và
đường lối phát triển của TQ. Cá nhân tôi cho rằng nếu
chiến tranh lạnh không chấm dứt, TQ vẫn phát triển vì xã
hội/nền kinh tế của nó đã đến tipping point. Điều kiện
bên ngoài có tác dụng hỗ trợ nhưng không phải quyết định
(khác với VN). Tôi cũng sẽ hỏi tại sao ông không đả động
đến vấn đề demography như là một thách thức lớn của TQ
trong 20-30 năm nữa. Ông có quá chủ quan khi không nghĩ rằng các
lãnh đạo hiện tại của TQ đang rời bỏ dần chiến lược
peaceful rise của Đặng Tiểu Bình, phải chăng đấy là backlash
của nationalism mà chính ĐSCTQ đang đề cao. Còn nhiều câu hỏi
nữa mà tôi nghĩ người VN ai cũng muốn làm rõ.

Khái niệm <a href="http://en.wikipedia.org/wiki/Beijing_Consensus">Beijing
Consensus</a> được Joshua Cooper Ramo, cựu biên tập của tạp chí
Time, đưa ra từ năm 2004. Khái niệm này không phổ biến lắm
và ít khi được giới học giả nhắc đến. Ý tưởng của Ramo
là một quốc gia (đang phát triển) thay vì chạy theo free market
như Washington Consensus kêu gọi thì có thể học tập TQ ở 3
điểm sau: (i) sẵn sàng thay đổi và chấp nhận "dò đá qua
sông" (lời khuyên của Đặng Tiểu Bình); (ii) hướng đến tăng
trưởng bền vững với một xã hội công bằng (ít nhất theo
nghĩa phân bổ thu nhập); (iii) tự chủ về mặt chính trị.
Bạn có thể thấy Beijing Consensus của Ramo khác hoàn toàn với
khái niệm mà GS Huang đưa ra trong bài nói chuyện ở VN. Tôi
nghĩ không phải ông không biết mà có thể ông đã được
đặt hàng trước về "định hướng xã hội chủ nghĩa".


<strong>Note 1:</strong> <em>Tôi không được phép "phát tán" bản
transcript, bởi vậy bạn nào cần đọc chịu khó search trên
mạng, tôi nghĩ không quá khó có thể tìm được một wikileaks
nào đó.</em>

<strong>Note 2:</strong> <em>Tôi disable phần comment trong entry này
để có thời gian tập trung viết tiếp M&B :-)</em>


<strong>Update (20/12):</strong> Một tàu cá của TQ "cố tình" <a
href="http://www.businessinsider.com/uh-oh-chinese-fishing-boat-intentionally-ram-south-korean-coast-guard-at-least-1-dead-2010-12">đâm
vào tàu biên phòng Korea</a>, kết quả tàu cá chìm và phía Korea
bắt giữ 8 thủy thủ TQ, một thủy thủ chết sau đó. Càng
ngày TQ càng tỏ ra hiếu chiến và từ bỏ chiến lược peaceful
rise của ĐTB. <a
href="http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2010/12/espite%20India%E2%80%99s%20refusal%20to%20kowtow%20over%20the%20dissident%20Mr%20Liu,%20for%20example,%20China%E2%80%99s%20p">The
Economist</a> cho biết Bộ trưởng Bộ Ngoại giao TQ Yang Jiechi
hiện không là thành viên của Bộ Chính trị, điều này cho
thấy các chính sách ngoại giao của TQ có thể đang thiếu
leadership.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/7344), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét