kỹ năng sống trong xã hội, còn ở cấp 3 thì học sinh được
chuẩn bị lao động theo tinh thần trường Trung học tổng hợp
(Comprehensive High School của Conant, 1959). Trong mỗi học khu ở
Thụy Điển có 16 chương trình Trung học cấp 3 chú trọng về
hướng nghiệp (career-centered programs of study). Những chương
trình này được dạy cùng trong một trường, mỗi thầy
thường chỉ làm việc trong một chương trình với quyền tự
trị đáng kể. Bộ Giáo dục Thụy Điển chỉ đưa ra các đề
cương tổng quát cho mỗi chương trình, cho phép thầy giáo và
học sinh bàn bạc cùng quyết định với nhau nên học cái gì.
Tất cả 5 môn học chính là tiếng Thụy Điển, tiếng Anh,
Toán, Khoa học xã hội, và Khoa học tự nhiên đều là 5 môn
bắt buộc trong mỗi chương trình. Nhưng những môn này lại
được học trong bối cảnh nghề nghiệp riêng của từng
chương trình. Có hai chương trình không tỏ ra hướng nghiệp rõ
như 14 chương trình kia mà nặng về chuẩn bị cho học sinh lên
Đại học hay Cao đẳng. Tuy nhiên, dù học ở 14 chương trình
hướng nghiệp kia thì học sinh vẫn hợp lệ và đủ trình độ
vào Đại học.
<center><img
src="http://files.chungta.com/Image.ashx/image=pjpeg/3df5b24318c34e86886b749a61e00b30-Hoc+sinh+Thuy+Dien+2.jpg/Hoc+sinh+Thuy+Dien+2.jpg"
alt="" /></center>
<center><em>Học sinh tiểu học trong một chương trình học ở
Thụy Điển. Nguồn: internet.</em></center>
Ở Thụy Điển, thường chỉ 1/3 học sinh tốt nghiệp Trung học
được chọn vào Đại học. Một số học sinh tham gia lực
lượng lao động ngay sau khi tốt nghiệp Trung học. Ngoài 16
chương trình chính quy ra, còn một chương trình thứ 17 là
chương trình dành cho các học sinh vì lý do này hay lý do khác
bị loại ra khỏi một trong 16 chương trình chính quy. Học sinh
học theo chương trình 17 là để bổ sung, củng cố kiến thức
để cuối cùng được quay trở về một trong 16 chương trình
chính quy. Trong 16 chương trình này, học sinh được rèn luyện
phong cách để chuẩn bị trở thành người lao động trong nền
kinh tế toàn cầu theo 4 chỉ tiêu: <em><strong>làm việc theo
nhóm</strong></em> (teamwork), <em><strong>rèn luyện kỹ năng kỹ
thuật thực dụng</strong></em> (pragmatic technical skills),
<em><strong>tập giải quyết vấn đề</strong></em> (problem solving),
và <em><strong>tinh thần dám nghĩ dám làm trong doanh
nghiệp</strong></em> (entrepreneuship). Các phong cách này được rèn
luyện thông qua việc từng nhóm học sinh thực hiện các đồ
án dưới sự hướng dẫn của thầy. Quá trình thực hiện đồ
án luôn kèm theo các phân tích có tính phê phán (critical
analysis). Mỗi cộng đồng dân cư đều có một hội đồng gồm
các nhà lãnh đạo địa phương trong các cơ quan chính phủ và
các doanh nghiệp thường kỳ tổ chức nói chuyện cho học sinh
nghe về các nhu cầu kinh tế của cộng đồng trong đó nêu rõ
các học sinh nên được chuẩn bị như thế nào để sẵn sàng
tham gia lực lượng lao động. Như các nhà giáo dục hướng
nghiệp, hội đồng này cho biết họ mong muốn những gì và họ
cảm nhận học sinh nay đang ở mức nào, đó chính là cách giáo
dục hướng nghiệp vững chắc cho học sinh. Các doanh nghiệp
địa phương thường hỗ trợ các phương tiện, thiết bị cho
việc thực hành của học sinh, và sắp xếp tạo công ăn việc
làm cho học sinh tốt nghiệp. Nên biết rằng ở Thụy Điển
mọi nhu cầu tài chính của nhà trường đều do sự đóng góp
bắt buộc của các cấp chính quyền.
Việc thiết lập và triển khai kế hoạch học tập của riêng
mình đòi hỏi học sinh phải sáng tạo và dám nghĩ dám làm.
Hơn nữa, có những buổi học cốt tập cho học sinh tinh thần
dấn thân trong doanh nghiệp học, như học sinh được cho vay
một số tiền để mở doanh nghiệp thực sự trong cộng đồng,
thường dưới dạng dịch vụ trực tuyến (online services). Học
sinh được vay tiền từ một ngân hàng địa phương dưới sự
bảo đảm của ban giám hiệu. Tiền vay phải được hoàn trả
cho ngân hàng trước khi học sinh tốt nghiệp. Thống kê cho
biết, rất hiếm khi các doanh nghiệp này làm mất tiền vay.
<h3>Tại sao mô hình học đường Thụy Điển này không thể áp
dụng đại trà cho hệ thống giáo dục công lập K-12 ở
Mỹ?</h3>
Mặc dù, những nhà giáo dục Mỹ biết rằng phương pháp giảng
dạy theo chủ thuyết xây dựng kiến thức tỏ ra ưu việt tại
Thụy Điển và chính học giả Mỹ John Dewey góp phần cổ xúy
cách đây gần một thế kỷ (1916), nhưng họ nhận ra rằng rất
khó có thể áp dụng đại trà vào hệ thống giáo dục công
lập K-12 của Mỹ vì những lý do sau đây:
1/ Nền dân chủ xã hội ở Thụy Điển không cho phép sự cách
biệt quá lớn về mức thu nhập kinh tế giữa các công dân.
Chính phủ Thụy Điển đã chủ tâm thực thi một hệ thống
kinh tế cho phép mọi công dân có quyền lợi đồng đều,
đồng thời cung cấp phụ phí làm việc (workfare) được xem như
hệ thống an sinh xã hội (welfare system) làm đồng đều lợi
ích cho tất cả người có việc làm, ngay cả chỉ làm bán
thời gian (Bjorklund & Freeman, 2005). Do đó, sự cách biệt về
mức sống của một người lao động bình thường với một
người có chuyên môn nghiệp vụ cao cấp như bác sĩ thì không
bao nhiêu, không phải "quá trời" như ở Mỹ.
Chính phủ Thụy Điển đã thành công trong việc loại bỏ
tương đối tốt về tình trạng nghèo đói trên phạm vi cả
nước, trong khi nghèo đói vẫn đang là một lực cản mà cải
cách giáo dục Mỹ không thể nào vượt qua ở mọi nơi được
(Anyon,1997; Giroux, 2003; Rothstein, 2002).
2/ Người Thụy Điển chấp nhận cải cách mà người Mỹ không
chấp nhận do sự khác biệt về chủ nghĩa cá nhân trong hai
nền văn hoá. Nền văn hoá Thụy Điển (cũng như cho các nước
Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch) tuy thiên về cá nhân hơn tập thể,
nhưng là chủ nghĩa cá nhân nằm ngang (horizontal individualism),
nghĩa là tuy mỗi người chịu trách nhiệm chính yếu về sự
phát triển của riêng mình, nhưng họ sẽ cảm thấy hổ thẹn
như có tội khi quá giàu hay đã làm những điều khiến cho
người khác trở nên nghèo, bởi vì trong thâm tâm họ e ngại
việc chấp nhận sự cách biệt quá lớn về tài sản giữa các
công dân trong xã hội. Trái lại, người Mỹ theo chủ nghĩa cá
nhân thẳng đứng (vertical individualism), nghĩa là ai có sức, có
tài thì cứ làm giàu, cứ lên cao còn mặc kệ thiên hạ nằm
bệp dí dưới chân. Cho nên, họ sẵn sàng chấp nhận sự cách
biệt lớn lao về tài sản, mà không muốn tạo ra hình thức an
sinh xã hội kiểu Thụy Điển.
Phong cách sống của người Thụy Điển là: "<em>Không một lá
cỏ nào có thể vượt cao hơn những lá cỏ khác, vì lá cỏ
ấy sẽ bị cắt trước tiên</em>" (Sandahl,1997). Do đó, người
Thụy Điển biết sống có tình người hơn, không có cái tâm
lấn lướt, chà đạp người khác để mình đi lên, hay vơ vét
hết về cho mình, mặc kệ thiên hạ đói khổ.
3/ Hiện nay, việc điều hành nhà trường trong hệ K-12 ở Mỹ
là theo sự chỉ đạo rất quan liêu từ trên xuống, các thầy
giáo phải, phải, phải làm như thế này, thế kia và học sinh
lại càng phải, phải, phải, để cuối cùng làm sao cho học
sinh đạt được ba chỉ tiêu: đúng giờ, biết vâng lời, và
làm được bài kiểm tra chuẩn của bang để nhà trường khỏi
phải bị khiển trách hay bị trừng phạt theo luật giáo dục No
Child Left Behind được ban hành trong thời Tổng thống Bush. Hệ
thống giáo dục K-12 của Mỹ đang có 49 tiêu chuẩn khác nhau
về chất lượng học tập tuỳ theo từng bang, chỉ trừ bang
Iowa không áp đặt tiêu chuẩn chung cho bang mình. Chính cơ cấu
quản lý nhà trường theo tinh thần quan liêu và phương pháp
giảng dạy có tính áp đặt khiến học sinh cảm thấy bị
buộc phải học để đối phó với thi kiểm tra, nên họ mất
hứng thú và mất tính tự giác trong việc học. Hệ quả là
nhà trường và thầy giáo bị mệt mỏi để duy trì ba chỉ
tiêu trên. Họ không còn hơi sức đâu để giảng dạy được
như Thụy Điển là rèn luyện cho học sinh các phẩm chất để
trở thành người lao động trong nền kinh tế hậu công nghiệp
và toàn cầu. Đó là người học sinh vui vẻ học tập trong tinh
thần tự giác để trở thành người học tập suốt đời, làm
được công việc đòi hỏi kiến thức (knowledge work), biết tự
điều chỉnh (self-regilated), tự định hướng (self-di-rected),
tương đối không bị giám sát vì biết chịu trách nhiệm về
các hành động của riêng mình (Delors,1998; Reich, 1991, 2002).
<h2>Còn Việt Nam thì sao?</h2>
Ở nước ta, cũng có những nhà giáo đầy tâm huyết, thấy
được cái lề lối giảng dạy truyền thống là thầy giảng,
trò chép về học những kiến thức "chết cứng" trong sách
với mục đích lặp lại cho được các kiến thức ấy trong
các bài thi để có bằng cấp là sai lầm. Người học trò
ngồi thụ động như cái thùng rỗng chờ thầy rót kiến thức
vào. Kiến thức ấy là xưa cũ, sáo mòn mà học trò cốt nhớ
để làm bài thi, rồi quên ngay vì là kiến thức áp đặt từ
bên ngoài chứ không phải do học trò tự thân chứng nghiệm. Do
đó, kiến thức ấy đã không hoà tan trong máu thịt học trò,
không giúp họ có thể có những phát kiến vượt qua kiến
thức, tạo ra cái mới, góp phần cải tiến xã hội hiện tại
và tương lai.
Trong truyền thống mấy nghìn năm văn hiến, dân tộc ta đã có
những giá trị đạo lý làm người như từ bi, hỷ xả; nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín; cần, kiệm, liêm, chính; chí công, vô tư;
công bằng, bác ái,... và phương hướng nhận thức thực tại
trong kinh sách nhà Phật vốn đã tiềm tàng trong văn hoá dân
tộc từ hai nghìn năm nay, thừa sức để chúng ta đúc kết
lại thành chuẩn mực văn hoá đạo lý sống như lagom của
Thụy Điển và một nền giáo dục phù hợp với tiến bộ khoa
học nhưng nhân bản, coi trọng giá trị đạo lý làm người,
biết học hỏi và giúp nhau cùng thăng tiến, chứ không phải
lợi dụng hay chà đạp người khác để thủ lợi cho riêng
mình. Tiếc rằng, chúng ta chưa làm được như vậy.
Ngày nay, đất nước ta đã hòa bình hơn một phần ba thế kỷ,
nền giáo dục đã được cải cách nhiều lần, nhưng vẫn còn
đó nhiều vấn đề. Cho nên hẳn là những người lãnh đạo
giáo dục ở mọi cấp tự biết rằng mình đang đảm trách
một nhiệm vụ rất nặng nhọc. Tôi nói là nặng nhọc, khó
khăn mà chưa vội nói là vinh quang như sáo ngữ mà nhiều
người thường tán tụng, bởi vinh quang chỉ có được sau khi
đã tạo ra công đức. Nhưng giá trị đạo lý làm người và
đường hướng giáo dục tốt đẹp vẫn tiềm tàng trong văn
hoá dân tộc, và kinh nghiệm sẵn có của các nền giáo dục
tiên tiến ở các nước. Nếu từ đó, những vị lãnh đạo
giáo dục rút ra được những bài học kinh nghiệm mà cải
tiến giáo dục sao cho nền giáo dục nước ta thoát khỏi các
căn bệnh trầm kha mà các vị đã biết từ lâu nay và hướng
tới nền giáo dục tiên tiến, thì dù quý vị có từ chối,
vòng nguyệt quế vinh quang vẫn cứ được choàng qua đầu quý
vị. Nhưng nếu quý vị không làm được như thế, mà còn làm
cho nền giáo dục tồi tệ hơn thì dù không có toà án nào
chính thức buộc tội quý vị, quý vị cũng phải tự biết
rằng mình có tội với nhân dân.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6846), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét