ở Việt Nam có những dấu hiệu "trục trặc kỹ thuật".
Bình thường khi dịch các bài liên quan đến khoa học chính
trị, tôi hay ghi chú: "Quan điểm của người dịch không nhất
thiết trùng quan điểm tác giả", hoặc "Quan điểm của tác
giả không nhất thiết phản ánh quan điểm của người
dịch". Tuy nhiên, với riêng bài Texting to Utopia dưới đây,
tại thời điểm dịch (năm 2009), tôi tán đồng với một số
luận điểm như: "không một nhà độc tài nào bị lật đổ
vì Thế giới Ảo", "Internet giúp chúng ta dễ dàng hơn trong
việc tìm kiếm và tham gia các nhóm mà chúng ta vốn đã ủng
hộ từ trước; đến lượt nó, việc này có thể khiến các
quan điểm của chúng ta thậm chí còn cực đoan hơn".
Mặc dù vậy, tôi cũng đã ngay lập tức dựa vào đây để
viết một bài "lách đủ đường" để bảo vệ Facebook.
Điều tôi muốn hướng đến khi dịch Texting to Utopia cũng như
khi viết bài ăn theo nó (cuối năm 2009), thực chất là làm sao
để "ai đó" hoặc "nhiều ai đó" thấy rằng Internet chỉ
là thế giới ảo, không gây nguy hiểm gì đối với chính
quyền và do vậy, chẳng nên quá sợ và ghét nó. Việc gì phải
kiểm soát Internet nhỉ, khi mà chỉ 24 triệu trên tổng số 86
triệu dân Việt Nam có thể tiếp cận Internet, và trong số 24
triệu người dùng đó thì đã có tới 50% là game thủ. Số
người sở hữu blog, theo một thống kê mà tôi không nhớ
nguồn, chỉ khoảng 500.000. Người viết blog chính trị còn ít
nữa. Người đọc, hiểu và ủng hộ blog chính trị lại càng
ít nữa nữa.
Tuy nhiên, từ bấy đến nay, "âm mưu" của tất cả những
người tìm cách thuyết phục "ai đó" rằng "Internet vô
hại, hãy để nó tự do", rõ ràng là không thành công. Thậm
chí viết blog đang trở thành nguy hiểm. Thực tế này chứng
tỏ rằng bất luận ảnh hưởng của Internet là sâu hay nông,
rộng hay hẹp, "nhiều ai đó" vẫn muốn kiểm soát Internet
thật chặt, nói nôm na theo văn phong của người trẻ Việt Nam
bây giờ là để "cho nó lành".</div>
__________
<h2>Lướt mạng tới cõi không tưởng</h2>
<em>Internet có khiến dân chủ trở thành phổ biến không? Bài
viết nhan đề "Texting to Utopia" của Evegeny Morozov trên Boston
Review. Đoan Trang biên dịch.</em>
Năm 1989, Ronald Reagan tuyên bố: "<em>Tên Goliah toàn trị sẽ
bị chàng David microchip hạ bệ</em>"; sau đó, Bill Clinton so
sánh việc kiểm duyệt Internet cũng như chuyện "<em>cố gắng
đóng đinh thạch Jell-O lên tường</em>"; và vào năm 1999, George
W. Bush (không phải John Lennon) đề nghị chúng ta "<em>hãy
tưởng tượng nếu Internet chiếm lĩnh Trung Quốc. Hãy tưởng
tượng tự do sẽ lan truyền như thế nào</em>".
Tinh thần lạc-quan-mạng như thế cho thấy hình thức mới của
một quyết định luận công nghệ, theo đó Internet sẽ là cây
búa đóng chiếc đinh vào tất cả các vấn đề toàn cầu, từ
phát triển kinh tế ở châu Phi cho tới nguy cơ khủng bố xuyên
quốc gia ở Trung Đông. Thậm chí khôn ngoan như nhà tài phiệt
Rupert Murdoch mà còn phải chịu thua sức quyến rũ của kỹ
thuật số: "<em>Những tiến bộ trong công nghệ viễn thông
đã chứng tỏ mình như một mối đe dọa mơ hồ đối với
chế độ toàn trị ở mọi nơi</em>", ông tuyên bố. Chẳng bao
lâu sau, Murdoch phải cúi đầu trước chính quyền Trung Quốc,
những người đã đe dọa hoạt động kinh doanh tivi vệ tinh
của ông ta trong khu vực để trả đũa cho tuyên bố giật gân
này.
Một số nhà phân tích không vội theo đóm ăn tàn. Giọng điệu
kiềm chế của một báo cáo năm 2003 thể hiện sự mâu thuẫn
với niềm lạc quan mạng hiện nay. Bản báo cáo, của Carnegie
thực hiện cho tổ chức International Peace, có tên là Mạng mở,
chế độ đóng: Ảnh hưởng của Internet lên nền cai trị độc
tài, cảnh báo: "<em>Thay vì gióng lên hồi chuông báo tử cho
chế độ độc tài, sự khuếch tán ra toàn cầu của mạng
Internet đưa đến cả cơ hội lẫn thách thức cho các chế độ
độc tài</em>". Khảo sát một loạt chế độ khác nhau từ
Singapore tới Cuba, báo cáo kết luận rằng ảnh hưởng chính
trị của Internet sẽ dao động tùy tình hình kinh tế và xã
hội của mỗi đất nước, văn hóa chính trị của nó, và
đặc thù của hạ tầng Internet quốc gia.
Báo cáo của Carnegie ra đời vào thuở hỗn mang của Youtube,
Facebook và Myspace, nên dễ dàng quan sát được việc giảm chi
phí nhanh chóng của hoạt động tự xuất bản, tự tổ chức
điều phối, tương tác và hợp tác trên mạng, từ mạng chính
trị cho tới Wikipedia. Vẫn còn khó để phỏng đoán tác động
về mặt chính trị của Internet và công nghệ di dộng tại các
khu vực nghèo nhất thế giới, nơi chúng hiện cung cấp một cơ
sở hạ tầng ngân hàng vô cùng cần thiết (ví dụ, bằng cách
sử dụng tín dụng trên điện thoại di động như là tiền
tệ), tạo ra các thị trường mới, mang lại những cơ hội
giáo dục mới, giúp phổ biến thông tin về phòng chống và
chữa trị bệnh tật. Và vẫn còn hy vọng rằng thành quả của
tốc độ phát triển kinh tế cao hơn, sinh ra từ công nghệ
thông tin hiện đại, cũng có thể có ích cho dân chủ.
Do đó, chúng ta sẽ bị niềm lạc quan mạng trước đây cám
dỗ. Lần theo dấu những thành công của nhiều sáng kiến dân
chủ và chính trị trên toàn cầu, sẽ đi đến sự ra đời
của Web 2.0, và chúng ta loại bỏ ngay mối lo ngại trong bản
báo cáo của Carnegie.
Phải chăng những thay đổi trên mạng trong vòng 6 năm qua –
đặc biệt là sự trỗi dậy của mạng xã hội, blog, chia sẻ
hình ảnh – thể hiện sự đơm hoa của tiềm năng dân chủ
hóa mà Internet có? Dường như luận thuyết này giải thích
động cơ đằng sau việc kiểm duyệt Internet hiện nay: các site
có nội dung do chính người dùng tạo ra – Facebook, YouTube,
Blogger – đặc biệt không được các chế độ độc tài ưa
thích. Một số cuốn sách bình dân và hàn lâm về chủ đề
này chỉ thiếu nước chỉ ra một cuộc cách mạng cả trong
chính trị và thông tin (ví dụ, hãy đọc cuốn The Blogging
Revolution (tạm dịch: Cách mạng Blogging) của Antony Lowenstein, hay
cuốn The Information Revolution and World Politics (Cuộc Cách mạng
Thông tin và Chính trị Thế giới) của Elizabeth Hanson, cả hai
đều mới xuất bản năm ngoái). Cuối cùng thì, niềm lạc quan
mạng có đúng đắn không? Internet có phổ biến dân chủ không?
Câu trả lời cho câu hỏi này phụ thuộc đáng kể vào cách
chúng ta đo mức độ "tự do" như thế nào. Một cách an
toàn, có thể nói rằng Internet đã thay đổi đáng kể dòng
thông tin vào và ra khỏi các nước dưới chế độ độc tài.
Trong khi kiểm duyệt Internet vẫn còn là một vấn đề nhức
nhối và thật không may là phổ biến hơn hồi năm 2003, thì
cũng khó mà bỏ qua sự phát triển của nội dung số - những
nội dung mà đột nhiên hàng triệu người Trung Quốc, Iran hay Ai
Cập đã có thể tiếp cận. Nếu tốc độ và sự thoải mái
của việc xuất bản trên mạng Internet có làm cho nhiều tác
phẩm lậu bị cấm trước kia thành lỗi thời; thế hệ những
người bất đồng chính kiến đang nổi lên này cũng có thể
sử dụng Facebook và YouTube làm trụ sở giao dịch, còn iTunes và
Wikipedia làm phòng học của họ.
Trên thực tế, nhiều nhà bất đồng như thế đã tận dụng
đáng kể web. Ở Ukraine, những nhà hoạt động trẻ tuổi dựa
vào các công nghệ truyền thông mới để huy động người ủng
hộ trong suốt cuộc Cách mạng Cam. Những người phản đối ở
Colombia sử dụng Facebook để tổ chức các cuộc tuần hành
khổng lồ chống lực lượng du kích cánh hữu FARC. Những bức
ảnh gây sốc và có giá trị mạnh mẽ xuất phát từ Myanmar
suốt trong các cuộc đấu tranh phản đối chính phủ năm 2007
– nhiều bức trong đó là do các blogger bản địa chụp bằng
điện thoại di động – đã nhanh chóng được lưu hành khắp
thế giới. Các nhà hoạt động dân chủ ở đất nước Zimbabwe
của Robert Mugabe sử dụng web để tra lại gian lận phiếu trong
bầu cử hồi năm ngoái, và dùng điện thoại di động để
chụp hình các bản kết quả bầu cử có lúc được bày tạm
ra ngoài thùng phiếu (sau đó chúng sẽ là bằng chứng hữu ích
của sự bất tuân luật). Rất nhiều ví dụ khác – từ Iran,
Ai Cập, Nga, Belarus, và nhất là Trung Quốc – chứng minh tầm
quan trọng ngày càng tăng của công nghệ trong việc hỗ trợ
những người bất đồng.
<strong>Sự thay đổi chế độ nhờ tin nhắn có thể khả thi
trong không gian mạng, nhưng không một nhà độc tài nào bị
lật đổ vì Thế giới Ảo cả.</strong>
Nhưng rút ra kết luận về bản chất dân chủ hóa của Internet
vẫn là quá sớm. Khó khăn lớn nhất trong việc tìm hiểu mối
quan hệ giữa dân chủ và Internet – bên cạnh việc triển khai
các biện pháp cải thiện dân chủ - là phân biệt giữa nguyên
nhân và kết quả. Việc đó luôn luôn khó, và đặc biệt khó
trong trường hợp này, bởi vì lời hứa hẹn hoành tráng của
quyết định luận công nghệ - niềm tin lý tưởng vào sức
mạnh thay đổi của Internet – đã làm mờ mắt ngay cả những
nhà phân tích tỉnh táo nhất. Hãy xem xét những lập luận quy
thắng lợi bầu cử của Barack Obama, một phần, cho khả năng
đội ngũ của ông nắm được cơ sở dữ liệu, gây quỹ trên
mạng, và sử dụng được mạng xã hội. Việc Obama tận dụng
phương tiện truyền thông mới sắp là chủ đề của nhiều
bài báo và cuốn sách. Nhưng tuyên bố sự vượt trội của
công nghệ so với chính trị tức là đã đánh giá thấp sức
thu hút sâu rộng của Obama đối với quần chúng, đánh giá
thấp những gì còn lại sau một chính quyền Bush bị chán ghét
tới mức đáng kinh ngạc, hậu quả phân rã của cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu, và cơ hội của John McCain có được
Sarah Palin như một người bạn đồng hành. Mặc dù đội ngũ
của Obama rất thành thạo mạng, nhưng không thể công nhận
tính đúng đắn của lập luận nói rằng mạng đã mang lại
chiến thắng cho Obama.
Tuy nhiên, dường như chúng ta sẵn sàng trỏ đến quyết định
luận công nghệ trong bối cảnh quốc tế. Ví dụ, những cuộc
thảo luận về Cách mạng Cam đã gán một vai trò đặc biệt
quan trọng cho các tin nhắn trên điện thoại di động. Sau đây
là một đoạn trong bài nghiên cứu vào năm 2007, <em>The Role of
Digital Network Technologies in the Ukrainian Orange Revolution</em> (Vai
trò của công nghệ mạng số trong cuộc Cách mạng Cam ở
Ukraine), do Trung tâm Berkman về Internet và Xã hội thuộc ĐH
Harvard, mô tả ảnh hưởng của các thông điệp bằng chữ
(text), hay tin nhắn sms:
<div class="special_quote">Đến tháng 9/2004, Pora (phong trào thanh
niên của phe đối lập) đã tạo ra hàng loạt mạng lưới
chính trị ổn định trên khắp đất nước, gồm 150 nhóm mobile
chịu trách nhiệm phát tán thông tin và phối hợp việc giám
sát bầu cử, với 72 trung tâm khu vực và hơn 30.000 thành viên
có đăng ký. Điện thoại di động đóng một vai trò quan trọng
trong nhóm các nhà hoạt động bằng mobile này. Báo cáo sau bầu
cử của Pora tuyên bố, "một hệ thống phát tán thông tin
tức thời thông qua sms đã được triển khai và chứng tỏ tầm
quan trọng".</div>
Sự huy động đó có lẽ quả thật đã rất quan trọng ở
những nỗ lực vào phút chót. Nhưng nó dẫn người ta đến
một ngụ ý sai lầm, như một số nghiên cứu gần đây của
đội ngũ nhân sự thuộc Trung tâm Berkman đã chỉ ra, rằng Cách
mạng Cam là sản phẩm của một "<em>đám đông thông
minh</em>" – thuật ngữ do nhà phê bình Howard Rheingold đưa ra
để mô tả những tổ chức xã hội tự thiết kế và đang
nổi lên, được hỗ trợ bởi công nghệ. Chỉ tập trung vào
công nghệ tức là đã che khuất đi những nỗ lực trắng trợn
làm giả kết quả bầu cử tổng thống, vốn là cái kích
động những cuộc phản đối; là quên đi hai tuần mà những
người phản đối đã đứng dưới tiết trời tháng 11 giá
lạnh; hay hàng triệu đôla được bơm vào cho các lực lượng
dân chủ Ukraine để những cuộc biểu tình đó được nổ ra.
Thay đổi chế độ bằng tin nhắn - nghe có vẻ khả thi trên
mạng, nhưng không nhà độc tài nào bị lật đổ vì Thế giới
Ảo, và cũng không có cuộc bầu cử thật nào thu được chiến
thắng trên đó; nếu không, Ron Paul đã là Tổng thống rồi.
Chắc chắn là công nghệ có một vai trò trong các sự nghiệp
của toàn cầu. Bên cạnh việc là công cụ truyền thông trực
tiếp và giúp con người hợp tác, sự sinh sôi của dữ liệu
không gian và hình ảnh vệ tinh vừa rẻ vừa dễ tiếp cận,
cùng với sự ra đời những trình duyệt thân thiện với
người sử dụng như Google Earth, đã biến đổi về căn bản
công việc của các NGO chuyên biệt; giúp hình thành rất nhiều
NGO mới; và cho phép, chẳng hạn, việc truy sát trên thực tế
(không phải trên mạng) đối với hành động tàn phá rừng,
khai thác gỗ trái phép. Thậm chí các cộng đồng thổ dân
trước đây vốn đóng chặt cánh cửa trước đổi mới công
nghệ, nay cũng đã tận dụng được những công cụ trực
tuyến này.
Quan trọng hơn, sự thay đổi kiến tạo về tính kinh tế trong
hoạt động đã cho phép số lượng lớn các nhà hoạt động
cá nhân (một số làm part-time hoặc thậm chí làm việc tự do)
tham gia vào những nỗ lực chung to lớn. Như Clay Shirky lập
luận trong cuốn <em>Here Comes Everybody: Organizing without
Organization</em> (Mọi người đã đến: tổ chức lại mà không
thành tổ chức), thế hệ các nhà bất đồng mới đang ngày
càng hoạt động một cách thời vụ hơn, đồng thời hơn, và
tức thời hơn (một sự bóng gió khác ám chỉ khái niệm
"đám đông thông minh" của Rheingold). Công nghệ cho phép các
tổ chức tận dụng từng mức độ tham gia khác nhau của từng
nhà hoạt động khác nhau. Thao tác được tới từng dấu chấm,
dấu phẩy trên Wikipedia, cuối cùng thì việc tổng hợp sức
mạnh của cả các nhà bất đồng, dù họ tham gia chủ động
hay bị động, đã trở thành khả thi. Ngày nay, ngay cả một
email được chuyển tiếp (forward) đi cũng có tác dụng. Cách
hoạt động "nano" như vậy rất có ý nghĩa tập hợp mọi
người.
Vì vậy, Internet đang làm cho hoạt động của các nhóm và cá
nhân được rẻ hơn, nhanh hơn, gọn gàng hơn. Tuy nhiên, hậu
cần (logistics) lại không phải là yếu tố duy nhất quyết
định sự tham gia của các công dân. Internet có ảnh hưởng gì
tới những động cơ xui khiến chúng ta hành động? Câu hỏi
này đặc biệt quan trọng ở các nước độc tài, nơi bầu cử
và cơ hội để có hành động đồng thời và tổng lực là
rất hiếm. Câu trả lời phụ thuộc một phần rất lớn vào
việc liệu Internet có nuôi dưỡng được sự háo hức hành
động sau khi tiếp nhận những thông tin mới đó không? Internet
hâm nóng thêm hay làm nguội đi tâm trạng háo hức này - đây
là vấn đề quan trọng cốt yếu và hiện chưa xác quyết
được.
<strong>Internet giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm và
tham gia các nhóm mà chúng ta vốn đã ủng hộ từ trước; đến
lượt nó, việc này có thể khiến các quan điểm của chúng ta
thậm chí còn cực đoan hơn.</strong>
Một số người lập luận rằng việc công dân được tiếp
xúc với các tài liệu công cộng vạch trần tham nhũng và gian
dối (hồ sơ SEC, chuyện hoàn thuế cho các quan chức trúng cử,
tiết lộ về đóng góp cho các chiến dịch lớn, v.v.) sẽ thúc
giục họ hành động. Phát biểu chủ yếu kêu gọi tính minh
bạch cao độ như vậy đến từ những nhà tiên phong về công
nghệ, như Carl Malamud – người sáng lập trang web
public.resource.org ở Mỹ, và Tom Steinberg với trang mySociety ở
Anh. Logic tương tự - rằng dữ liệu mở giúp vạch trần sự
lạm dụng quyền lực hoặc, như thẩm phán Brandeis có nói,
rằng "ánh sáng mặt trời là thứ thuốc tẩy tốt nhất" –
đã dẫn dắt hoạt động của tổ chức Sunlight (Ánh sáng Mặt
trời) ở Mỹ và nhiều tổ chức nhỏ hơn ở các nơi khác, như
Mzalendo – một trang web và cơ sở dữ liệu bầu cử theo dõi
các bộ trưởng trong Nghị viện Kenya, và FairPlay Alliance (Liên
minh Chơi đẹp) - một site tương tự ở Slovakia.
Cũng còn những site như Wikileaks, nơi lữu trữ tất cả các dữ
liệu gây tranh cãi, từ một danh sách website bị Chính phủ Thái
Lan kiểm duyệt, tới bản copy cuốn Human Terrain Team Handbook của
quân đội Mỹ. Một khi những tài liệu như vậy bị rò rỉ,
những site này dám chắc rằng, mở hồ sơ cho công luận xem thì
có tác dụng hơn là để chúng rơi vào tay ai đó có cơ hội
(Wikileaks dường như cũng có sức mạnh chết người: CEO của
Julius Baer - một ngân hàng Thụy Sĩ bị ám chỉ có dính líu
đến tham nhũng, nhờ những tài liệu trên Wikileaks chỉ ra -
gần đây đã chết vì một nguyên nhân bí ẩn, nhiều khả năng
là do tự sát). Giả thuyết nói rằng việc cung cấp quyền
tiếp cận thông tin và nuôi dưỡng sự minh bạch có thể thúc
đẩy dân chủ hóa đã làm hoạt động của họ thêm cơ sở
vững chắc. Sau đây là những gì Wikileaks mô tả sứ mệnh của
mình:
<div class="special_quote">Tất cả các chính phủ đều có thể thu
lợi từ việc nghiên cứu ngày càng sâu về cộng đồng thế
giới cũng như về chính nhân dân của họ. Chúng tôi tin quá
trình nghiên cứu này đòi hỏi thông tin. Từ lâu thông tin đã
rất đắt – xét về những nhân mạng và nhân quyền chúng ta
phải trả vì nó. Nhưng với tiến bộ công nghệ - Internet ,
[sic], và khoa học mật mã – rủi ro của việc truyền tải các
thông tin quan trọng đã có thể giảm đi.</div>
Chỉ riêng sự kiên nhẫn của các nhà tổ chức ra Wikileaks đã
đáng được người ta vỗ tay hoan nghênh (họ tuyên bố đã
nhận được hơn 1,2 triệu hồ sơ từ những người bất đồng
chính kiến và các nguồn ẩn danh). Tuy nhiên, thành công của
những chiến dịch như vậy – cả ở những nhà nước dân
chủ lẫn nhà nước độc tài – có lẽ còn hạn chế. Sự
tồn tại của các tài liệu, hồ sơ cũng không đảm bảo mang
lại một kết quả cụ thể. Như tiểu thuyết saga của Madoff
đã tiết lộ, thậm chí tài liệu công khai cho công chúng về
vụ SEC cũng tiết lộ được ít thông tin hơn chúng ta tưởng.
Và tìm hiểu 1,2 triệu tài liệu tải lên Wikileaks sẽ mất
thời gian, nỗ lực, và đòi hỏi một sự phối hợp tổng lực
của các nhà báo, phóng viên điều tra.
Misha Glenny lập luận trong cuốn sách rất hay mới đây của
ông, McMafia, tội ác thời hiện đại đã toàn cầu hóa, trở
nên phức tạp và khó có thể được ghi chép lại và lưu trữ
trong biên giới một quốc gia, xác định người đồng chủ mưu
có thể là việc bất khả thi. Ví dụ, thật khó mà tưởng
tượng rằng chính quyền Sudan lại vẫn còn lưu giữ vô tận
những hồ sơ về hoạt động mua bán vũ khí bất hợp pháp
của họ. Nhưng ngay cả khi họ có làm như vậy – và những
tài liệu này đột nhiên được công khai hóa – cơ hội để
chúng làm bùng lên những cuộc phản đối dữ dội là bao
nhiêu? Căn cứ vào tình hình xuất bản yên ổn những bằng
chứng còn gai góc hơn thế nhiều, trong đó có cả chuyện nhân
chứng trông thấy tận mắt những chiếc tàu không giống thông
lệ đang chở vũ khí thật, có thể nói ít có khả năng những
phong trào phản đối kịch liệt sẽ nổ ra. Lý do không mấy
liên quan tới Twitter và Facebook, mà phần nhiều từ một thực
tế là mọi người có thể có rất nhiều thông tin và rất ít
quyền lực để hành động dựa trên thông tin đó.
Một số người khác cho rằng Internet đặt những công dân bị
tẩy não dưới một chính quyền độc tài vào trước những
quan điểm đối lập về chính phủ của họ. Điều này giúp
họ phát triển một thế giới quan khác và, một cách tiềm
tàng, nảy sinh cảm hứng cho những thay đổi mang tính dân chủ.
Điều này là khả thi, mặc dù có lẽ khó mà tìm được một
nước – lấy ví dụ, có lẽ như Bắc Hàn hay Turmenistan – nơi
các công dân chưa từng nghe nói tại sao chính phủ của họ
lại tồi tệ: Xét cho cùng, đó là những gì các ông già thảo
luận với nhau ở quán rượu. Chúng ta cũng không thể giả
định rằng con người sẽ đi tìm kiếm những thông tin họ
không tán đồng hay đơn giản là chưa từng nghe nói tới.
Hơn nữa, dựa vào Internet để thực hiện chức năng này chịu
rủi ro của cái mà Cass Sunstein (gần đây được chỉ định
làm người đứng đầu Văn phòng Thông tin và Sự vụ Thông
thường của Nhà Trắng) gọi là "chủ nghĩa cực đoan cô
lập". Internet giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm
và tham gia những nhóm mà chúng ta vốn đã sẵn ủng hộ, điều
này đến lượt nó có thể khiến các quan điểm của chúng ta
thậm chí còn cực đoan hơn. Theo Sunstein, tránh vấn đề này
trong kỷ nguyên tiền-Internet dễ hơn bây giờ, vì trang nhất
tờ báo quốc gia lớn nhất cũng cung cấp đủ kinh nghiệm tổng
hợp được chia sẻ cũng như một liều lượng hợp lý các
phát hiện mới, đặt chúng ta trước những quan điểm và tin
tức mà chúng ta có thể chưa từng tiếp cận. Mô hình "trang
nhất" của Sunstein, tất nhiên, không vận hành tốt ở những
xã hội mà truyền thông bị kiểm soát. Sẽ là không trung thực
khi so sánh blog và các cộng đồng online với trang nhất của
tờ báo quốc gia lớn ở một nước, ví dụ Uzebekistan, nơi các
dòng chữ có lẽ do chính phủ viết ra thay vì do các biên tập
viên được tự do viết. Không có nhiều phát hiện mới ở
đó; trên thực tế, sẽ tốt hơn nếu một người đọc một
loạt blog độc lập. Do đó, có thể là Internet – mà đặc
biệt là blog – quả thật đóng vai trò quan trọng trong việc
tạo ra một cộng đồng dân chủ hơn ở các nước độc tài.
Điều này là một bước tiến rất có ý nghĩa (của Internet) so
với các phương tiện truyền thông do Nhà nước kiểm soát.
Một số bằng chứng trước đây nói rằng tình trạng này
đúng ở ít nhất một vài nước. Nghiên cứu của John Kelly
thuộc ĐH Colombia khẳng định rằng các blog của người Iran
rất đa dạng, thể hiện cả tiếng nói bảo thủ lẫn tự do,
với một loạt các lực lượng khác, hỗn hợp, ở giữa. Không
có phe nào tuyệt đối thắng thế trong số họ.
Giá trị mà người đọc đặt vào các blog nằm ở quan niệm
cho rằng tác giả của blog là "độc lập", thoát ly khỏi
những sự nhồi sọ của nhà nước hay của các lực lượng
thứ ba. Thế thì họ độc lập tới mức nào? Sai lầm lớn
nhất về quan niệm của những nhà không tưởng trên mạng, là
coi không gian mạng như một khu vực vô chính phủ, nơi chính
quyền không dám bước chân vào trừ phi để đóng cửa ráo
cả. Những báo cáo truyền thông khuyến khích quan điểm coi các
chính phủ độc tài như những nhà kiểm duyệt Internet có ác
cảm với công nghệ hoặc sợ công nghệ.
Tại sao lại giả định rằng người sử dụng Internet ở Trung
Quốc sẽ đột nhiên đòi hỏi thêm nhiều quyền lợi chính
trị, thay vì thích lối sống trong những bộ phim truyền hình
Friends, Sex in the City mà họ xem trên Internet?
Mà tại sao chính quyền lại không theo đuổi một chiến lược
hai mũi nhọn - vừa hạn chế đường vào những trang web ít
được ưa thích vừa sử dụng Internet để điều khiển ý
kiến dư luận? Điều này chính xác là cách các chính phủ
độc tài xử lý những mối đe dọa về truyền thông trong quá
khứ. Chính phủ Xô Viết không cấm phát thanh; họ phá sóng
một số kênh phương Tây nhất định, đàn áp một vài đài
bất đồng phát sóng từ nhà riêng, và tận dụng phương tiện
truyền thông để yểm trợ cho ý thức hệ của mình. Chính
quyền quốc xã cũng có cách xử lý tương tự đối với điện
ảnh, cái mà lúc đó là công cụ tuyên truyền được ưa thích
ở Đế chế thứ Ba.
Một khối lượng bằng chứng ngày càng lớn từ Trung Quốc và
Nga – hai nước tích cực nhất trong việc sản xuất nội dung
web – cho thấy mô hình này đang được tiếp tục cả trên
Internet. Chính quyền Trung Quốc nổi tiếng về chuyện tạo ra
và điều hành cái gọi là Đảng 50 Xu – một đội những tay
bình luận trên mạng (commentator) thân chính phủ, sẽ lướt web
mò những cuộc thảo luận chính trị hấp dẫn và để lại
các comment khuyết danh trên blog và forum. Tương tự, chính quyền
Nga thường dựa vào các công ty Internet tư nhân, như công ty
hàng đầu New Media Stars (Những ngôi sao truyền thông mới), nơi
rất sung sướng được đưa các quan điểm của chính phủ lên
mạng. New Media Stars mới đây sản xuất một bộ phim yêu
nước, Chiến tranh 08.08.08, phát hành thành công trên mạng và
được chào mời trên nhiều blog tiếng Nga, đổ hoàn toàn tội
gây chiến tranh ở Nam Ossetia cho Gruzia. Trong khi không gian công
cộng trên mạng có thể ngày càng dân chủ hơn (ít nhất về
số lượng), thì mặt khác nó cũng bị ô nhiễm nặng nề bởi
các nhà điều hành trong chính phủ, khiến không thể phân biệt
nổi giữa không gian công cộng thời số hóa với không gian
công cộng thời analog – cũ kỹ và bị kiểm soát chặt.
Ngay cả khi chính quyền bất tài, bất lực, hoặc không sẵn
sàng trải nhựa đường lên không gian web với những thông tin
"chính thức", cũng có ít bằng chứng cho thấy một không
gian Internet mở sẽ đột ngột tạo nên giấc mơ dân chủ cho
người Trung Quốc hay người Nga. Chúng ta đã từng gặp chuyện
như vậy trước kia: Những người Đông Đức không bắt được
sóng của phía Tây Đức chống đối chính phủ cao hơn những
người có thể. Ý kiến cho rằng được tháo cũi mở xiềng
để truy cập vào Internet sẽ mang lại dân chủ bộc lộ một
trong những sai lầm lớn nhất của những nhà không tưởng trên
không gian mạng. Một khi người sử dụng Internet được lên
mạng mà không bị giám sát, chúng ta có thể mong đợi họ -
rất nhiều trong số này là thanh niên - đổ xô vào download báo
cáo mới nhất của tổ chức Ân xá Quốc tế, hay đọc về
Pháp Luân Công trên Wikipedia chăng? Hay là họ sẽ lựa chọn The
Soprano, hoặc bộ phim James Bond mới nhất? Tại sao lại giả
định họ sẽ đột nhiên đòi hỏi nhiều quyền lợi chính
trị hơn là các phim truyền hình Friends hay Sex in the City mà họ
xem trên Internet?
Do đó, vấn đề liệu Internet có hướng người Trung Quốc hay
Nga tới việc đòi hỏi một xã hội dân chủ và tự do hơn quy
về việc liệu con đường nào – hướng ngoại hay hướng nội
– sẽ là con đường mà giới trẻ sẽ chọn đi theo? Có thể
dự đoán là, nhiều nhân vật không tưởng trên mạng nuôi
dưỡng một niềm tin ăn sâu bén rễ vào việc sự hiểu biết
về thế giới sẽ đi liền với Internet. Họ tưởng tượng
rằng "những người bản địa số hóa" – tức những
người đã lớn lên giữa thời công nghệ và Internet – sẽ
chọn con đường hướng ngoại và trở thành người đi tiền
trạm cho nền dân chủ, lối sống Mỹ. Logic này thẩm thấu vào
gần như tất cả các cơ quan lớn có nhiệm vụ thúc đẩy dân
chủ ở nước ngoài, như Bộ Ngoại giao Mỹ, nơi mà Phó Ngoại
trưởng Ngoại giao Công và Ngoại vụ thời Condoleezza Rice, James
Glassman, từng nói: "<em>Chúng tôi cảm thấy rằng trên khắp
thế giới, những người trẻ tuổi đang sử dụng Internet để
đẩy lùi bạo lực theo một cách mới, sử dụng mạng xã hội,
tham gia những nhóm lớn để có đối thoại, về căn bản, để
chia sẻ thông tin</em>".
Những đánh giá nhiệt tình như vậy cũng làm sản sinh ra những
tác phẩm văn chương bình dân hoặc bác học, với số lượng
tăng lên nhanh chóng, về các công dân số ở Mỹ và Tây Âu.
Các sách như Born Digital (Sinh ra số hóa) của John Palfrey và Urs
Gasser, Grown up Digital (Lớn lên số hóa) của Don Tapscott, iBrain
(Não điện tử) của Gary Small và Gigi Vorgan, và The Pirate's
Dilemma (Tình thế lưỡng nan của tên cướp biển) của Matt
Mason, cũng như một nghiên cứu kéo dài ba năm gần đây về
giới trẻ thời số hóa của tổ chức MacArthur, đã ra mắt.
Trong những xã hội đã dân chủ, lòng lạc quan về ảnh hưởng
của Internet đối với việc thu hút sự tham gia của những công
dân trẻ tuổi – thậm chí khái niệm "công dân số" – là
một suy nghĩ có lý do xác đáng, nếu không có gì đặc biệt
mới mẻ.
Tuy nhiên, ở bên ngoài những nước thịnh vượng và dân chủ
ở Bắc Mỹ và Tây Âu, những người bản địa số hóa cũng
có khả năng trở thành những người tù số hóa hay những
người sống ngoài vòng pháp luật số hóa, một đề tài mà
không một nghiên cứu nào gần đây đi sâu làm rõ. Nếu quan
niệm rằng Internet có thể làm nguội cảm hứng dân chủ của
thanh niên dường như có vẻ phản trực giác, đó chỉ là vì
các phương tiện truyền thông đại chúng của chúng ta vẫn bị
mê mệt bởi những bài tường thuật cũ mòn, coi blogger như
lực lượng tạo ra các thay đổi tích cực. Các tựa báo gần
đây vẫn còn nói: "<em>Cộng đồng blogger ngày càng tăng ở Ai
Cập mở rộng giới hạn bất đồng chính kiến</em>",
"<em>Từ Trung Quốc tới Iran, những người ghi nhật ký trên
mạng đang thách thức các nhà kiểm duyệt</em>", "<em>Đàn áp
blogger ở Cuba</em>", "<em>Những nhà kiểm duyệt web ở Trung
Quốc chiến đấu để rọ mõm các blogger có tinh thần tự
do</em>".
Nhiều bài báo kích động có thể đúng, kể cả nếu có bị
thổi phồng chút ít, nhưng nó chịu tác động từ vài nguồn
có tính định kiến. Hóa ra, các blogger thường xuyên, tiến
bộ, và thân phương Tây có xu hướng viết bằng tiếng Anh
nhiều hơn bằng ngôn ngữ bản địa. Do đó, họ cũng là những
người thường hay nói chuyện với các phóng viên phương Tây.
Nếu các nhà báo đi sâu tìm hiểu hơn một chút, họ có thể
phát hiện thấy các chất liệu phong phú để viết những bài
báo có tựa đề như: "<em>Blogger Iran - thách thức chủ yếu
đối với cải cách dân chủ</em>", và "<em>Ảrập Xêút:
blogger ghét quyền phụ nữ</em>". Tin bài về blogging ở Ai Cập
trên phương tiện truyền thông đại chúng ở phương Tây tập
trung hầu như hoàn toàn và duy nhất vào cuộc đấu tranh của
những người viết thân phương Tây, mà rất ít đề cập đến
lực lượng blogger đang tăng lên nhanh chóng trong cộng đồng
thân hữu Hồi giáo.
Gọi một blog của một người anh em Hồi giáo nào đó là "phi
dân chủ" có thể mang hai nghĩa. Do đó, các chính phủ phương
Tây, bị kẹt trong sự không tưởng trên mạng rất sôi nổi
trong suốt hai thập kỷ qua, gặp một thế lưỡng nan. Không có
đầu tư của họ vào blog, thì các blogger đông người đọc,
và các blog hình ảnh ở những nơi xa xôi về địa lý nhưng
quan trọng về địa chính trị, tiếng nói trên mạng của
những lực lượng dân chủ và cấp tiến được phương Tây ưa
thích, sẽ không còn mang nhiều trọng lượng. Tuy nhiên, đầu
tư vào cơ sở hạ tầng truyền thông mới cũng khuyến khích
các phần tử bảo thủ, dân tộc, cực đoan, tạo ra thách thức
thậm chí còn lớn hơn cho quá trình dân chủ hóa. Nhìn lướt
qua chủ nghĩa dân tộc đang nổi lên trên mạng ở Nga và Trung
Quốc cũng có thể thấy một cảm giác về những gì sẽ xảy
ra.
Vấn đề xảy ra với việc xây dựng không gian công cộng, trên
mạng hay ngoài mạng, rất giống chuyện tạo ra những con quỷ
nhập tràng Frankenstein: Chúng ta có thể không thích sản phẩm
cuối cùng. Điều này không có nghĩa là chúng ta sẽ ngừng coi
Internet như một lực lượng dân chủ hóa, chỉ có điều chúng
ta nên khai thông ý thức hệ mù quáng về quyết định luận
công nghệ và tập trung vào các nhiệm vụ thực tiễn. Xác
định rõ Internet có thể làm lợi như thế nào cho các lực
lượng và tổ chức dân chủ hiện nay – rất ít trong số đó
thể hiện được nhiều sáng tạo trên web – là một xuất
phát điểm không tồi.
<center><img
src="http://danluan.org/files/u1/149869_472131048321_641613321_5388574_1854129_n.jpg"
width="500" height="375"
alt="149869_472131048321_641613321_5388574_1854129_n.jpg" /></center>
Ừ thì Facebook, Internet là ảo, ừ thì các blogger chính trị là
những kẻ hoang tưởng, sống ảo. Vậy hãy dỡ bỏ tường lửa
cho chúng, chúng ảo cả ấy mà.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/7151), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét