Vài nét về lý thuyết Phân tâm của Tâm lý học

<strong>Vài nét về lý thuyết Phân tâm của Tâm lý học</strong>

(Ghi chú: Phần A giúp các bạn đọc hiểu sơ về lịch sử của
tâm lý học và có lẽ hơi chán. Phần B về thuyết phân tâm hy
vọng sẽ đem lại thú vị. Và người dịch/viết lại xin
được chỉ giáo thêm)

<br><strong>A. Các trường phái của Tâm lý học</strong>

Tâm lý học có nguồn gốc Triết học và phát triển từ thời
cổ trong các nền văn minh Ai cập, Hy lạp, Trung hoa, và Ấn
độ, ví dụ như trong kinh điển Phật giáo. Tâm lý học lý
thuyết từng là một ngành của Triết học trong các giảng
đường ở châu Âu cho đến cuối thế kỷ 19 với những triết
gia như Descartes.

Vào giữa thế kỷ 19, nhà sinh lý học Wundt người Đức dùng
nghiên cứu khoa học để trình bày sự nối kết giữa sinh lý
học với những kết quả khảo sát về tâm trí và ứng xử
của con người. Ông cũng lập ra một phòng thí nghiệm tâm lý
đầu tiên trên thế giới; biến cố này được xem là khởi
đầu của tâm lý học như một ngành khoa học riêng biệt rõ
ràng. Edward Titchener, một sinh viên giỏi của Wundt, đã đi tiếp
và mở ra <strong>trường phái cấu trúc</strong> theo đó ý thức
con người có thể được tách ra làm nhiều phần nhỏ.

William James, một nhà tâm lý người Mỹ lập ra <strong>trường
phái chức năng</strong> vốn tập chú vào việc tìm hiểu làm
thế nào ý thức và các ứng xử tác động vào việc giúp con
người sống còn trong môi trường của họ. Ông tin rằng ý
thức hiện hữu như một tiến trình thay đổi và liên tục.

Các trường phái tâm lý thời kỳ đầu đều nhấn mạnh vào ý
thức con người. Cho đến đầu thế kỷ 20, một y sĩ người
Áo là Sigmund Freud đã thay đổi bộ mặt của tâm lý học khi
đề xuất "lý thuyết phân tâm" để giải thích về nhân cách
và nhấn mạnh vào tầm quan trọng của <strong>tâm trí vô
thức</strong>. Ông tin rằng những kinh nghiệm thời thơ ấu và
những xung động vô thức đóng góp vào sự phát triển về
nhân cách và ứng xử của người lớn. Freud giảng giải làm
cách nào những ý nghĩ và xung động vô thức được để lộ,
thường qua giấc mơ và sự lỡ lời, và cho rằng con người
trở nên bất thường về tâm lý khi những xung đột vô thức
dâng cao hoặc mất cân bằng. <strong>Trường phái phân
tâm</strong> ảnh hưởng lớn lao đến giới trí thức trong thế
kỷ 20, không những trong tâm lý học lý thuyết và trị liệu
mà còn trong giáo dục, văn chương, nghệ thuật cũng như các
ngành khoa học nhân văn và xã hội.

Tâm lý học cũng trải qua thay đổi lớn vào đầu thế kỷ 20
khi <strong>trường phái ứng xử</strong> lên cao. Phái ứng xử
khác hẳn các lý thuyết trước và gạt bỏ sự nhấn mạnh vào
tâm trí ý thức lẫn vô thức. Thay vào đó, thuyết này cố
sức làm cho tâm lý học thành một ngành khoa học bằng cách
tập chú thuần tuý vào những ứng xử có thể quan sát được
và những nguyên nhân từ môi trường. Phái ứng xử bắt đầu
với công trình của Ivan Pavlov, một nhà sinh lý học người Nga.
Các nghiên cứu của ông về hệ thống tiêu hóa của chó dẫn
đến khám phá ra diễn trình điều kiện hóa cổ điển. Pavlov
chứng tỏ rằng ứng xử có thể được học hỏi qua sự kết
hợp có điều kiện giữa kích thích do môi trường và kích
thích tự nhiên. Về sau, B.F.Skinner đi xa hơn và phát triển khái
niệm "điều kiện hóa gây hiệu quả" để chỉ ra tác dụng
thêm của sự củng cố và trừng phạt. Phái "ứng xử" gây tác
dụng hết sức lớn đến xã hội, nhưng ngày nay cũng mất dần
ảnh hưởng.

Nửa sau của thế kỷ 20 là thời thịnh hành của
<strong>trường phái nhân văn</strong> vốn nhấn mạnh vào các
kinh nghiệm ý thức, năng lực của ý chí tự do và sự tự
quyết. Abraham Maslow, một nhà tâm lý học người Mỹ, đóng góp
với giản đồ cho lý thuyết "<strong>lớp lang của các nhu
cầu</strong>" về sự động viên của con người (căn bản nhất
là nhu cầu sinh học, và các nhu cầu quan trọng kế đến theo
thứ tự là an toàn, xã hội, yêu mến, và tự hiện thực hóa).

Dĩ nhiên, con đường không chấm dứt ở đó, tâm lý học tiếp
tục tiến hóa với những ý tưởng và quan điểm mới được
đưa ra. Những nghiên cứu sau này trong tâm lý học chú trọng
việc xem xét nhiều lãnh vực khác nhau của kinh nghiệm con
người, từ ảnh hưởng của sinh học lên ứng xử đến tác
dụng của các yếu tố xã hội và văn hóa. Ngày nay, đa số
các nhà tâm lý học không theo một trường phái riêng lẻ nào,
mà họ tập chú vào những khu vực chuyên, thường rút tỉa các
ý tưởng và kinh nghiệm từ các trường phái khác nhau và bổ
sung lẫn nhau.


<strong>* Vài dòng về các công trình của Sigmund Freud</strong>
(tên được phát âm trong tiếng Anh
http://dictionary.reference.com/browse/sigmund
http://dictionary.reference.com/browse/freud )

Sigmund Freud (1856-1939) là một y sĩ thần kinh học người Áo
gốc Do thái, đã lập ra trường phái phân tâm trong tâm lý học
qua các lý thuyết về "tâm trí vô thức" và "cơ chế phòng
vệ", và qua việc tạo ra phương pháp trị liệu bằng phân tâm
trong tâm bịnh lý. Ông cũng lừng danh nhờ xác định lại
"ước muốn tình dục" là năng lực động viên chính trong đời
sống con người, đưa ra lý thuyết về hiện tượng "chuyển
cảm xúc sang người khác", diễn dịch giấc mơ để tìm ra các
ước muốn vô thức, và cho rằng nhân cách của một người
tạo dạng do những kinh nghiệm của người ấy vào thời thơ
ấu.

Freud được xem là một trong những nhà tư tưởng sáng chói
của đầu thế kỷ 20 về mặt tạo nguồn và ảnh hưởng trí
thức. Ngày nay, tuy nhiều ý tưởng của ông kém được ưa
chuộng hơn hoặc được những người theo phái Tân-Freud sửa
đổi, và những tiến bộ của tâm lý học đã chỉ ra những
sai lầm trong các lý thuyết ấy, nhưng công trình của ông vẫn
còn ảnh hưởng đến phương pháp trị liệu, các ngành nhân
văn và khoa học xã hội.

<br><strong>B. Một số căn bản về lý thuyết Phân tâm</strong>

Thuyết phân tâm chủ yếu nhắm vào khảo cứu các cư xử và
hoạt động tâm lý của các cá nhân, nhưng cũng có thể áp
dụng cho phạm vi xã hội. Năm 1923, Freud dựa vào những kinh
nghiệm và quan sát trong khi hành nghề để trình bày một "lý
thuyết về cấu trúc" mới (so với phái cấu trúc của Titchener)
theo đó tâm trí con người có thể được chia làm hai phần
chính:

<strong>1. Tâm trí ý thức</strong> gồm mọi thứ mà ta biết rõ
ràng và tự giác; đây là một phương diện của diễn trình
tâm trí, giúp ta suy nghĩ và truyền đạt có lý lẽ. Nó gồm có
những thứ đang hiện có như cảm động, cảm giác, nhận
thức, và tưởng tượng, v.v. Một bộ phận của diễn trình
này là ký ức vốn không luôn luôn là một phần của ý thức
nhưng có thể được gợi lại dễ dàng bất cứ lúc nào để
mang vào ý thứ. Freud gọi ký ức bình thường ấy là
<strong>tiền thức</strong> (tiền thức nghĩa là trước ý thức).

<strong>2. Tâm trí vô thức</strong> là một bể chứa những thôi
thúc do bản năng cũng như các cảm giác, ý tưởng, và ký ức
nào nằm bên ngoài sự biết rõ có ý thức. Phần lớn nội dung
của vô thức là những bất mãn và những việc không được
chấp nhận. Freud cho rằng vô thức tiếp tục ảnh hưởng đến
ứng xử và kinh nghiệm của ta, ngay cả ta không biết rõ về
chúng.

<strong>* Về nhân cách</strong>: Theo lý thuyết phân tâm, nhân
cách được cấu thành bởi ba yếu tố: "cái ấy", "cái tôi"
(bản ngã), và "cái siêu tôi" (siêu ngã).


<strong>1. "Cái ấy":</strong>

Trong các yếu tố của nhân cách, "cái ấy" là yếu tố duy
nhất có mặt từ lúc mới sinh ra; nó không được tổ chức,
và hoàn toàn vô thức. "Cái ấy" bao gồm các thôi thúc do bản
năng vốn dẫn đến ứng xử sơ khai đối với cái đói, cái
khát, tình dục và các xung động căn bản. "Cái ấy" có tính
trẻ con, ích kỷ, phi đạo đức, phi logic, và không mang ý niệm
thời gian. Là nguồn gốc của mọi năng lực tâm linh, "cái ấy"
được xem như một yếu tố chính của nhân cách và là bể
chứa những <strong>libido</strong> hay "thôi thúc bản năng để
tạo ra".

"Cái ấy" được lèo lái bởi <strong>nguyên tắc về vui
thú</strong> nghĩa là cố tránh sự đau đớn, phiền não và cố
tìm sự thỏa mãn tức thì cho mọi ao ước, thèm muốn và nhu
cầu. Các nhu cầu ấy nếu không được làm vừa lòng sẽ mang
đến kết quả một trạng thái lo âu hay căng thẳng. Ví dụ,
cảm giác đói hay khát sẽ gây ra một cố gắng tức thì để
có ăn hay uống; như các trẻ sơ sinh nếu bị đói sẽ khóc
thét cho đến khi được cho bú. Tâm trí của trẻ sơ sinh có
thể xem như hoàn toàn được điều khiển bởi "cái ấy" trong
ý nghĩa nó là một khối lớn những thôi thúc và xung động do
bản năng.

Tuy nhiên, việc làm thỏa mãn tức thì các nhu cầu bản năng
không luôn luôn thực tế và thậm chí không thể thực hiện.
Nếu được điều khiển hoàn toàn bởi nguyên tắc về vui thú,
ta có lẽ giựt những thứ ta muốn từ tay người khác để
thỏa mãn ao ước của mình. Nhưng làm như thế sẽ gây loạn
và không được xã hội chấp nhận. Theo Freud, nếu không
được thỏa mãn với nguyên tắc về vui thú, "cái ấy" sẽ cố
gắng giải quyết qua <strong>diễn trình sơ cấp</strong> vốn
tạo ra một hình ảnh tâm trí về sự vật mong muốn để thay
thế cho sự thôi thúc và làm mờ đi sự lo âu hay căng thẳng.


<strong>2. "Cái tôi"</strong>

"Cái tôi" là một yếu tố được tổ chức của nhân cách và
làm công việc đương đầu với hiện thực để thỏa mãn "cái
ấy" trong đường dài. Theo Freud, cái tôi phát triển từ "cái
ấy" và cam đoan rằng các xung động của "cái ấy" có thể
được biểu lộ theo cách được chấp nhận trong thế giới
thực. Nó gồm có các chức năng về nhận thức, tri thức, hành
động, và tự vệ tâm lý. Cái tôi vận hành trong cả ba phần:
ý thức, tiền thức và vô thức. Ý thức nằm trong cái tôi,
nhưng không phải mọi vận hành của cái tôi đều có ý thức.

Cái tôi hoạt động dựa trên <strong>nguyên tắc về hiện
thực</strong>, nghĩa là cố tìm sự thỏa mãn những ước muốn
của "cái ấy" một cách thực tế và thích hợp với xã hội.
Trước khi quyết định làm hay bỏ một hành động, nguyên tắc
về hiện thực giúp ta cân nhắc giữa điều lợi và cái giá
phải trả từ hành động ấy. Trong nhiều trường hợp, những
xung động của "cái ấy" có thể được làm vừa lòng qua diễn
trình thỏa mãn trễ, nghĩa là sau cùng cái tôi rồi sẽ cho phép
ứng xử ấy, nhưng chỉ trong thời gian và tình huống thích
hợp.

Sự căng thẳng giữa "cái ấy" và cái tôi do những thôi thúc
vô thức không được thỏa mãn (vì bị cái tôi ngăn chận)
cũng được cái tôi xả bớt qua <strong>diễn trình thứ
cấp</strong>, trong đó cái tôi cố gắng tìm ra một sự vật
trong thế giới thực vốn ăn khớp với hình ảnh tâm trí
được tạo ra bởi diễn trình sơ cấp của "cái ấy".


<strong>3. "Cái siêu tôi"</strong>

Yếu tố chót được phát triển của nhân cách là "cái siêu
tôi" vốn được tổ chức để chứa đựng các tiêu chuẩn và
khuôn mẫu được nhập tâm về đạo đức mà ta lãnh hội từ
bậc cha mẹ và xã hội, nghĩa là tri giác của ta về tội lỗi,
về điều cấm kỵ, về đúng và sai. Cái siêu tôi cung cấp
những hướng dẫn để phán đoán, và vận hành chủ yếu trong
vô thức nhưng một phần cũng thuộc về ý thức. Theo Freud, cái
siêu tôi bắt đầu xuất hiện khi trẻ em được khoảng năm
tuổi và gồm có hai nhóm:

<strong>_ Khuôn mẫu siêu tôi</strong>: gồm có những quy tắc và
tiêu chuẩn cho các ứng xử tốt vốn gồm những ứng xử
được cho phép bởi xã hội và bậc cha mẹ. Tuân theo các quy
tắc này sẽ mang đến cảm giác tự hào, giá trị và thành
đạt.

<strong>_ Lương tâm</strong>: gồm có thông tin về những việc
được bậc cha mẹ và xã hội xem là xấu xa. Những ứng xử
ấy thường bị chỉ trích hay cấm đoán và dẫn đến những
hậu quả xấu, sự trừng phạt hay cảm giác có tội và hối
hận.

Có sự đối nghịch ở đây: cái siêu tôi cố sức làm cho hành
động mang tính thích hợp với xã hội, trong khi "cái ấy" chỉ
muốn được thỏa mãn tức thì. Cái siêu tôi vận hành để
hoàn thiện và văn minh hóa các ứng xử của con người, để
cầm chân mọi thôi thúc khó được chấp nhận của "cái ấy",
và khiến cho cái tôi hành động dựa vào các <strong>tiêu chuẩn
đạo đức</strong> thay vì dựa vào nguyên tắc về hiện thực.
Cái siêu tôi có mặt trong cả ba phần: ý thức, tiền thức và
vô thức.


<strong>* Sự tương tác giữa "cái ấy", cái tôi, cái siêu tôi,
và hiện thực</strong>

Với nhiều lực cạnh tranh nhau, rất dễ cho ta nhận thấy sự
xung đột sinh ra giữa "cái ấy", cái tôi, cái siêu tôi và hiện
thực. Freud cho rằng cái tôi là trung gian giữa các lực kia,
tạo ra sự cân bằng giữa "cái ấy" và hiện thực (cái tôi
không có tính đạo đức ở cấp độ này) trong khi làm vừa
lòng cái siêu tôi (đạo đức). Mục đích của cái tôi là tạo
an toàn cho con người chủ thể và cho phép một số ước muốn
của "cái ấy" được biểu lộ, nhưng chỉ khi các hậu quả
xấu của hành động là không đáng kể.

Có thể xem cái tôi như một đầy tớ của ba người chủ khó
tính. Nó phải làm hết khả năng để phụ vụ cả ba, vì vậy
luôn luôn cảm thấy bị vây quanh bởi sự nguy hiểm do tạo ra
bất mãn của các người chủ. Tuy nhiên, dường như cái tôi
trung thành với "cái ấy" hơn, có khuynh hướng bỏ qua các chi
tiết nhỏ của hiện thực để giảm thiểu xung đột trong khi
giả vờ vẫn tôn trọng hiện thực. Nhưng cái siêu tôi đang
liên tục theo dõi mọi động thái của cái tôi, khuyến khích
cái tôi tránh làm bậy và trừng phạt về việc làm bậy bằng
cảm giác có tội, lo âu và tự ti. Để vượt qua sự xung đột
này, cái tôi phải dùng đến các <strong>cơ chế phòng vệ tâm
lý</strong> (xin xem phần C).

Thuật ngữ "sức mạnh của cái tôi" được dùng để chỉ khả
năng của cái tôi trong việc đương đầu hiệu quả với các
đòi hỏi của các lực kia. Những người với sức mạnh của
cái tôi đúng mức sẽ có khả năng điều hòa các lực với
nhau, duy trì cảm xúc ổn định, và chịu nổi các áp lực bên
trong lẫn bên ngoài. Những người kém sức mạnh của cái tôi
sẽ cảm thấy bị xâu xé, giành giựt giữa các lực cạnh
tranh; còn những người mạnh quá có thể trở nên cứng cỏi
và bất khuất. Theo Freud, bí quyết để dẫn đến một nhân
cách lành mạnh là sự cân bằng giữa "cái ấy", cái tôi và
cái siêu tôi.


<br><strong>C. Các cơ chế phòng vệ tâm lý</strong>

Khi có sự xung đột giữa các yếu tố của nhân cách, sự lo
âu xuất hiện như một dấu hiệu cho cái tôi biết rằng sự
việc đang diễn tiến sai trái. Freud nhận ra ba loại lo âu:
_ Lo âu về thần kinh: là lo lắng vô thức khi ta mất kiềm chế
về các thôi thúc bản năng của "cái ấy".
_ Lo âu về hiện thực: là lo sợ về các biến cố trong thế
giới thực.
_ Lo âu về đạo đức: là lo sợ về sự vi phạm các nguyên
tắc đạo đức.

Lo âu là một trạng thái nội tâm khó chịu; vì vậy cái tôi
phải dùng các cơ chế phòng vệ tâm lý để đương đầu với
nó. Tuy ta có thể biết và dùng các cơ chế này, nhưng trong
nhiều trường hợp chúng vận hành một cách vô thức để bóp
méo hiện thực và thỏa mãn nội tâm. Dù các cơ chế ấy
thường không lành mạnh, chúng có thể được thích nghi để
giúp ta sinh hoạt bình thường. Ví dụ như việc dùng khôi hài
để vượt qua một tình huống đầy lo âu có thể là một
thích nghi tốt của cơ chế phòng vệ.

Có nhiều cơ chế phòng vệ tâm lý tiêu biểu do Anna Freud (con
gái của Sigmund Freud) tìm ra và được George Vaillant phân làm
bốn hạng (ghi chú: Vài cơ chế có thể được mở rộng và áp
dụng cho một nhóm người, hay có khi cả một quốc gia):

<strong>Hạng I</strong>: Gồm những <strong>cơ chế tự vệ có
tính tâm bệnh</strong>, ngăn chận khả năng của một người
trong nhận thức về hiện thực và trong đối phó với mối đe
dọa thật sự. Các cơ chế này cho phép một người <strong>sắp
xếp lại hiện thực</strong> bên ngoài (qua hình ảnh trong tâm
trí) và do đó không cần phải đối phó với "hiện thực".
Gồm các cơ chế sau:

* Chối bỏ: Từ chối hoàn toàn việc nhìn nhận một sự việc
quá đe dọa. Ví dụ người nghiện rượu hay ma tuý thường
chối bỏ việc họ có vấn đề; hay nạn nhân của các biến
cố gây thương tổn lớn có thể cho rằng các biến ấy đã
không xảy ra.

* Bóp méo: Làm biến dạng hiện thực để thỏa mãn nhu cầu
nội tâm. Ví dụ như <strong>thường xuyên</strong> tổng quát hóa
cao độ hay nhảy vội vào kết luận hay suy nghĩ bằng những
từ ngữ "luôn luôn", "không bao giờ", "không cách nào khác" hay
bác bỏ vẻ đẹp của một món đồ thật đẹp chỉ vì một
tì vết nhỏ.

<strong>Hạng II</strong>: Gồm những <strong>cơ chế tự vệ chưa
trưởng thành</strong>, được dùng nhiều ở trẻ em nhưng rất
ít ở người lớn vì chúng giới hạn khả năng đương đầu
với hiện thực và vì dẫn đến ứng xử không được xã hội
chấp nhận vốn được xem là kém trưởng thành và khó giao
thiệp. Các cơ chế này cho phép một người <strong>chuyển đổi
sự lo âu và phiền muộn</strong> gây ra bởi hiện thực. Gồm
các cơ chế sau:

* Nhúng tay: Làm thỏa những ước muốn vô thức bằng cách
nhúng tay vào bằng hành động mà không suy nghĩ về cảm xúc
nội tại.

* Tưởng tượng: Khuynh hướng rút lui vào trí tưởng tượng
để hóa giải các xung đột bên trong và bên ngoài.

* Cực điểm hóa: Khuynh hướng của một người xem một biến
cố hay một người khác là hết sức tốt hay hết sức xấu.
Và do đó người ấy gán cho chính mình hay cho người khác
những nhân cách được thổi phồng.

* Ném đi: Đem những cảm giác mạnh của chính mình và gán cho
những người khác. Ví dụ ta ghen ghét ai đó thì ta có thể tin
rằng người ấy ghen ghét ta.

<strong>Hạng III</strong>: Gồm những <strong>cơ chế tự vệ có
tính thần kinh</strong>, được dùng rất phổ thông để đương
đầu với hiện thực trong ngắn hạn. Các cơ chế này không
lành mạnh vì trong dài hạn sẽ dẫn đến rắc rối trong các
quan hệ và làm giảm khả năng vui hưởng đởi sống. Gồm các
cơ chế sau:

* Dời chỗ: Trút bực bội, cảm giác vào những người hay vật
ít đe dọa hơn. Ví dụ người mẹ giận chồng mình nhưng lại
la mắng con cái cho đỡ tức.

* Chuyển đổi: Chuyển đổi một ứng xử ra dạng khác có thể
chấp nhận được. Ví dụ một người đang giận dữ có thể
đá vào không khí hay đồ vật để xả bớt cơn giận, thay vì
đá vào người khác.

* Trí thức hóa: Tránh suy nghĩ về mặt cảm xúc của tình
huống và thay bằng tập chú vào mặt trí thức mà thôi.

* Lý lẽ: Dùng lý lẽ để tránh né các lý do thật của hiện
thực. Ví dụ một anh chàng bị cô bạn gái từ chối hẹn hò
có thể lý lẽ về chuyện ấy bằng cách tự nhủ rằng cô ta
cũng từ chối những người khác thôi.

* Tạo phản ứng: Đóng vai với cảm xúc hay ứng xử ngược
lại. Ví dụ như ta ứng xử với một người ta rất ghét bằng
cách hết sức thân thiện để che giấu cảm xúc thật sự của
mình.

* Lãng quên: Một cách vô thức, thông tin được giữ ra khỏi
sự biết rõ. Tuy nhiên, những ký ức ấy không hề biến mất
mà vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến ứng xử của con người.
Ví dụ như một người dù quên đi việc bị đánh đập thời
thơ ấu thì khi trưởng thành người ấy cũng khó có thể tạo
ra những quan hệ tốt với người khác.

* Lùi lại: Dùng những ứng xử đã quen khi phát triển tính
dục tâm lý trong thời thơ ấu. Ví dụ những người đã ngưng
phát triển vào thời gian còn bú (bằng miệng), bây giờ sẽ có
khuynh hướng ăn uống, hút thuốc quá độ, ngậm ngón tay hoặc
nói năng khiêu khích.

<strong>Hạng IV</strong>: Gồm những <strong>cơ chế tự vệ
trưởng thành</strong> (dù bắt nguồn từ thời kém trưởng
thành), được những người lớn lành mạnh nhất thích nghi
để cải thiện các quan hệ, và tăng khả năng vui hưởng đời
sống. Chúng cũng giúp một người kết hợp những cảm xúc và
ý nghĩ đối nghịch để sinh hoạt hiệu quả. Sử dụng các cơ
chế này có thể làm con người vui thú và cảm giác tự chủ
và được xem là trưởng thành và đức hạnh. Gồm các cơ chế
sau:

* Vị tha: Thỏa mãn nhu cầu nội tâm bằng cách giúp đỡ, phục
vụ người khác.

* Dự đoán: Lập kế hoạch thực tế cho các khó khăn trong
tương lai.

* Khôi hài: Chỉ ra những điểm khôi hài hay trớ trêu của tình
huống.

* Noi gương: Học hỏi và làm giống về nhân cách và ứng xử
của những người khác.

* Bù đắp: Cố gắng thành đạt trong một lãnh vực để bù
đắp cho thất bại trong một lãnh vực khác.

* Cố quên: Là tiến trình có ý thức tìm cách đưa các ý nghĩ
vào tiền thức, đẩy lùi các cảm xúc để chúng không ảnh
hưởng đến việc đương đầu với hiện thực; về sau các
cảm xúc sẽ được gợi lại và chấp nhận.

<br><strong>Tham khảo:</strong>
http://psychology.about.com/od/historyofpsychology/a/psychistory.htm
http://psychology.about.com/od/theoriesofpersonality/a/consciousuncon.htm
http://psychology.about.com/od/theoriesofpersonality/a/personalityelem.htm
http://psychology.about.com/od/theoriesofpersonality/ss/defensemech_2.htm
http://en.wikipedia.org/wiki/Sigmund_Freud
http://en.wikipedia.org/wiki/Ego,_super-ego,_and_id
http://en.wikipedia.org/wiki/Defense_mechanism

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6495), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét