Phan Thế Hải - Gỡ “nút cổ chai” cho nền kinh tế tăng tốc và cất cánh (1)

Ngày 3/2/2006, trên các báo lớn đã đăng Dự thảo Báo cáo
chính trị trình Đại hội X của Đảng với tiêu đề: <a
href="http://www.nhandan.com.vn/tinbaidadang/noidung/?top=37&sub=54&article=53380">Nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát
huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc
đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát
triển</a>

Ngay tiêu đề báo cáo đã thấy một thiện chí của Đảng ta:
<em>... Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện
công cuộc đổi mới...</em> Vượt qua mọi sự cám dỗ của
những cuộc vui đầu xuân, tôi kiên trì đọc từ đầu đến
cuối bản báo cáo này. Với 32 trang A4, xấp xỉ 20.000 chữ, Dự
thảo báo cáo kỳ này khá ngắn gọn. Đây được coi là ưu
điểm thứ nhất. Phần kiểm điểm 5 năm thực hiện nghị
quyết Đại hội 9 với những lời lẽ khá khiêm tốn, chừng
mực, có thể coi là ưu điểm thứ hai. Phần 9, nói về đổi
mới và chỉnh đốn đốn Đảng đã nêu được quan điểm:
"Đảng viên làm kinh tế tư nhân không giới hạn về quy mô
phải gương mẫu chấp hành Điều lệ Đảng, pháp luật, chính
sách của Nhà nước và quy định cụ thể của Ban Chấp hành
Trung ương." Điều này không mới nhưng, khi Đảng nêu công
khai trong một văn kiện đã thể hiện phần nào bản lĩnh của
một đảng cầm quyền. Đây có thể coi là ưu điểm thứ ba.

Cùng với những ưu điểm, báo cáo còn có vô số những hạn
chế vẫn thường thấy như trong các báo cáo chính trị trước
đây. Như đã nói ở trên, với tiêu đề "đẩy mạnh toàn
diện công cuộc đổi mới" nhưng ý tưởng trong báo cáo thì
sự đổi mới toàn diện vẫn chưa thấy đâu. Hầu hết vẫn
là giọng văn cũ, khái niệm cũ, có nhiều thứ không còn hợp
thời.

Báo cáo đã nói nhiều về những đột phá, những tăng tốc,
những con đường chấn hưng nền kinh tế nước nhà, nhưng cần
phải bắt đầu từ đâu? đột phá ở những khâu nào? Cố
gắng tìm kiếm ở các đoạn trong báo cáo nhưng chưa có câu
trả lời thoả đáng. Các giải pháp đề ra vẫn chung chung,
chưa cụ thể. Cũng chính vì vậy mà sau hai mươi năm đổi
mới, nền kinh tế nước ta chưa đạt được trình độ phát
triển như cả dân tộc mong muốn. Nếu cách mạng Việt Nam vẫn
phát triển theo tinh thần của báo cáo này, không ai dám chắc
rằng, nền kinh tế Việt nam sẽ tăng tốc trong nhiệm kỳ tới.

Muốn có một đô thị đẹp, phải bắt đầu bằng một quy
hoạch khoa học, hợp lý. Muốn đất nước phát triển, phải
bắt đầu bằng hệ tư tưởng, bằng Hiến pháp khoa học, bằng
một báo cáo chính trị đúng hướng. Cách đây hơn 200 năm,
nước Mỹ từ một vùng thuộc địa của Anh đã từng bước
vươn lên thành một cường quốc số 1 thế giới và đứng
vững ở vị trí này hơn 100 năm qua chính là nhờ một bản
hiến pháp ngắn gọn, khoa học. Nước Nhật, nước Pháp, Hàn
quốc cũng bắt đầu công cuộc phục hưng đất nước bằng
cách như vậy.

Việt Nam chúng ta đã có một bản Hiến Pháp tuyệt vời do Bác
Hồ chủ trì soạn thảo và được Quốc hội khoá I thông qua
năm 1946 với 7 chương, 70 điều. Đây được coi là đường
băng cơ bản với những hành lang thông thoáng. Thế nhưng, sau
nhiều lần sửa đổi, không những bản hiến pháp ấy không hay
hơn mà còn ngày càng lệch lạc, bị "lấn chiếm", tạo ra
không ít nút cổ chai. Việc phải trả lại giá trị pháp lý
của Hiến pháp năm 1946, có thể ví như việc giải phóng mặt
bằng cho những nút cổ chai do bị lấn chiếm trước đó.

Muốn tăng tốc và cất cánh, cùng với việc xây dựng những xa
lộ, chúng ta phải mua sắm những phương tiện hiện đại để
chạy trên đường băng ấy. Qua hai mươi năm đổi mới, một
số đoạn xa lộ đã được mở, nhưng vẫn còn đó không ít
nút cổ chai chưa được dỡ bỏ. Còn phương tiện, trong nền
kinh tế toàn cầu, mỗi năm có hàng trăm loại phương tiện
hiện đại ra đời, thế nhưng chúng ta vẫn kiên trì một
phương tiện cũ kỹ từ thế kỷ XIX. Trên tinh thần đó, tôi
xin đề xuất một số phương án khơi thông những nút cổ chai
và sử dụng phương tiện nào cho nền kinh tế tăng tốc và
cất cánh.

<h2>1- Định nghĩa rõ, nhà nước ta là Đảng quyền hay Pháp
quyền</h2>

Đây là câu hỏi mà thực tiễn đặt ra đã lâu nhưng trong báo
cáo chưa có câu trả lời thoả đáng. Trong phần XIII với tiêu
đề: "PHÁT HUY DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, HOÀN THIỆN NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA" báo cáo nói nhiều về
nhà nước pháp quyền XHCN, nhưng bản chất của nhà nước pháp
quyền này là gì thì chưa giải thích thoả đáng. Tôi đã dùng
câu này để hỏi nhiều cán bộ lãnh đạo trung cao cấp. Câu
trả lời là không thống nhất và thường là chia làm hai
luồng:

Nhóm ý kiến thứ nhất cho nhà nước ta là Pháp quyền lý giải
rằng: Đâu đó, có vẫn có khẩu hiệu: Sống và làm việc theo
pháp luật, rằng chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền.

Nhóm ý kiến thứ 2 cho rằng nhà nước ta là Đảng quyền lý
giải rằng, Điều 4 Hiến Pháp Việt Nam ghi: "ĐCSVN, đội tiên
phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành
quyền lợi của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của
cả Dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và Xã hội". Ở
một số diễn đàn quan trọng, các vị lãnh đạo đều cho
rằng: Đảng lãnh đạo một cách tuyệt đối và toàn diện.
Cũng chính vì lý do này, một số phiên toà trọng điểm đều
có sự chỉ đạo trực tiếp của Ban bí thư. Dân chúng thay vì
phải học luật là học nghị quyết....
Sự nhá nhem này đã xẩy ra không ít chuyện hài ước: chính
quyền xã khi xác nhận hồ sơ cho công dân xin việc, phần phía
dưới thường ghi: "Bản thân và gia đình chấp hành tốt chủ
trương đường lối của Đảng..." mà không cần quan tâm
rằng, với tư cách công dân, anh ta có phạm luật hay không! Khi
cán bộ còn không định nghĩa được nhà nước ta là Pháp
quyền hay Đảng quyền thì việc nâng cao ý thức pháp luật
của dân chúng là điều vô cùng khó khăn.

Nhân loại đang nỗ lực hoàn thiện một xã hội pháp quyền,
trong đó quyền công dân được ghi rõ trong Hiến pháp. Nếu
chúng chúng ra muốn hội nhập với thế giới, không nên luyến
tiếc điều 4 của Hiến pháp, khi nó không còn hợp thời. Thêm
nữa, nếu đảng tự tin vào chính bản thân mình, hãy để cho
nhân dân tự đánh giá, tự phán xét. Không ai khác, nhân dân
sẽ lựa chọn đảng mà không cần bất cứ một sự áp đặt
nào. Việc thể chế hoá bằng luật chỉ là biểu hiện của
một sự thiếu tự tin, sự không minh bạch mà thôi.

Đó là chưa nói đến việc, từ chính sách Đảng lãnh đạo
tuyệt đối và toàn diện đã đẻ ra một bộ máy khổng lồ
song trùng với chính quyền. 64 tỉnh thành có 64 ông chủ tịch,
64 ông bí thư, 64 bộ máy tỉnh uỷ. Hơn 600 huyện cũng vậy.
Chúng ta có một hệ thống chính quyền kép. Chính quyền lồng
trong chính quyền ở cả bốn cấp, rất cồng kềnh nhưng không
ai chịu trách nhiệm chính. Một doanh nhân nói với tôi: Khi dự
án của ông đã được UBND tỉnh thông qua, nhưng theo lời
khuyên của một chuyên viên, ông buộc phải sang xin ý kiến
của tỉnh uỷ. Nếu ông Bí thư tỉnh uỷ chưa có bút phê thì
đừng hòng triển khai nổi.

Sự song trùng của bộ máy không chỉ làm tăng biên chế, tăng
chi phí cho bộ máy mà còn tạo thêm một cửa, một sự phức
tạp, thêm một nút cổ chai cho các thủ tục hành chính.

Chính vì cách thức tổ chức bộ máy này, hiện nay Việt Nam có
6 triệu người ăn lương. Con số này của Thái Lan là 2 triệu.
Thế nhưng bộ máy của chúng ta không phải vì thế mà hoạt
động có hiệu quả hơn. Không những thế, bộ máy song trùng
còn tạo thêm một cửa buộc các nhà đầu tư phải đi qua. Khi
dự án đã được duyệt ở UBND tỉnh, nhưng tỉnh uỷ không
đồng ý, dự án đó nghiễm nhiên bị ách lại. Muốn qua
được cửa này buộc phải thoả hiệp, phải "đi đêm",
nếu không đừng hòng triển khai. Khi xác định được nhà
nước ta là pháp quyền, các cơ quan Đảng sẽ tự động thu
hẹp lại và chỉ là một bộ phận kiêm nhiệm trong hệ thống
chính quyền. Theo cách này, chúng ta không những minh bạch hoá
nền chính trị đất nước mà còn giảm được khoảng 1 triệu
công chức trong các cơ quan đảng và các đoàn thể.

Bộ máy song trùng và đồ sộ của nước ta đã tồn tại hơn
nửa thế kỷ qua, ai cũng thấy rằng nó là cồng kềnh và kém
hiệu lực, nhưng giải quyết thế nào để giải thoát sự
cồng kềnh ấy, sự kém hiệu lực ấy thì báo cáo không hề
đề cập đến. Nếu chúng ta định nghĩa rõ, nhà nước Việt
nam là Nhà nước Pháp quyền, Đảng có mặt trong những khâu
quan trọng của bộ máy mà không hình thành một bộ máy riêng,
ăn lương ngân sách sẽ từng bước giải quyết được vấn
nạn này.

<h2>2- Vận dụng chủ nghĩa Marx thế nào?</h2>

Phần II, đánh giá khái quát 20 năm đổi mới, dự thảo có
nói: "<em>... trong quá trình đổi mới phải kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh...</em>". Nền
tảng chủ nghĩa Marx- Lenin được nhắc đi nhắc lại nhiều
lần trong dự thảo. Đây là một điều xưa cũ mà các báo cáo
chính trị của 9 kỳ đại hội trước đã từng nói đến và
nay vẫn nhắc lại.

Cùng với điều 4 của Hiến pháp, cách thức tổ chức, tuyên
truyền, áp đặt vào hệ thống đào tạo ở các cấp, vô tình
hiện nay Việt Nam có một thứ tư tưởng thống soái trong mọi
hoạt động kinh tế - xã hội, văn hoá, tư tưởng đó là Chủ
nghĩa Marx - Lenin. Bất cứ một cán bộ nào muốn được đề
bạt, không chỉ cán bộ công quyền mà còn cả lãnh đạo các
doanh nghiệp nhà nước đều phải trải qua học viện chính
trị, trong đó, các môn học về chủ nghĩa Max - Lênin chiếm
đến hơn 50% thời lượng.

Chủ nghĩa Marx là một học thuyết đồ sộ gồm ba lĩnh vực
chính: Triết học, Kinh tế chính trị và Chủ nghĩa cộng sản
khoa học. Không bàn sâu vào học thuyết này, nhưng tôi chỉ xin
được dẫn ra một số điểm quan trọng sau đây:

Năm 1848, tại London, Marx và Anghen cho xuất bản: "Tuyên ngôn
của Đảng cộng sản", đây được coi là cột mốc quan
trọng của việc hình thành chủ nghĩa Marx, một "bóng ma ám
ảnh châu Âu" (chữ của Marx) và nhân loại. Về hoàn cảnh
lịch sử, giữa thế kỷ XIX là thời đại văn minh cơ khí với
đặc trưng là đầu máy hơi nước. Chúng ta đang sống trong
thế kỷ 21, với nền văn minh kỹ thuật số. Cứ cho Chủ nghĩa
Marx là một công trình khoa học đi nữa thì với những hạn
chế của hoàn cảnh lịch sử, sẽ có không ít những điều
bất cập.

Tuy nhiên bản thân chủ nghĩa Marx ngay từ nguyên thuỷ cũng đã
chứa đựng rất nhiều yếu tố sai lầm và cực đoan. Xin
được dẫn ra 2 sai lầm quan trọng của Marx là:

Thứ nhất, về động lực phát triển của xã hội loài
người, ngay dòng đầu tiên, của "Tuyên ngôn của đảng cộng
sản" Marx viết: "<em>Lịch sử tất cả các xã hội tồn
tại từ trước đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai
cấp.</em>"

Marx đã tuyệt đối hoá vai trò đấu tranh giai cấp, mà không
nhìn thấy vai trò của đấu tranh dân tộc, tôn giáo, văn hoá
v.v.... trong quá trình phát triển của lịch sử loài người.
Marx đã tuyệt đối hoá vai trò của giai cấp công nhân, chỉ
toàn nhìn thấy măt tốt mà không nhìn thấy mặt hạn chế của
giai cấp này. Ngược lại Marx lại chỉ nhìn thấy mặt xấu
của giai cấp tư sản, mà không nhìn thấy mặt tốt của họ.
Từ những phiến diện này, Marx đã đưa ra những kết luận sai
lầm về đấu tranh giai cấp. Marx chủ trương xóa bỏ giai cấp
tư sản, thiết lập công hữu về tư liệu sản xuất và thực
hịên chuyên chính vô sản... Các trường phái tư tưởng triết
học phương Đông đã không được Marx đề cập đến, nên
triết học của Marx mang nặng mùi đấu tranh. Marx chí thấy
tính Đối kháng, triệt tiêu lẫn nhau của các mặt đối lập
mà không thấy tính thoả hiệp, tính khoan hoà giữa chúng.

Thứ hai, sai lầm về "bóc lột giá trị thặng dư" kể cả
khái niệm lẫn bản chất. Khi nghiên cứu nền kinh tế, Marx
bắt đầu bằng hàng hoá. Marx phân tích cấu trúc giá trị
thành ba thành phần: C + V + m Trong đó, C là tư bản bất biến,
V là tư bản khả biến, và m là giá trị thặng dư. Theo Marx, m
là giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động của người
công nhân làm thuê sáng tạo ra bị nhà tư bản chiếm không.
Trong đó Marx đã quên hẳn vai trò tổ chức, quản lý của nhà
tư bản; vai trò sáng kiến, vai trò ý tưởng, đặc biệt là
bản quyền sáng tạo của nhà tư bản nên đã có những kết
luận lệch lạc.

Trong tư duy Marx bị mắc bệnh tuyệt đối hoá và trong phương
pháp Marx mắc bệnh quy nạp phiến diện. Khi nói về về duy
vật lịch sử, Marx đặt trên cơ sở nghiên cứu lịch sử phát
triển xã hội châu Âu. Cuốn "Tư bản" được viết trên cơ
sở nghiên cứu lịch sử phát triển của kinh tế - xã hội
nước Anh thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19. Cũng có lẽ do
hoàn cảnh lịch sử, nên trong các tác phẩm của Marx, ông không
đề cập đến nhiều khái niệm như: toàn cầu hoá, tự do hoá
thương mại, thương quyền, thương hiệu... là những khái niệm
rất quan trọng của xã hội ngày nay.

Nhìn một cách xuyên suốt, ngoài những bất cập trên, học
thuyết Marx còn đầy rẫy những mâu thuẫn.

Marx say sưa với vẫn đề công hữu hoá tư liệu sản xuất,
nhưng ông đã "quên" mất vấn đề tối quan trọng là công hữu
hoá quyền lực, trong các tác phẩm của mình, ông không đề
cập đến cách thức tổ chức xã hội theo kiểu nghị viện,
với sự tôn trọng những ý kiến khác biệt.
Marx tôn thờ phép biện chứng nhưng ông lại mắc bệnh tuyệt
đối hoá giai cấp, quá tin tưởng ở những phẩm chất tốt
đẹp của giai cấp công nhân mà quên rằng nó cũng có đầy
những tính xấu như bất cứ giai cấp nào hay con người nào
khác. Hậu quả của kẽ hở này là ở các nước đi theo mô
hình của Marx, đảng cộng sản sau khi nắm được chính quyền
đã trở thành giai cấp thống trị mới còn tệ hại hơn giai
cấp thống trị cũ, do nó được biện minh bởi học thuyết
mới.

Với giai cấp tư sản cũng vậy, ông chỉ nhìn thấy mặt hạn
chế của giai cấp này mà không nhìn nhận thấy mặt tốt của
họ. Marx cho rằng, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai
cấp tư sản là mâu thuẫn đối kháng và chủ trương "đào
mồ chôn CNTB". Thực tiễn đã cho thấy, sau khi lập đổ giai
cấp tư sản, thiết lập được nền chuyên chính vô sản, các
nước cộng sản đều đưa nền kinh tế đi vào ngõ cụt.

Với công thức công hữu hoá, đất đai là sở hữu toàn dân,
do nhà nước quản lý. Nhưng chính quyền lại là sở hữu riêng
của đảng cộng sản, đảng không chia sẻ quyền lực cho ai,
nên trong các nước theo mô hình CNXH, đều trở thành những
chế độ phong kiến kiểu mới - chế độ phong kiến không vua,
hay đúng hơn là không ngai - đảng cộng sản ở những nước
này, trở thành những chính đảng giàu có, trở thành các siêu
địa chủ - tư sản, do họ trở thành chủ sở hữu thực tế
của toàn bộ tài sản quốc gia - điều ngay cả một ông vua
phong kiến cũng không sánh nổi.

Sau này Lenin có phát triển học thuyết Marx lên một bước cao
hơn, nhưng ông cũng chỉ đi sâu vào chuyên chính vô sản, vào
đấu tranh giai cấp. Đặc biệt, Lenine là người tuyệt đối
sùng bái Marx mà không nhận ra những sai lầm quan trọng mà Marx
mắc phải.

Cũng chính vì những hạn chế này, nên ngay trên quê hương ông,
ở nước Đức, Chủ nghĩa Marx đã từng có mặt hơn 40 năm (ở
Đông Đức) nhưng cuối cùng đã thất bại. Còn nước Anh, nơi
chủ nghĩa Marx ra đời, hiện không có một sự cấm đoán nào
về tư tưởng nhưng người dân vẫn nói không với chủ nghĩa
Marx. Thậm chí, có người còn cho rằng, đó chỉ là một waste
theory (lý thuyết bỏ đi). Một số đảng cộng sản trước
đây đã từng coi chủ nghĩa Marx là hệ tư tưởng nay cũng đã
thay đổi cương lĩnh.

Chúng ta đã trót yêu chủ nghĩa Marx, chúng ta không bài xích
chủ nghĩa Marx nhưng coi nó là một quốc đạo như xưa nay vẫn
làm thì quả là không ổn. Đó là chưa nói đến chuyện, ngoài
học thuyết Marx còn có vô số học thuyết khác cần phải
nghiên cứu, tham khảo. Trong phần XIV- ĐỔI MỚI VÀ CHÍNH ĐỐN
ĐẢNG, NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA
ĐẢNG" ở đoạn 1, dự thảo có đoạn: "<em>Kiên quyết
đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng; phê phán,
bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch.</em>" Một đảng
cầm quyền, tiên phong dẫn dắt dân tộc trong thế kỷ 21 mà
vẫn khư khư coi chủ nghĩa Marx - Lenin là nền tảng, khi ngay
trên quê hương sinh ra nó, chủ nghĩa này đã bị người ta
loại bỏ không luyến tiếc là một điều không bình thường.

(Thông tin về CN Marx có thể đọc ở địa chỉ:
http://www.marxists.org/vietnamese/)

(còn tiếp)

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6657), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét