<ul>
<li><a
href="http://www.diendantheky.net/2010/09/paulo-freire-va-chu-truong-giao-duc.html">Đoàn
Thanh Liêm - Paulo Freire và chủ trương "Giáo dục giải phóng con
người) - phần I</a></li>
</ul></div>
<h2>II – Giáo Dục Giải Phóng Con Người: Nội dung & Ảnh
hưởng</h2>
Trước khi đề cập đến nội dung của chủ trương "<em>Giáo
dục Giải phóng Con người</em>" của Paulo Freire, người viết
xin được kể sơ lược về cái duyên hạnh ngộ với nhà tư
tưởng nổi danh này, xuất thân từ xứ Brazil là quốc gia đông
dân nhất của Châu Mỹ La Tinh. Đó là vào cuối năm 1970, trong
dịp tham dự một hội nghị quốc tế tại Paris, nhằm thành
lập Institut Oecuménique au service du Développement des Peuples (INODEP
= Viện Đại kết Phát triển các Dân tộc), tôi đã được
gặp đích thân Paulo Freire là một thuyết trình viên chính của
Hội nghị, mà ông cũng còn được bầu là vị chủ tịch của
INODEP. Người tầm thước với bộ râu tóc dài đã điểm muối
tiêu của người đã bước vào tuổi ngũ tuần, Paulo Freire có
lối nói thật say mê sôi nổi, lôi cuốn như là một thi sĩ, mà
lại diễn giải quan điểm lý luận của mình với niềm xác
tín sâu sắc của một triết gia. Cử tọa gồm nhiều nhân vật
đại diện từ khắp năm châu đều chăm chú theo dõi bài nói
chuyện quan trọng, mà đầy nhiệt tình của ông. Rồi qua năm
1972, lúc tôi đến Geneva để trao đổi gặp gỡ với một số
vị tại văn phòng trung ương của Hội Đồng Tôn Giáo Thế
Giới (WCC World Council of Churches), thì tôi cũng gặp lại Paulo
Freire đang phụ trách về vấn đề giáo dục của tổ chức
này.
Mùa hè năm 1971, vào dịp đến tham dự một cuộc hội thảo
tại Mindanao Philippines, thì tôi thấy sinh viên ở đây chuyền
tay bán cho nhau cuốn sách "The Pedagogy of the Oppressed", ấn
bản địa phương đơn giản, chỉ có ruột sách, chứ không có
bìa riêng theo kiểu tự làm lấy, cho nên giá rất rẻ, có 2 US$
một cuốn thôi. Và dĩ nhiên là tôi cũng đã mua vài cuốn để
đem về cho các bạn ở Việt Nam. Chuyện nhỏ này lại càng
khiến tôi chăm chú theo dõi tư tưởng và đường lối giáo
dục của Paulo Freire suốt từ hồi năm 1970 cho đến nay.
<h2>A – Nét chính yếu của tư tưởng và hành động của Paulo
Freire</h2>
Có thể nói Paulo Freire luôn nhất quán về cả phần lý thuyết,
cũng như thực hành trong đường lối Giáo dục, nhằm giúp
khối quần chúng bị áp bức tìm ra cho mình một phương cách
cụ thể, hữu hiệu để tự giải thoát khỏi thân phận của
người bị áp bức, bị tha hóa do các điều kiện khách quan
của môi trường xã hội, cũng như chủ quan nội tại của bản
thân mình. Quan điểm của ông có tính chất triệt để, dứt
khoát là: Xã hội đương thời ở châu Mỹ La tinh, cũng như ở
nhiều nơi khác đều do bao nhiêu bất công, áp bức bóc lột
tạo ra nỗi lầm than cơ cực triền miên cho đa số quần chúng
nhân dân. Và không khi nào mà giới thống trị lại chịu tự
nguyện đứng ra chủ động việc cải thiện các định chế xã
hội vốn bảo vệ các đặc quyền đặc lợi cho riêng họ.
Như vậy, chỉ khi nào chính cái đại khối quần chúng là nạn
nhân của sự áp bức thống trị tệ hại đó, mà nhất quyết
dấn thân vào công cuộc giải phóng kiên trì để tự cứu
thoát lấy mình, thì xã hội mới có cơ may được xây dựng
tốt đẹp, và con người mới phục hồi được nhân phẩm cao
quý cho từng cá nhân được. Nói khác đi, chỉ khi nào chính
quần chúng nhân dân mà được thức tỉnh giác ngộ về vai trò
làm chủ nhân đích thực của xã hội, và cùng đồng lòng lăn
xả vào cuộc tranh đấu giải phóng đó, thì họ mới có
được một tương lai tươi sáng viên mãn, như từng mơ ước
từ bao nhiêu thế hệ xưa nay.
Với niềm xác tín như thế, Paulo Freire đã nhập cuộc với xã
hội quê hương mình, bằng cách phát triển phương thức giáo
dục tráng niên, thúc bách cho các học viên cần phải có sự
suy nghĩ với thái độ phê phán (<em>critical thinking =
conscientization</em>) về hiện trạng xã hội, mà họ là nạn
nhân của bao nhiêu áp bức bất công. Và rồi từ đó, chính
họ sẽ ra tay hành động, nhằm biến đổi xã hội hủ lậu
đó đi (<em>transformative action</em>). Do lối suy nghĩ và hành
động cụ thể, cấp tiến như vậy, mà ông đã bị phe quân
nhân cầm quyền ở Brazil bắt giữ, rồi trục xuất khỏi
nước vào năm 1964.
Trong thời gian sống lưu vong, ông có dịp đúc kết các suy nghĩ
và hoạt động của mình, để rồi trình bày trong hai cuốn
sách xuất bản hồi cuối thập niên 1960, và được nhiều
người đánh giá rất cao. Đó là cuốn sách đầu tiên có nhan
đề "Education, the Practice of Freedom", và đặc biệt là cuốn
"The Pedagogy of the Oppressed". Ta sẽ phân tích chi tiết rành
mạch hơn về tác phẩm quan trọng này trong một đoạn sau. Và
ông đã kiên trì tiếp tục tìm kiếm trong suốt cuộc đời còn
lại, nhất là kể từ ngày được trở về lại quê hương vào
năm 1980, để khai triển cho thêm phong phú hơn nữa cái chủ
trương giáo dục có tính cách khai phóng và nhân bản cao độ
này.
Tác giả Henry A Giroux nhận định về Freire rằng: "<em>Thực
ra, ông là người đã kết hợp được điều mà tôi gọi là
cả hai thứ ngôn ngữ phê phán với thứ ngôn ngữ khả
thể</em>" (In effect, Freire has combined what I call the language of
critique with the language of possibility).
<h2>B – Giới thiệu tác phẩm "Giáo dục của Người bị Áp
bức"</h2>
Trong cuốn sách 160 trang ngắn gọn, xúc tích với chỉ có bốn
chương này, Paulo đã phân tích khá rành mạch, dứt khoát về
chủ trương kiên quyết không thỏa hiệp với nền thống trị
đàn áp, vẫn ngự trị lâu đời trong xã hội đương thời,
đặc biệt là tại châu Mỹ La tinh là quê hương bản quán của
ông. Và sau khi cuốn sách ấn bản tiếng Anh ra đời vào năm
1970, tác giả lại còn có nhiều dịp trao đổi với các thức
giả khắp thế giới, và từ đó ông đã hoàn chỉnh hơn quan
điểm và lý luận của mình, như được trình bày trong nhiều
cuốn sách và bài báo xuất bản vào thập niên 1980-1990 nữa. Ta
có thể tóm gọn tư tưởng của ông trong mấy khía cạnh chính
yếu sau đây:
1 / Giáo dục đại chúng cốt yếu là một cuộc đối thoại
giữa "người dậy" và "người đi học" (a dialogue between
the educator and the learner), trong đó phải có sự tương kính lẫn
nhau giữa hai phía (mutual respect). Paulo Freire đặc biệt phê phán
cái lối dậy học "nhồi nhét", mà ông gọi là "banking
concept", tức là chỉ có người dậy chủ động chuyển mớ
kiến thức vào đầu óc của học viên, y hệt như việc ký
gửi các số tiền vào nơi chương mục tại ngân hàng (making
deposits). Như vậy, thì người học viên hoàn toàn đóng vai trò
"thụ động" của một đối tượng, chứ không hề được
khuyến khích để chủ động phát huy óc sáng tạo và sự suy
nghĩ có tính cách phê phán (critical thinking), để mà có thể
tự mình khám phá ra hoàn cảnh bị áp bức của mình và rồi
đưa đến một hành động thích đáng.
Thay vào đó, tác giả đề ra cái khái niệm "Giáo dục đặt
vấn đề" (<em>problem-posing concept of Education</em>), trong đó
cả hai phía người dậy và người học đều cùng hợp tác
với nhau trong một quá trình hỗ tương (<em>a mutual process</em>),
nhằm cùng nhau khám phá thế giới, và chung với nhau cố gắng
vươn tới một mức độ nhân bản viên mãn hơn (<em>their attempt
to be more fully human</em>).
2/ Cuộc đối thoại này không phải chỉ nhằm đào sâu sự
hiểu biết, mà còn là một phần làm thay đổi nơi thế giới.
Tự bản thân, sự đối thoại là một loại hoạt động có
tính hợp tác bao gồm sự tôn kính (a co-operative activity involving
respect). Quá trình này quan trọng, vì nó giúp tăng thêm sức
mạnh cho cộng đồng và đồng thời lại xây dựng nên nguồn
vốn xã hội (enhancing community and building social capital), mà lại
đưa dẫn chúng ta đến hành động cho công lý và phát triển
nở rộ về phương diện nhân bản (human flourishing) nữa.
Cơ sở cụ thể cho hệ thống giáo dục căn cứ vào sự đối
thoại này chính là nơi các"câu lạc bộ văn hóa" (culture
circle), trong đó các học viên và người phối hợp cùng nhau
bàn thảo về những "chủ đề khởi sinh" (generative themes),
mà có ý nghĩa trong bối cảnh cuộc sống thực tiễn của
người học viên. Các chủ đề này liên hệ tới thiên nhiên,
văn hóa, công việc làm và các tương quan xã hội, thì đều
được khám phá ra qua sự tìm kiếm chung nhau giữa nhà giáo
dục với học viên. Rồi các chủ đề đó được sử dụng
làm căn bản cho cuộc đối thoại trong phạm vi sinh hoạt nội
bộ của câu lạc bộ. Từ đó, mà dần dần diễn ra quá trình
cấu tạo được ý thức phê phán (critical consciousness) nơi các
học viên tham gia, với tư cách là chủ thể của xã hội, mà
chính họ đang cùng nhau ra sức xây dựng với quyết tâm của
cả tập thể của mình.
3/ Tính chất độc đáo trong tư tưởng của Paulo Freire chính là
việc ông đã khôn khéo tổng hợp đến độ nhuần nhuyễn
được kinh nghiệm của những nhà tư tưởng tiền bối, và đem
áp dụng vào đường lối giáo dục của ông. Điển hình là
phép biện chứng của triết gia Hegel giữa "ông chủ và đày
tớ", thì đã được Freire áp dụng trong lối "giải thóat
khỏi các hình thức độc đoán trong giáo dục" (liberation from
authoritarian forms of education). Chủ thuyết hiện sinh của Jean Paul
Sartre và của Martin Buber, triết gia Do Thái đã giúp Freire đưa
ra khái niệm về "sự tự biến đổi của người bị áp bức
để tiến vào trong lãnh vực của tình trạng liên chủ thể
tiến bộ" (the self-transformation of the oppressed into a space of
radical intersubjectivity). Kể cả thuyết duy vật lịch sử của
Karl Marx cũng ảnh hưởng tới quan niệm của Freire về lịch
sử tính của các mối quan hệ xã hội (historicity of social
relations).
Và chủ trương "Thần học giải phóng" cũng ảnh hưởng rõ
rệt đến quan điểm của Freire, khi ông cho là "Tình yêu
thương là điều kiện thiết yếu cho một nền giáo dục đích
thực". Rồi quan điểm cách mạng chống đế quốc của Ernest
Che Guevara và Frantz Fanon, tác giả cuốn sách nổi tiếng "Les
Damnes de la Terre", cũng ảnh hưởng đến sự phân tích của
Freire về tình trạng trầm đọng (sedimentation) của tư tưởng
của giới áp bức thống trị, mà vẫn còn hằn sâu nơi não
trạng của chính bản thân lớp người nạn nhân bị áp bức.
Và rồi từ đó, ông đã dấn thân hết mình vào công cuộc
tranh đấu chống lại chế độ thực dân đế quốc ở khắp
mọi nơi.
<h2>C - Ảnh hưởng của tư tưởng Paulo Freire trên thế
giới</h2>
Có thể nói Paulo Freire là mẫu "con người tri hành hợp
nhất" theo lối nói của Vương Dương Minh là nhà tư tưởng
nổi danh của Trung quốc ngày xưa. Ông không chỉ đơn thuần là
một lý thuyết gia, mà còn là một con người dấn thân hoạt
động hết mình cho lý tưởng giải phóng con người. Chủ
trương Giáo dục của ông tuy rất cương quyết dứt khoát,
triệt để tiến bộ, nhưng đầy tính nhân bản ôn hòa, khác
hẳn với khuynh hướng quá khích, bạo hành của lớp người
cộng sản Marxist tại châu Mỹ La tinh, cụ thể như Che Guevara,
Fidel Castro. Vì thế mà đại bộ phận quần chúng nhân dân tại
khu vực quê hương ông, vốn theo Thiên chúa giáo, đã tiếp
nhận tư tưởng của Freire một cách nồng nhiệt, phấn khởi.
Tại Phi châu cũng vậy, trong nhiều dịp đến làm việc tại
châu lục này, nhất là tại mấy nước trước đây cũng là
thuộc địa của Bồ Đào Nha, như Mozambique, Guinea Bissau, Paulo
Freire đã được đón tiếp một cách rất thân tình trân
trọng, bởi lẽ ông cùng chia sẻ cái thân phận của người
dân đã từng phải sống dưới sự thống trị hà khắc của
các chánh quyền thực dân đế quốc trước kia, cũng như của
các chế độ độc tài bản xứ trong giai đoạn độc lập tự
chủ hiện nay.
Tại Á châu, ông cũng được đón tiếp tại nhiều nơi như Ấn
độ, Papua New Guinea, và có nhiều dịp trao đổi với các giới
chức hoạt động trong lãnh vực giáo dục, cũng như hoạt
động cộng đồng.
Đã có nhiều quốc gia thiết lập các Viện Nghiên cứu Paulo
Freire (Paulo Freire Institute = PFI) nhằm cổ võ và quảng bá tư
tưởng của ông về lãnh vực cải cách giáo dục tráng niên,
cũng như thúc đẩy công cuộc tranh đấu cho công bằng xã hội
trên phạm vi toàn cầu. Điển hình như PFI tại Nam Phi, tại Tây
Ban Nha, tại Phần Lan, tại đảo quốc Malta, và dĩ nhiên tại
Brazil là quê hương của ông.
Riêng tại Mỹ, thì có FPI đặt tại đại học UCLA ở thành
phố Los Angeles California. Viện nghiên cứu này được thiết
lập năm 2002 và rất hoạt động với việc xây dựng những
mạng lưới liên kết giới học giả, nhà giáo, nhà hoạt
động xã hội, nghệ sĩ và các thành viên của cộng đồng.
Thông qua các cuộc gặp gỡ trao đổi thường xuyên, tất cả
các thành viên và các thân hữu của Viện FPI đều dồn nỗ
lực vào việc xây dựng công bằng xã hội, và sử dụng giáo
dục như là một phương tiện để tạo sức mạnh cho khối
quần chúng bị áp bức, bị khuất phục tại khắp nơi trên
trái đất.
Ngoài ra, cũng còn phải kể đến các Diễn Đàn Paulo Freire
(bi-annual PF Forums) được tổ chức mỗi năm hai lần, nhằm mở
rộng và nâng cao sự nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm của
những thức giả vốn theo đuổi đường lối giáo dục tiến
bộ do Paulo Freire đã khai phá từ trên nửa thế kỷ nay.
<h2>D – Thay lời kết luận</h2>
Có thể nói Paulo Freire là một con người toàn diện, vừa có
trình độ suy tư lý luận rất thâm hậu, mà cũng vừa là con
người dấn thân hoạt động suốt đời, không bao giờ mệt
mỏi. Ông được quần chúng mến phục không những do các tác
phẩm sâu sắc về triết lý giáo dục, về phương pháp vận
động khích lệ cho tầng lớp người bị áp bức bóc lột, mà
còn vì cái nhân cách sáng ngời, cái tinh thần khiêm cung của
ông, và nhất là vì tấm lòng tha thiết yêu mến tột cùng
đối với nhân quần xã hội nữa.
Quả thật Paulo Freire là một tiêu biểu rất xứng đáng, là
niềm tự hào cho tầng lớp sĩ phu trí thức của xứ Brazil,
cũng như của toàn thể châu Mỹ La tinh.
<em>California, Tiết Trung Thu Canh Dần 2010</em>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6501), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét