width="200" height="300" alt="Nguyen-khac-mai-200.jpg" /><div
class="textholder">Ông Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Vụ
Nghiên Cứu, Ban Dân vận Trung ương, hiện là giám đốc Trung
tâm nghiên cứu Văn hoá Minh Triết. Courtesy bee.net.vn</div></div>
Gần đây tôi được dự những sinh hoạt học thuật, khi thì
ở diễn đàn của Hội đồng Lý luận Trung ương, khi thì ở
một vài cuộc hội thảo của giới trí thức, nghiên cứu
những vấn đề văn hóa, phát triển xã hội, đất nước. Quả
thật đang có một tiến trình, tranh luận, tìm tòi để cùng
với Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam kiến tạo
một sự đồng thuận xã hội mới góp vào nhận định con
đường và giải pháp phát triển Dân tộc, Đất nước Việt
Nam trong nhịp đi của nhân loại vào thế kỷ XXI.
Bài viết này, với thái độ "quốc gia hưng vong thất
phu hữu trách", tôi mạnh dạn tập hợp những suy nghĩ của
mình đã trình bày nơi này, nơi khác, và tập trung vào một số
vấn đề mà cá nhân tôi cho là có ý nghĩa then chốt.
Trước hết, phải nói đến mục tiêu lý tưởng của Dân
tộc. Rõ ràng dù thời đại đổi khác ba chữ Độc lập –
Tự do – Hạnh phúc luôn là cái đích ta ngắm đến, những
chuẩn mực để hành động đạt tới sự thống nhất giữa
hành vi cá nhân và cả cộng đồng dân tộc. Lý tưởng ấy
đang được thành những tiêu chí tổng quát: Nước giàu – Dân
mạnh (nói theo Hồ Chí Minh: Quốc phú - Dân cường) xã hội dân
chủ, công bằng, văn minh.
Như thế mọi giải pháp để thực hiện những tiêu chí đó,
phải có tính Thời chính – nghĩa là tính thời gian và tính
chính trị. Nhằm làm sao để trong vòng 20 - 30 – 40 năm nữa
Đất nước ta, Dân tộc ta, Xã hội Việt Nam ta đạt tới một
chất lượng mới của cuộc sống.
Có 4 điều được coi như giải pháp then chốt để thực hiện
công cuộc phục hưng dân tộc và để thực hành các chương
trình kế hoạch, chiến lược kinh tế - văn hóa – xã hội –
chính trị, cần quan tâm nghiên cứu để giải quyết.
<strong>I. Đối với lý tưởng "Nước giàu, dân mạnh, xã
hội dân chủ, công bằng văn minh" thì giải pháp nền tảng
là gì? Chính là xây dựng nền Dân chủ</strong>. Bởi Dân chủ
là đích đến, lại là môi trường hoạt động, mà cũng là
phương thức để thể hiện cái lý tưởng Độc lập – Tự do
– Hạnh phúc. Một vấn đề đặt ra vừa là mục tiêu tốt
đẹp, vừa là cái trường (milieu) hoạt động lại vừa là
phương thức để tiến hành, nó chính là giải pháp nền tảng.
Cùng với giải pháp nền tảng, giải pháp chiến lược được
coi như những vấn đề then chốt (question de clé) để từ đó
mở ra các quá trình, các lĩnh vực nhằm thực hiện và thể
hiện quá trình xây dựng, tổ chức, thực hành nền Dân chủ,
làm cho toàn xã hội thực sự sống cái đời sống dân chủ,
thể hiện được dân chủ trong toàn bộ hành vi của cộng
đồng của xã hội. Vì thế K. Mác mới tuyên bố xây dựng
một cộng đồng kiểu mới trong đó tự do của mỗi cá nhân
là tiền đề của tự do toàn cộng đồng (xã hội). (Xem Tuyên
ngôn của các đảng cộng đồng chủ nghĩa - communiste).
Có ba giải pháp chiến lược:
- Một là xã hội dân sự hay xã hội công dân.
- Hai là một nền hành chính của Dân, do Dân vì dân.
- Ba là một chính đảng cách mạng phục vụ nhân dân.
Những giải pháp cụ thể còn gọi là giải pháp tình thế. Ví
như cải cách thủ tục hành chính, cuộc vận động chống tham
nhũng, việc sửa đổi luật pháp và tư pháp, những chính sách
kinh tế - xã hội – văn hóa và khoa học giáo dục ...
Các giải pháp nền tảng, giải pháp chiến lược và giải pháp
tình thế phải làm tiền đề lẫn cho nhau, thực hiện liiên
hoàn với nhau. Ví dụ dễ thấy là các cuộc cải cách hành
chính không thực hiện liên hoàn với đổi mới kinh tế và
đổi mới chính trị cho nên nó đã tiến hành bằng những
bước ỳ ạch tựa như dùng phương tiện cỗ xe trâu để
chuyên chở trong thời hiện đại. Một sự trì trệ, ỳ ạch,
chậm chạp đến sốt ruột, và tất nhiên về mặt xã hội nó
gieo hại nhiều hơn là cái vẻ cẩn trọng của nó. Không thể
hình dung nổi, ví như Đảng lại có thể tự mình văn minh,
tiến bộ, trong sạch nếu cứ khép kìn mình lại để "tu
thân". Một tổ chức xã hội chỉ có thể "lớn" lên trong
xã hội(!).
Có một câu hát say sưa nồng nhiệt, hồ hởi đầy cảm hứng
cách mạng và dân tộc thời kỳ Tháng Tám Bốn lăm (tháng
8/1945): <strong>"Tiến lên nền Dân chủ cộng hòa"</strong>
Dân chủ cũng là cảm hứng cách mạng, là mong ước, là lựa
chọn của nhân dân từ khi lịch sử Việt Nam bước vào thời
kỳ hiện đại đầu thế kỷ 20 với các chí sĩ yêu nước,
cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh v.v... Câu nói nổi
tiếng của các cụ mà sau này nhiều lần Hồ Chí Minh đã lặp
lại là <em><strong>"Tranh được độc lập rồi mà Dân không
có dân chủ, dân quyền thì cũng chẳng nghĩa lý
gì."</strong></em> Đến cách mạng Tháng Tám thì nhân dân đã
lựa chọn Dân chủ cộng hòa. Không thể đánh đổi nguyện
vọng của dân tộc, của nhân dân mà "thành công, thành
nhân" được.
Khi Hồ Chí Minh nói <em>"bao nhiêu quyển lực là của Dân, bao
nhiêu lực lượng là ở nơi Dân, bao nhiêu lợi ích đều vì
Dân, kháng chiến kiến quốc là công việc của Dân"</em>, thì
chúng ta thấy giải pháp dân chủ là giải pháp nền tảng. Vì
có thực thi dân chủ mà Hồ Chí Minh khẳng định là thực sự
chứ không là hình thức và nhỏ giọt như chúng ta từng chứng
kiến, dân chủ mở rộng chứ không nửa đóng nửa khép; là
dân chủ triệt để chứ không phải nửa vời, thì chỉ có như
thế mới huy động được mọi tài năng sáng kiến của nhân
dân, mới làm cho dân trở thành chủ thể của sự nghiệp
"kháng chiến kiến quốc".
<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div> Một quan niệm chế độ
công hữu là chủ thể chứng tỏ một sự lạc hậu về tư duy
và đồi trụy về nhân cách. Người ta muốn trở lại thời
kỳ mông muội.<img class="quoright" src="/misc/quoright.png"/> <br
class="quoteclear"></div><div class="quoteauthor">» Nhà nghiên cứu Minh
Triết Nguyễn Khắc Mai</div></div>
Phải kiến tạo một nền dân chủ để cho Dân "dùng được
quyền dân chủ, hưởng được quyền dân chủ" (chữ của Hồ
Chí Minh – Xem bài nói chuyện với nông dân Hà Tây năm 1967).
Thực sự đề cao quyền lực của nhân dân. Đây là một cuộc
tranh chấp lịch sử giữa nhân dân và các hình thức chính
quyền. Mọi hình thức chính quyền sau những lời hứa "o
bế" nhân dân đều tìm mọi cách hạn chế đến tối đa các
quyền lực của nhân dân. Đó là một sự thực. Vì thế tất
cả các nền dân chủ hiện thực nếu có điều gì đó tiến
bộ là nhờ biết mở rộng và thực thi những giải pháp cụ
thể như:
<div class="special_quote">- Thi hành một luật bầu cử tiến bộ
bảo đảm được sự tự do lựa chọn người đại diện của
dân.
- Thực thi luật trưng cầu ý dân nghiêm túc về tất cả những
vấn đề cơ bản của một nền dân chủ như chế độ chính
trị, thể chế nhà nước và những vấn đề quan trọng liên
quan trực tiếp đến quốc kế dân sinh.
- Thi hành một chế độ tự do tư tưởng, tự do ngôn luận,
xuất bản và báo chí. Nếu trong chế độ phong kiến ngày xưa
các vua hiền thường cho quan đi lượm lặt ca dao để căn cứ
vào đó mà sửa đổi triều chính, thì ngày nay trong thời hiện
đại vấn đề tự do ngôn luận mới là các kênh quan trọng
để dân điều chính bộ máy chính quyền và để chính quyền
biết được lòng dân, ý dân để sửa đổi chính sách và lề
lối. Chính vì tầm quan trọng như thế mà Hồ Chí Minh từng
nói một cách dân dã và quyết liệt rằng: dân chủ là để cho
dân mở miệng ra! Tất cả những nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác đều rất coi trọng vấn đề này. Có một câu hỏi được
đặt ra là cớ sao trong thực tế cấc nước tự xưng theo học
thuyết chủ nghĩa cộng đồng (Kommunist) lại thường yếu kém
về vấn đề này. Muốn thực hiên "dân chủ" không thể
không phân tích và mổ xẻ.
- Thi hành một đường lối kinh tế trong đó vừa có thị
trường văn minh, mọi lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ đều minh
bạch, tôn trọng sự bình đẳng chứ không phải thiên vị
</div>
Phe nhóm lợi ích khiến cho "dân đen" bị gạt ra rìa. Đặc
biệt là công nhận quyền sở hữu của dân rành mạch, không
tù mù khiến khả năng tước đoạt lợi ích của Dân dễ dàng
xảy ra. Một quan niệm chế độ công hữu là chủ thể chứng
tỏ một sự lạc hậu về tư duy và đồi trụy về nhân cách.
Người ta muốn trở lại thời kỳ mông muội. Ở chế độ
cộng đồng nguyên thủy mọi tư liệu, tài nguyên, sản phẩm
hái lượm và săn bắt đều là công hữu. Thời phong kiến tư
tưởng công hữu của nhà vua theo công thức "phổ thiên chi
hạ mạc phi vương thổ" (mọi đất đai dưới gầm trời đâu
cũng là của nhà vua). Công hữu đến thế là cùng. Nhưng thời
đại đã vượt qua. Một chế độ tư hữu, hay là sở hữu
của người dân, của công dân đang là luật, là đạo lý văn
minh đương đại. Nói dân chủ mà người công dân bị tước
mất quyền sở hữu tài sản, trong đó có đất đai chỉ là
nói suông mà thôi. Không phải ngẫu nhiên mà năm 1957 sau cải
cách ruộng đất, Hồ Chí Minh đã quan niệm: nông dân có tư
hữu đất, đó mới là "cộng đồng chủ nghĩa" (cộng
sản). Quan niệm ấy của Hồ Chí Minh chỉ ra rằng ruộng đất
trong quyền tư hữu của nông dân mới thật là chí công.
Về nền dân chủ và chế độ dân chủ của nước ta hiện nay
lại càng phải suy ngẫm theo một tư tưởng của K. Mác:
<em>"Chế độ dân chủ là câu đố đã được giải đáp của
mọi hình thức nhà nước. Ở đây chế độ nhà nước ngày
càng hướng tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực.
Và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân
dân"</em>.
Dưới chế độ dân chủ <em>"không phải con người tồn tại
vì luật pháp mà luật pháp tồn tại vì con người."</em> (K.
Mác Góp phần phê phán tư tưởng pháp quyền của Hegel).
Ta cũng có thể phụ họa với Hồ Chí Minh để nói <em>"Dân
chủ là để cho dân dùng và hưởng chứ không phải để cho
quan thao túng biến thành quan chủ"</em>.
<strong>II. Giải pháp chiến lược 1. "Đổi mới tư duy, tổ
chức và phương thức hoạt động của Đảng.</strong>
- Trước hết nói về tên gọi. Điều này liên quan mật thiết
đến đường lối chính trị của Đảng. Về nguyên tắc một
đảng Mác – xít có quyền đặt những tên khác nhau: Đảng Lao
động, Đảng Dân chủ Nhân dân. Nhưng khi đã chọn cái tên
Kommunist thì phải thật sự chính danh. Tên gọi cộng sản là do
người Nhật dịch rồi truyền sang Trung Hoa, truyền sang Việt
Nam. Từ những năm 20, 30 của thế kỷ XX không những các nhóm
"cộng sản" ở ba kỳ gọi tên như thế mà chính sách báo
trong xã hội cũng gọi như thế. Trong Từ điển Pháp Việt của
Đào Duy Anh cũng dịch communisme là chủ nghĩa cộng sản. Thật
ra trong thuật ngữ đảng communist của Mác và Ăng – ghen không
hề có từ tố "sản". Nó chỉ có nghĩa là "chủ nghĩa
cộng đồng". Chúng ta cần hiểu ý tứ ấy trong Tuyên ngôn
của các đảng Kommunist do Mác và Ăng Ghen công bố năm 1848.
Tuyên ngôn ấy khẳng định thay cho một cộng đồng kiểu cũ
là một cộng đồng kiểu mới, trong đó sự phát triển tự do
của mỗi cá nhân là tiền đề của sự phát triển tự do toàn
xa hội.
Chính Hồ Chí Minh cũng gợi cho chúng ta một ý. Có lần Người
nói "Chớ dán nhãn cộng sản lên trán". Nhãn (tên gọi)
cộng sản là không chính xác. Phải trả lại nghĩa đích thực
của Kommunisme là chủ nghĩa cộng đồng.
Cần phải loại bỏ những yếu tố tư tưởng của hệ thống
"xô viết" và "Diên An" ra khỏi mọi tư duy của Đảng.
Ngày nay trình độ kiến thức, học vấn của đảng viên đủ
sức để phân tích, thanh lọc những gì là lạc hậu, phi lý,
sai và nhầm lẫn giữa những giá trị "Minh triết" của lý
luận đích thực Mác - xít và những gì là do hoặc là "thày
Tàu" hoặc là "thày Xô viết" truyền đạt.
Trước hết là cảm thức để hành động cho một "chủ nghĩa
cộng đồng" (không phải là cộng sản như trăm năm nay đã
nhận lầm). Ăng Ghen trong tác phẩm Những người cộng đồng
chủ nghĩa và K. Heinzen đã viết <em>"Chủ nghĩa cộng đồng
không phải là một học thuyết mà là một phong trào. Nó xuất
phát không phải từ những nguyên tắc mà từ những sự thật.
Người cộng đồng chủ nghĩa không lấy thứ triết học này
nọ mà lấy toàn bộ quá trình lịch sử trước đây và đặc
biệt là những kết quả thực tế của quá trình trước mắt
tại các nước văn minh làm tiền đề của họ."</em> Chính
Mác trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức cũng khẳng định
<em>"Đối với chúng ta chủ nghĩa cộng đồng không phải là
một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi
phong trào chủ nghĩa cộng đồng là một phong trào hiện thực,
nó xóa bỏ trạng thái hiện nay."</em> Những người cộng
đồng chủ nghĩa Việt Nam nên sớm suy ngẫm lại từ những
gợi ý phương pháp luận của Mác và Ăng Ghen là hai vị tổ sư
của phong trào để có thể có được "chính danh" của phong
trào. Vấn đề có chính danh hay không quả thật là vấn đề
hệ trọng. Hãy suy nghiệm về tư tưởng chính danh của Khổng
Tử: <em>"Danh không chính thì lời lẽ không thuận, mọi việc
không thành (kết quả) lễ nhạc (văn hóa, đạo đức) không
chấn hưng được, hình luật không định, cuối cùng dân chúng
không biết đặt tay chân vào đâu"</em> (làm lụng để sống).
Vấn đề chính danh quan trọng như thế, thực tế đã chứng
minh không thể coi thường. Cả tên Đảng, cả tên Nước đều
nên nghĩ từ tư tưởng chính danh và tác động hệ thống của
nó để xác lập cho đúng. Nhân câu chuyện "chính danh", tự
nhiên tôi nhớ tới luận điểm thiên tài của Hồ Chí Minh là
Ngày nay cần phải bổ sung chủ nghĩa Mác bằng Dân tộc học
phương Đông.
Về tổ chức và phương thức hoạt động của Đảng nên soi
lại từ nhận xét của Hồ Chí Minh: Đảng ta có khuyết điểm
lý luận kém và dân chủ trong đảng kém. Một đảng cách mạng
thật xứng danh với dân tộc mình trong thời hiện đâị phải
tổ chức sao cho đạt tới hai phẩm chất cao quý để hợp với
"chính danh" là đảng của những người cộng đồng chủ
nghĩa. Đó là Trí tuệ và Dân chủ. Đảng của những người
cộng đồng chủ nghĩa phải xây dựng để đạt được hai
phẩm chất của thời đại mới đó. Ngày nay đảng có cơ hội
và đội ngũ nhân lực đủ trình độ để về mặt trí tuệ
thì xem xét lại từ những vấn đề lý thuyết và thực tiễn
then chốt của phong trào (cả lý thuyết, cả thực tiễn đúng,
sai, hay, dở...). Về mặt tổ chức phải gạt bỏ cho được
tàn tích của mô hình lạc hậu, quan liêu, độc đoán, coi
thường đảng viên (có nghĩa là coi thường toàn đảng). Hồ
Chí Minh luôn đặt vấn đề dân chủ trong đảng, lại nêu lên
một khát vọng đảng là đạo đức, là văn minh. Cả hai tiêu
chí đạo đức và văn minh đều đòi hỏi đảng khắc phục cho
được những nghịch lý còn quá nhiều giữa những tư tưởng
Minh triết mác - xít với những vấn đề "lý luân" và thực
tiễn mà đảng Cộng sản Việt nam đang tuyên bố và hành
động. Chẳng hạn như mối quan hệ đảng viên và cán bộ lãnh
đạo. Đảng CSVN (thực chất là ban lãnh đạo của Đảng hiện
nay) vẫn lấy tư duy độc tài độc đoán của Staline về chuyên
chính và tập trung để ứng xử. Trong khi đó Ăng Ghen đã phải
lưu ý tình trạng không lành mạnh, nghĩa là không "cộng
đồng chủ nghĩa" rằng: <em>"Cuối cùng cũng phải làm sao
để mọi người chấm dứt kiểu cư xử với các quan chức
của đảng – những người đầy tớ của mình – luôn luôn
bằng sự tế nhị đặc biệt và thay cho sự phê bình lại ngoan
ngoãn vâng lời họ như những kẻ quan liêu không bao giờ mắc
sai lầm."</em> (Ngày hội của các dân tộc ở Luân Đôn). Mối
quan hệ quan trọng nhất trong tổ chức đảng đã giảm mất
tính chất đạo đức văn minh kể từ lời nhận xét của Ăng
Ghen.
Một vấn đề vừa lý luận vừa thực tiễn, đó là một tổ
chức xã hội (đảng) chỉ có thể phát triển lành mạnh vừa
văn minh vừa đạo đức, nó không thể khép kín mình lại chỉ
coi phê bình tự phê bình nội bộ là quy luật phát triển mà
đủ. Bất cứ tổ chức xã hội nào muốn phát triển lạnh
mạnh phải đặt mình trong những quan hệ xã hội thật sự văn
minh đạo đức. Tách khỏi xã hội, đứng cao, đứng ngoài xã
hội đều dẫn đến khả năng suy đồi. Cho nên Hồ Chí Minh
luôn nhắc: Đảng phải do dân tổ chức (nghĩa là tổ chức theo
đòi hỏi văn minh và đạo đức của xã hội). Hồ Chí Minh
lại nói Đảng cũng ở trong xã hội. Hiện tượng Đảng tự
coi mình đứng ngoài sự kiểm soát, giám sát, phê bình của xã
hội là lạc hậu và sai lầm.
Cần phải nghiêm túc và quyết tâm thực hiện dân chủ trong
phương thức hoạt động của đảng, dù ở phạm vi nội bộ
hay trong những mối quan hệ với nhà nước, với xã hội.
Đảng không được biến mình thành một thứ siêu quyền lực.
Vì như thế sẽ trở thành đảng trị rập khuôn với thể chế
phong kiến gia trưởng từng tồn tại lạc hậu trên đất
nước ta.
<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Mời gọi mọi lực
lượng của dân tộc để chấn hưng dân tộc sau chiến tranh,
để thực hiện sự thống nhất trọn vẹn của đất nước,
để "sánh vai với cường quốc năm châu" trong thế toàn
cầu hóa hôm nay trở thành lợi ích và nhu cầu của Dân tộc
mà cũng sẽ là một hòn đá thử lòng trung thành của một
chính đảng đối với Dân với nước. Chắc chắn Đảng CSVN
không thể mãi né tránh vấn đề này.<img class="quoright"
src="/misc/quoright.png"/> <br class="quoteclear"></div><div
class="quoteauthor">» Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Văn hoá Minh
Triết Nguyễn Khắc Mai</div></div>
Nói về tổ chức hoạt động của đảng cũng cần nhắc đến
quan niệm Mác xít cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.
Hồ Chí Minh cũng luôn luôn nhắc nhở đảng và đảng viên
phải ý thức được vai trò và lực lượng của nhân dân, của
xã hội. Chính trong Tuyên ngôn các đảng cộng đồng chủ nghĩa
Mác và Ăng Ghen cũng khẳng định một nguyên lý phải tôn
trọng đa nguyên chính trị khi nói các đảng cộng đồng chủ
nghĩa phải biết liên hiệp, đoàn kết với các đảng dân
tộc, dân chủ. Sự thủ tiêu các đảng dân tộc dân chủ là
mô hình xô viết của Liên xô và nó đã chứng tỏ sự lạc
hậu về nhận thức và năng lực tổ chức khiến mô hình xã
hội và đảng chính trị ở Liên xô trở thành một mô hình
kém dân chủ trong thế giới văn minh. Đây là một vấn đề
khách quan của sự nghiệp kiến quốc của dân tộc Việt Nam,
Đảng CSVN cần có ý thức và chuẩn bị tốt cho một tiến
trình dân chủ trong thời đại mới này. Thái độ khôn ngoan
sẽ là không làm chú đà điểu tự rúc đầu trốn trong cát và
tự nhủ thầm không hề có bão cát trên sa mạc.
Mời gọi mọi lực lượng của dân tộc để chấn hưng dân
tộc sau chiến tranh, để thực hiện sự thống nhất trọn vẹn
của đất nước, để "sánh vai với cường quốc năm châu"
trong thế toàn cầu hóa hôm nay trở thành lợi ích và nhu cầu
của Dân tộc mà cũng sẽ là một hòn đá thử lòng trung thành
của một chính đảng đối với Dân với nước. Chắc chắn
Đảng CSVN không thể mãi né tránh vấn đề này.
Lý luận và thực tiễn đang đặt ra vấn đề tính pháp lý
(đầy đủ) của Đảng. Trong Hiến pháp (1992) đã có điều 4
nói về vai trò lãnh đạo (tuyệt đối) của Đảng. Hiến pháp
của nhiều nước cũng có điều khoản nào đó công nhận vai
trò lãnh đạo chính trị hay tinh thần của một thực thể xã
hội nào đó. (Ví dụ đối với một hoàng gia chẳng hạn). Tuy
nhiên nếu điều 4 được ghi nhận bằng một trưng cầu ý dân
thì văn hóa, văn minh và thật dân chủ hơn. Nhưng ở nước ta
mọi thực thể xã hội từ một cá nhân cho đến một cộng
đồng đều sống và hoạt động vừa có hiến định vừa có
luật định. Dường như chỉ có Đảng CSVN là thiếu luật
định. Đó là chỗ thiếu sót cần bổ sung tính pháp lý của
Đảng.
Có một vấn đề nữa vừa có tính lý luận, vừa có tính
đạo đức. Đó là những cộng đồng (tập thể) nào đó của
Dân tộc đều có quyền lựa chọn chủ thuyết (độc nguyên)
cho mình. Thiên chúa giáo cũng thế, Phật giáo cũng thế, Đảng
Cộng sản cũng thế, có quyền coi chủ nghĩa Mác – Lênin là
tư tưởng độc nguyên chủ đạo của mình. Nhưng biến nó
thành độc nguyên, duy nhất của Dân tộc là sai lầm. Đảng
phải biết tôn trọng quyền không chọn "cộng sản" của
những người khác mình.
<strong>III. Giải pháp chiến lược 2. Xây dựng Nhà nước của
Dân, vì Dân, do Dân.</strong>
Chúng ta đã có một Nhà nước mang hình thức dân chủ. Nó đã
có hiệu lực trong quản lý Đất nước và Xã hội, đạt
được nhiều thành tựu quan trọng trong kinh tế, văn hóa, xã
hội và đối ngoại. Tuy nhiên nó đang bộc lộ những bất cập
trên cả 3 phương diện:
- Thiết chế, định chế
- Tư pháp
- Bộ máy công quyền
<span class="underlined-text">Về thiết chế, định chế</span> thì
lớn nhất bao trùm nhất vẫn là tính chất và bản chất pháp
quyền. Cái tuyên bố pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực chất
là một tuyên bố duy ý chí, nó chỉ xuất phát từ một số ý
đồ chính trị chủ quan, nó mâu thuẫn cả về lý thuyết và
thực tiễn.
Về lý thuyết thì K. Mác khẳng định: <em>"Khi, cùng với sự
phát triển về mọi mặt của cá nhân, sức sản xuất cứ ngày
càng tăng lên, và các nguồn của cải công cộng đều tuôn ra
dồi dào – thì chỉ khi đó người ta <span
class="underlined-text">mới có thể vượt hẳn ra khỏi cái giới
hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản</span>"</em>. (N. Mác
Phê phán cương lĩnh Gôtha).
Thế mà ngay ở các nước tiên tiến nhất hành tinh hiện nay
cũng chưa hội đủ hai điều kiện vật chất để có thể
kiến tạo một thứ pháp quyền nào khác cái pháp quyền tư
sản. (Nên lưu ý khái niệm tư sản chủ yếu để chỉ những
con người của đô thị và công nghiệp. Hoàn toàn khác xa cách
hiểu tư sản là nhà giàu bóc lột). Ở Việt nam hiện nay cả
yếu tố con người, cả yếu tố sức sản xuất đều thấp và
lạc hậu thì sự "nhẩy cẫng" vượt khỏi pháp quyền tư
sản để hình thành pháp quyển xã hội chủ nghĩa, nếu có,
chỉ có ở một vài người đạt phép thần thông "cân đẩu
vân" như Tôn Ngộ Không. Còn toàn xã hội thì muốn vượt
cũng không vượt được. Những khẩu hiệu với kiến thức
hẹp hòi phiến diện duy ý chí chỉ càng làm rối ren thêm các
bước xây dựng nhà nước. Đó chính là bệnh ấu trĩ tả
khuynh của những người cộng đồng chủ nghĩa.
Trong thực tế hiện nay đang có mâu thuẫn giữa những tư
tưởng nhân văn, tiến bộ về thiết chế và định chế nhà
nước của Mác – Ănghen, Hồ Chí Minh với thực tế của bộ
máy nhà nước hiện thực. Nếu tuyên bố theo định hướng xã
hội chủ nghĩa thì phải thật thà làm theo tư tưởng tiến bộ
của Mác, của Hồ.
Liên quan đễn vấn đề pháp quyền nói trên là chuyện tam
quyền phân lập. Thực tế từng bước chững minh cho người
Việt Nam là nhân loại khôn ngoan khi nêu ra được sự phân
lập. Cái rạch ròi phân và lập rõ chức năng, tính chất và
phương thức của từng hệ thống quyền giữa ba lĩnh vực Lập
pháp, Tư pháp và Hành pháp khiến cho mỗi hệ thống quyền lực
ấy có thể vận hành, thực hiện ngày càng tốt, càng đầy
đủ chức năng, nội dung và phương thức của mình. Càng sớm
phân lập rành mạch càng sớm làm cho việc xây dựng nhà nước
pháp quyền của Dân do Dân và vì Dân nhanh chóng trưởng thành.
Nếu đặt rõ ai là chủ thể của nhà nước chúng ta sẽ thấy
đơn giản hơn trong việc thực thi một thiết chế và định
chế chính trị thật sự tôn trọng cái giá trị khách quan của
tam quyền phân lập. Bởi vì chính là Dân mới cần cái lợi
ích tam quyền phân lập này.
Còn có cả một loạt vấn đề cụ thể để có một nhà
nước thực sự của, do và vì Dân. Như vấn đề tên nước sao
cho chính danh. Như thể chế chính trị theo chế độ Chủ tịch
nước, hay theo thể chế chính phủ. Làm sao để quyền hành
pháp không phân tán như hiện nay. Như vấn đề tổ chức quốc
hội lập pháp và hành pháp tách ra và chuyên môn hóa, khiến cho
nghị sĩ quốc hội trong nhiệm kỳ phải chuyên tâm làm việc
quốc hội chứ không kiêm nhiệm như hiện nay. Có thể giảm
số lượng nghị sĩ từ 200 đến 250 mà chuyên môn hóa có
điều kiện cần thiết để làm nhiệm vụ nghị sĩ.v.v...
<strong>Về luật pháp</strong>, mặc dầu chúng ta đã xây dựng
một hệ thống pháp luật đã phát huy tác dụng điều tiết,
điều chỉnh hành vi của con người và của tổ chức xã hội
trong cấc lĩnh vực, nhưng mặt yếu kém lớn nhất là hệ
thống quyền lực này chưa đặt trong nhận thức đúng tầm văn
minh của nhân loại đương đại. Đó là sự phân lập của
quyền Tư pháp.
Mặt khác, xã hội dân sự, quyền công dân chưa có
cơ sở pháp lý để xác lập những quyền quan trọng của mình
như quyền sở hữu, quyền sở hữu đất đai. Người dân không
có đầy đủ các quyền sở hữu sẽ chỉ là thân phận thần
dân, tính chất công dân tự do cao quý đã bị tha hóa, cắt xén
mất. Về những quyền ngôn luận, quyền báo chí, quyền tự do
tư tưởng v.v... đã bị cắt xén, thu hồi, thậm chí lạc hậu
hơn cả thời kỳ đầu của nền Dân chủ cộng hòa. Hồi ấy
Bộ trưởng bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng theo chỉ thị của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ban bố văn bản pháp lý công
nhận quyền tự do xuất bản báo chí của tư nhân!
Khi một bộ máy nhà nước tùy tiện giữ cho mình quá nhiều
quyền ban hành chế độ, thủ tục theo hình thức nghị định,
thông tư, chỉ thị thì nó chứng tỏ tính lạc hậu, bảo thủ,
bởi từ năm 1919 trong bản điều trần ở Hội nghị Versailles
Nguyễn Ái Quốc đã từng lên tiếng đòi phải thay chế độ ra
các nghị định bằng chế độ ban hành luật.
Đổi mới, tu chỉnh, bổ sung làm cho hệ thống luật pháp
hoàn chỉnh, nhân văn và tiến bộ là tiền đề quan trọng để
thực thi Dân chủ, Dân quyền, Dân trị.
<strong>Vấn đề bộ máy công quyền</strong>.
Bộ máy công quyền thực chất là lực lượng vật chất để
thi hành "Dân chủ, Dân quyền, Dân trị". Hiện nay nó đang
bộc lộ những yếu kém – "Hành dân là chính", cồng kềnh,
quan liêu và kém trong sạch. Phải sửa đổi những yếu kém ấy
thì bộ máy công quyền mới trọn vẹn làm được hai việc.
- Thứ nhất là tự mình thực hiện Dân chủ, Dân quyền, Dân
trị.
- Thứ hai là tạo điều kiện cần và đủ để phát huy dân
chủ của các thiết chế xã hội khác.
Hiện nay xã hội luôn luôn đụng đầu với 3 vấn nạn của
bộ máy công quyền:
<strong>Một</strong> là khái niệm công chức thiếu rành mạch.
Cần phân biệt rõ công chức chỉ là đội ngũ của những
người làm việc trong các cơ quan hành chính. Những người làm
việc trong những hệ thống sự nghiệp như trong giáo dục, y
tế, trong doanh nghiệp quốc doanh, trong đảng và các đoàn thể
không nên coi là công chức. Có rạch ròi như thế mới xây
dựng được đội ngũ công chức đúng nghĩa của nó.
<strong> Thứ hai</strong> là phải mạnh mẽ cải tiến thủ tục
hành chính, gạt bỏ đến tối đa những phiền hà làm chậm
trễ các hoạt động dân sự.
<strong> Thứ ba</strong> là chất lượng đội ngũ. Từ 3/09/1945
Hồ Chí Minh trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ dân chủ
cộng hòa, đã nêu vấn đề kỹ thuật hành chính. Để có kỹ
thuật hành chính tốt và tiên tiến phải coi trọng chất
lượng đội ngũ công chức. Ngoài chuyên môn nghiệp vụ ngày
nay phải coi trọng xây dựng lương tâm nghề nghiệp, tức là
đạo đức công chức.
Cố nhiên để có một đội ngũ công chức giỏi chuyên môn
nghiệp vụ, liêm khiết và trọng Dân phải có chế độ đãi
ngộ tương xứng. Năm 1954 trước khi cán bộ và bộ đội về
thành Hồ Chí Minh từng nói nếu về thành mà lương không đủ
sống thì chỉ có hai cách, một là ăn cắp của chính phủ, hai
là nhũng nhiễu dân. Trong khi chưa giải quyết được chế độ
đãi ngộ Hồ Chí Minh căn dặn phải gồng mình lên bằng đạo
đức. Cho đến nay vấn đề lương của công chức vẫn đang
còn là một vấn nạn. Chính sách lương sai lầm đã là một
tác nhân lớn khiến làm rối loạn các thang giá trị, đạo
đức của xã hội.
Về xây dựng nhà nước của Dân do Dân và vì Dân nên thấm
nhuần một minh triết mà Nguyễn Trãi từng nêu ra đã hơn sáu
thế kỷ nay:
<center><em>Rày mừng thiên hạ hai của,
Tể tướng hiền tài, chúa thánh minh.</em></center>
Có nghĩa là phải tạo ra cho được một chất lượng sáng
suốt của lãnh đạo kết hợp với một năng lực tài đức
mới của bộ máy hành pháp (Tể tướng). Đó thật sự là hai
của quý của xã hội, của đất nước.
<strong>IV. Giải pháp chiến lược 3: Xây dựng và phát triển xã
hội dân sự</strong>.
Trong khi một số người cho mình cái quyền hạn chế xã hội
dân sự, đến nỗi nói về nó cũng hạn chế (cấm đoán),
nghiên cứu về nó cũng hạn chế. Họ nghĩ rằng xã hội dân
sự làm tổn hại đến quyền và lợi của người cầm quyền
lãnh đạo, thì K. Mác lại rất đề cao xã hội dân sự. Có hai
luận điểm của Mác đáng lưu ý.
Một là Mác khẳng định chỉ từ thế kỷ XVIII mới hình
thành xã hội dân sự, trong đó con người cá nhân mới bước
đầu tự do thoát khỏi sự lệ thuộc vào các cộng đồng thị
tộc, gia đình, lãnh địa phong kiến ... và tự do sử dụng
mọi thiết chế xã hội, hội đoàn, nghề nghiệp ... cho lợi
ích chính mình (cá nhân con người). (<em>Xem Lời nói đầu Góp
phần phê phán khoa Kinh tế chính trị. K. Mác</em>).
Hai là: "Nhà nước chính trị không thể tồn tại nếu không
có cơ sở (base) tự nhiên là gia đình và cơ sở nhân tạo là
xã hội dân sự. Chúng là conditio sine qua non, (điều kiện không
thể thiếu) của nhà nước.
<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>
Cần giải phóng tư duy cầm quyền ra khỏi tâm thức quan
liêu, phong kiến, gia trưởng và tiểu nông lạc hậu. Có thể
giải thích chính những yếu tố này đã tạo ra cái tâm lý say
đắm, sùng bái, cái mô hình Xô viết, Diên An hiện đang tồn
tại ở xứ ta.<img class="quoright" src="/misc/quoright.png"/> <br
class="quoteclear"></div><div class="quoteauthor">» Nguyễn Khắc
Mai</div></div>
Nhân loại càng đi vào tương lai, càng tiến lên, xã hội dân
sự ngày một phát triển phong phú đa dạng. Các đất nước ở
châu Á phát triển nhanh hơn Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua
nhờ có nhiều yếu tố. Một yếu tố rất cơ bản và quan
trọng là xã hội dân sự của họ ngày càng phát triển. Vì
thế năng lực và năng lượng của người dân trong xã hội dân
sự được giải phóng, cả về tài lực (của cải) cả trí
lực (trí tuệ), cả tâm lực (ý chí, tình cảm). Họ tạo ra
sự phát triển ngoạn mục mà ta phải kính phục gọi băng
"liền anh liền chị."!
Cần giải phóng tư duy cầm quyền ra khỏi tâm thức quan
liêu, phong kiến, gia trưởng và tiểu nông lạc hậu. Có thể
giải thích chính những yếu tố này đã tạo ra cái tâm lý say
đắm, sùng bái, cái mô hình Xô viết, Diên An hiện đang tồn
tại ở xứ ta.
Cố nhiên nếu thực thi giải pháp nền tảng – xây dựng nền
dân chủ, thi hành 3 giải pháp chiến lược như trên, xã hội
dân sự của Việt Nam sẽ phát triển lành mạnh bình thường.
Thi hành tốt các giải pháp trên chúng ta sẽ hình thành được
một phương thức lý tưởng: Nhà nước và Dân cùng làm. Với
Dân, là thể hiện được trong thực tế ý tưởng của Hồ Chí
Minh "Dùng được quyền dân chủ, hưởng được quyền dân
chủ, dám nói, dám làm". Với Đảng và Nhà nước, chính là
quyết tâm và thực thà xây dựng một chế độ dân chủ, một
nhà nước dân chủ "thực sự mở rộng triệt để" như Hồ
Chí Minh từng đề cập.
Cùng với những giải pháp nền tảng và chiến lược phải ra
sức thi hành những chính sách then chốt như phát triển khoa
học kỹ thuật, nâng cao dân trí, thực hiện an sinh xã hội,
phát triển các hạ tầng vật chất và kỹ thuật của xã hội,
v.. v..
Như Hồ Chí Minh nói "Phâỉ tiến hành những cải cách xã
hội để nâng cao đời sống của nhân dân và thực hiện dân
chủ" (Xem Lời kêu gọi nhân dân Hà Nội, 7 – 1954).
Như thế là Đời sống nhân dân và Dân chủ là <strong>hai tiêu
chí quan trọng nhất then chốt nhất để xây dựng mọi thứ
chiến lược</strong>, đường lối, cương lĩnh. Và đó cũng là
hòn đá thử vàng để biết vàng có ròng hay là vàng "rởm".
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6611), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét