<div class="boxright300"><img
src="http://danluan.org/files/u1/4966568740_83807318d9.jpg" width="500"
height="375" alt="4966568740_83807318d9.jpg" /><div class="textholder">Cổng
chùa Cổ Pháp, nơi tương truyền Lý Công Uẩn từng sống thời
bé, nay thuộc làng Đình Bảng tỉnh Bắc Ninh. (Hình:
BinhGiang/Wikimedia/Public Domain)</div></div>
Hoa Lư là kinh đô nhà Ðinh. Vua Ðinh Tiên Hoàng chọn nơi đó
làm kinh đô vì đó là quê của ông. Chúng ta nghe chuyện vua
Ðinh thời nhỏ tụ tập trẻ chăn trâu lấy cờ lau tập trận,
tất cả những chuyện đó diễn ra ở Hoa Lư. Vì vậy, sau khi
dẹp tan nạn Thập nhị Sứ quân, Ðinh Tiên Hoàng về lại quê
cũ đóng đô.
Lê Hoàn, khi chiếm ngôi vua của nhà Ðinh, không dời đô mà
đóng luôn tại đó, chắc chắn một phần là vì Hoa Lư đã xây
dựng đâu ra đấy rồi, phần khác chắn hẳn là vì Hoa Lư cũng
không xa xôi gì quê Lê Hoàn.
Sử có viết khác nhau về quê quán Lê Hoàn, nhưng tất cả
đều loanh quanh gần Hoa Lư. Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư và
Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí cho rằng Lê Hoàn là người
Ái Châu, tức Thanh Hóa ngày nay, ngay phía nam Hoa Lư. Khâm Ðịnh
Việt Sử và Việt Sử Tiêu Án thì ghi: "Lê Hoàn quê ở làng
Bảo Thái, huyện Thanh Liêm" – thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay. Hà
Nam nằm ngay phía bắc Hoa Lư.
Nhà Lý thì khác, quê ở xa. Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp,
Bắc Giang, nay thuộc làng Ðình Bảng tỉnh Bắc Ninh. Ðồng minh
của Lý Công Uẩn là giới sư sãi Phật Giáo. Ông lúc trẻ tu
tập trong chùa Lục Tổ, còn gọi là chùa Cổ Pháp, và qua đó
kết thân với Sư Vạn Hạnh.
Sư Vạn Hạnh là một nhân vật rất quan trọng. Cũng xuất phát
từ chùa Lục Tổ như Lý Công Uẩn, Sư Vạn Hạnh được xem
như một vị Phật sống của thời đó. Vua Lê Ðại Hành tôn
ngài làm Quốc Sư. Nhưng ngài lại thân với Lý Công Uẩn. Nhân
có cây bông gạo bị sét đánh, Sư Vạn Hạnh đọc vết cháy
thành một bài văn, diễn giải thành việc Lý Công Uẩn sẽ lên
ngôi, và xúi giục Lý Công Uẩn lên làm vua.
Việc đó chứng tỏ đạo Phật đối với Lý Công Uẩn không
chỉ là tín ngưỡng, mà giới sư tăng còn là nguồn hậu thuẫn
nữa, nhất là sư tăng của thiền phái Lục Tổ Thiền Ông, mà
chùa tổ tọa lạc tại Cổ Pháp tức Bắc Ninh. Ðiều này cũng
giải thích được vì sao Lý Thái Tổ hỗ trợ cho đạo Phật
rất nhiều. Mới dời đô, chưa kịp xây kinh thành, vua đã
"phát tiền kho 2 vạn quan" thuê thơ xây 8 chùa ở Cổ Pháp.
Vì lòng thành tín một phần, nhưng chắc chắn phần nữa là
để gia tăng thế lực của phe mình.
<div class="boxright300"><img
src="http://farm5.static.flickr.com/4107/5002967689_4af77a27ab_m.jpg" /><div
class="textholder">Sân rồng trong đền vua Đinh ở Hoa Lư. (Hình:
Kien1980v/Wikimedia/Public Domain)</div></div>
Nếu ở Cổ Pháp có thành trì kiên cố, Lý Thái Tổ chắc đã
dời đô về đó quách. Nhưng, ở Cổ Pháp chỉ có ruộng và
chùa, nên Lý Thái Tổ phải tìm địa điểm khác, và ông chọn
thành Ðại La.
Hãy tìm một tấm bản đồ miền Bắc Việt Nam và xem vị trí
những nơi này. Hoa Lư nằm cách Hà Nội 100km về hướng nam.
Huyện Thanh Liêm, nơi hầu hết sử gia đồng ý là quê Lê Ðại
Hành, nằm cách Hoa Lư 30km về hướng bắc, ngay trên đường
thẳng đi Hà Nội.
Làng Cổ Pháp, nguồn hậu thuẫn của Lý Thái Tổ, lại nằm
cách Hoa Lư rất xa, cách thành Ðại La 15km về hướng đông
bắc.
Nếu ở lại Hoa Lư, Lý Thái Tổ sẽ phải sống ngay ở chỗ có
hậu duệ nhà Ðinh, và muốn qua lại với quê mình là Cổ Pháp
thì phải băng qua quê của nhà Lê. Hoa Lư, do đó, là một chỗ
không an toàn cho ngai vua.
Ðại La thì ngược lại. Ðại La nằm ngay gần Cổ Pháp, chỉ
qua sông là gần tới. Nếu có nguồn chống đối nào tới từ
Hoa Lư, hay Thanh Liêm, hay Châu Ái, Lý Thái Tổ có thể dựa lưng
vào quê mình, quay mặt xuống phía nam mà đấu với toàn bộ
các thế lực đó.
Ðể giữ quyền lực trong tay mình, việc dời đô tới Ðại La
là vô cùng đắc sách. Ðó mới là lý do Lý Thái Tổ dời đô.
Tất cả những lời hoa mỹ khác để giải thích việc này,
chỉ là cái cớ biện minh.
<h2>Thế yếu của Công Uẩn khi lên ngôi</h2>
Tới đây, có thể có ý kiến ngược lại như sau: Ðành rằng
dời đô về Ðại La có thể tăng uy quyền Lý Thái Tổ, nhưng
Lý Thái Tổ có thế rất mạnh, không cần dời đô cũng có
đủ uy quyền. Chẳng phải Lý Thái Tổ được sự ủng hộ
của triều thần vốn chán ghét Lê Ngọa Triều hay sao?
Ðiều đó có, nhưng chưa phải hoàn toàn như vậy. Giả dụ như
con vua Lê Ngọa Triều có thể phải bị mất ngôi vì tội của
cha, thì chưa chắc phần đã phải về Lý Công Uẩn. Ðất đai
là của chung nhà Lê, ai lấy mà chẳng được. Tôn tộc nhà Lê
còn nhiều, chưa tới phiên Lý Công Uẩn được hưởng một
mình dễ dàng như vậy.
Hãy xem lại lúc Công Uẩn lên ngôi. Sử gia Trần Trọng Kim trong
Việt Nam Sử Lược viết ngắn gọn như sau: "<em>Bấy giờ
lòng người đã oán giận nhà Tiền Lê lắm, ở trong triều có
bọn Ðào Cam Mộc cùng với sư Vạn Hạnh mưu tôn Lý Công Uẩn
lên làm vua.</em>"
Khi đi vào chi tiết, các sách sử khác cho thấy, mặc dù Lý
Công Uẩn được sự ủng hộ của nhiều người, chính Công
Uẩn là người lo ngại rằng chưa hẳn sự ủng hộ là tuyệt
đối.
Sách Toàn Thư chép, khi vua Ngọa Triều băng hà, Ðào Cam Mộc
biết Lý Công Uẩn có ý muốn tiếm ngôi, bèn lấy lời nói
khích, "<em>Sao Thân vệ không nhân lúc này nghĩ ra mưu cao,
quyết đoán sáng suốt, xa xem dấu cũ của Thang Vũ, gần xem
việc làm của Ðinh, Lê, trên thuận lòng trời, dưới theo ý
dân.</em>"
<div class="boxleft220"><img
src="http://farm5.static.flickr.com/4087/4965969187_44375ecf5b_m.jpg" /><div
class="textholder">Tượng vua Lê Long Đĩnh trong đền thờ vua Lê
Đại Hành tại Hoa Lư, Ninh Binh. (Hình: Kien1980v/Wikimedia/Public
Domain)</div></div>
Công Uẩn thoái thác, và còn nói, "<em>Chỉ sợ lời nói tiết
lộ thì chết ráo.</em>"
Công Uẩn khi đó quyền uy nhất triều đình, mà vẫn còn sợ
bị "chết ráo," chứng tỏ ông ngại rằng vua mới, hay nói
chung là triều đại nhà Lê, vẫn có sự ủng hộ trong giới có
thế lực.
<h2>Tôn thất nhà Lê</h2>
Sách Toàn Thư viết về các con vua Lê Ðại Hành, ghi những vị
được phong vương, cho đóng quân ở chỗ này chỗ nọ. Theo
thứ tự từ lớn tới nhỏ, các con vua Ðại Hành gồm:
1. Thái tử Thau làm Kình Thiên Ðại Vương; 2. Ngân Tích làm
Ðông Thành Vương; 3. Việt làm Nam Phong Vương; 4. Ðinh làm Ngự
Man Vương; 5. Ðĩnh làm Khai Minh Vương (vua Ngọa Triều sau này);
6. Cân làm Ngự Bắc Vương; 7. Tung làm Ðịnh Phiên Vương; 8.
Tương làm Phó Vương; 9. Kính làm Trung Quốc Vương; 10. Mang làm
Nam Quốc Vương; 11. Ðề (tức Minh Ðề) làm Hành Quân Vương.
Ngoài ra, còn có con nuôi không rõ tên, làm Phù Ðái Vương.
Danh sách trong Toàn Thư cho thấy vua Ðại Hành không phong cho ông
con nào đóng quân ở thành Ðại La cả, cho thấy thành Ðại La
không có ý nghĩa quân sự lớn lao như Lý Công Uẩn sau này phao
tin.
Vậy, vua Lê Ngọa Triều có 10 ông anh em, ông nào cũng có đủ
tư cách để lên ngôi, nếu con vua Ngọa Triều không có đủ
người ủng hộ, thì 10 ông anh em vua đều có đủ tư cách để
lên ngôi, chưa tới phần Lý Công Uẩn.
Tất nhiên, trừ những ông không còn sống. Theo Toàn Thư, khi
Ðại Hành Hoàng Ðế băng, thái tử Thau đã chết (hết ông số
1), Lê Long Việt "<em>cùng hai vương Ðông Thành, Trung Quốc và
em cùng mẹ là Khai Minh Vương tranh nhau lên ngôi, giằng co 8
tháng, trong nước không có chủ.</em>" Ðông Thành Vương thua
rồi bị chết. Thế là hết ông số 2.
Lê Long Việt lên ngôi được mấy ngày, Long Ðĩnh làm phản,
bị bắt, được tha, rồi Long Ðĩnh làm phản nữa, giết Long
Việt. Xong đời ông số 3. Sau này, Lê Long Ðĩnh đánh dẹp
giết luôn ông số 9.
Một sách khác, dùng sử liệu của Tàu, viết thêm về hoàng
tử Lê Minh Ðề. Theo An Nam Chí Lược, vào cuối triều Lê Ðại
Hành, nhà vua sai con là Lê Minh Ðề đi sứ Trung Hoa. Khi Long
Ðĩnh cướp ngôi, Minh Ðề bị kẹt lại bên Tàu, được vua
nhà Tống cấp tiền, gạo, và khiến quan xứ Quảng cấp nhà cho
ở. Vậy là còn ông số 11 ở bên Tàu.
Chưa hết, An Nam Chí Lược chép rằng vua Lê Ngọa Triều còn
một người em nữa tên Lê Minh Vĩnh, từng được vua Ngọa
Triều khiến đi sứ Trung Hoa, qua đó nhận sắc phong của vua
Tống cho vua, rồi lại tự nhận sắc phong cho chính mình làm
"<em>Trì tiết Giao Châu Chư quân sự Phó sứ.</em>"
Kết lại, khi Lý Công Uẩn cướp ngôi, ít ra ông phải lo tới
các vị hoàng thúc, hoàng bá, hay con cháu của họ. Ít ra thì
vẫn còn các ông con của Lê Ðại Hành số 4, 6, 7, 8, 10 trong
nước, và ông số 11 ở bên Tàu. Chưa kể ông con nuôi. Trong
đó phải tính tới một ông đã có sẵn sắc phong của vua Tàu.
Nói trắng ra, ngai vàng của Lý Công Uẩn chưa hẳn là vững, và
nếu cứ ở lại Hoa Lư, chưa chắc Công Uẩn đã giữ được
ngôi. Chính những điều Lý Công Uẩn nói ra cho thấy cá nhân
ông cũng không dám tin vào vị thế của mình trong triều đình
Hoa Lư.
<h2>"Tuyên truyền" cho việc dời đô</h2>
Thế yếu của Lý Công Uẩn, có thể là nhiều hoặc không
nhiều, nhưng rõ ràng là nhà vua có nghi ngại chuyện đó. Vì
vậy, ông phải tính tới chuyện thiên đô tới nơi nào gần
nguồn hỗ trợ cho mình hơn, gần Cổ Pháp hơn.
Thủy đình bên ngoài đền Lý Bát Đế, in trên giấy tiền
Đông Dương.
Ông cũng phải tính tới chuyện làm sao cho người dân quy phục.
Và, theo đúng cách làm chính trị của thời đó, ông đổ thừa
cho trời.
Trước đây, sét đánh đổ cây, sư Vạn Hạnh theo vết nứt mà
đọc được cả một bài sấm bằng chữ nho, lại còn diễn ra
từ bài sấm 80 chữ ra chuyện của cả một ngàn năm, kết thúc
bằng việc Công Uẩn lên ngôi.
Vài mươi năm sau, Lý Thường Kiệt lại mượn miệng lưỡi
trời với bài thơ "Nam quốc sơn hà." Lý Thường Kiệt
trước khi làm tướng từng làm hoạn quan. Lớn lên trong cung,
những trò tuyên truyền chính trị, Lý Thường Kiệt học thẳng
từ các vua Lý chứ chẳng đâu xa.
Những điều này phù hợp với kết luận rằng phe đảng nhà
Lý thích dùng chuyện huyền bí để biện minh cho mình. Có bài
thơ muốn rao cho lính thì bảo là thần viết (Lý Thường
Kiệt). Muốn tuyên truyền lật đổ nhà Lê thì đặt ra một
bài sấm từ vết nứt trong cây (Sư Vạn Hạnh). Cần lý do để
xây một cung điện thật sang trên nền một cung điện đã bỏ,
tung tin rồng hiện ra (Lý Thái Tông). Rồng hiện ra mà sợ
người ta không biết thì "chiếu chỉ tuyên bảo cho bầy tôi
biết" (Lý Thần Tông).
Vậy, nếu cần biện minh cho việc dời đô, và nếu cần tuyên
truyền rằng việc nhà Lý nắm quyền là chính đáng, thì bịa
ra một con rồng và đổi tên thành là "Thăng Long" cho mọi
người đều biết.
<h2>Kết luận</h2>
Thời gian nhà Minh cai trị nước Nam đã ra lệnh đốt sách. Vì
vậy, sử liệu về nước Nam thời trước Lê Lợi hầu hết là
sử liệu gián tiếp.
Vì vậy, tình cảnh thực sự tại triều đình khi vua Lê Ngọa
Triều băng hà, và Lý Công Uẩn cướp ngôi, không có nhiều
bằng chứng trực tiếp. Tuy nhiên, chứng cớ còn sót lại cho
thấy có phần nào vua Lý Thái Tổ không cảm thấy yên ổn tại
Hoa Lư, không hẳn vì sợ giặc ngoại xâm, nhưng vì sợ các
thế lực chính trị trong nước giành chính quyền.
Do đó Lý Thái Tổ muốn dời đi chỗ nào đó ít chống đối
hơn, gần Bắc Ninh là gốc quyền lực của mình hơn, và có
sẵn thành trì thì càng tốt. Ðó là lý do Lý Thái Tổ chọn
thành Ðại La.
Nhưng nếu để cho dân biết mình vì sợ mà chạy, sẽ phản
tác dụng. Không những cần dời đô, vua còn cần tuyên truyền
cho xa, cho rộng, rằng việc dời đô là chính đáng, là có sự
ủng hộ của thần thánh. Bởi lý do đó, vua mới lấy cái
"cớ" là có rồng hiện lên, rồi đổi tên thành Ðại La,
làm một đòn tuyên truyền chính trị cho mọi người đều
biết.
Việc đặt tên thành Thăng Long, do đó, là một việc làm thuần
túy có tính tiếp thị, tuyên truyền. Là một đòn chính trị,
nhưng rõ ràng là đòn này rất hiệu nghiệm. Ðược một con
rồng "bảo kê" (cho dù là rồng sa cơ hiện trên thuyền vua),
nhà Lý trị vì tới 200 năm. Tên thành Thăng Long bị bỏ từ sau
đời nhà Lý và thay bằng những tên như Đông Quan, Đông Đô,
… nhưng tên gọi cũ ăn khách tới mức, bây giờ hỏi "tên
cũ của Hà Nội là gì?" Chắc hẳn 10 người thì hết 9 trả
lời là "Thăng Long."
<h2>Sách Tham Khảo</h2>
Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám
Cương Mục (1856-1881), bản dịch Viện Sử Học, NXB Giáo dục,
Hà Nội, 1998.
Tác giả khuyết danh, Ðại Việt Sử Lược (1377-1388), bản
dịch Nguyễn Gia Tường, NXB TP.HCM, Ðại Học Tổng hợp TP.HCM,
1993.
Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu et al., Ðại Việt Sử Ký Bản Kỷ Toàn
Thư, bản dịch Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, NXB Khoa Học Xã
Hội, Hà Nội, 1993.
Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (1809-1819), NXB
Giáo Dục, Hà Nội, 2007.
Ngô Thời Sĩ, Việt Sử Tiêu Án (1775), bản dịch Hội Việt Nam
Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu, NXB Văn Sử, San Jose, 1991.
Lê Tắc, An Nam Chí Lược, bản dịch Ủy ban phiên dịch sử
liệu Việt Nam, Viện Ðại Học Huế, NXB Thuận Hóa, Huế, tái
bản 2002.
Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, NXB Trung Tâm Học Liệu Bộ
Quốc Gia Giáo Dục, Sài Gòn, 1971.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6498), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét