trong một ý thức bản ngã khác hay một người được thoả
mãn trong một người khác khi mà bên này được bên kia công
nhận. Trong khái niệm thuần tuý của sự công nhận, có hai
bước, mỗi bước có hai mặt. Bước đầu thì ý thức bản
ngã gặp một ý thức bản ngã khác hay một người gặp một
người khác, và hai bên trông nhau, thì một mặt mình đã mất
mình vì thấy mình ở bên kia. Nhưng mặt khác mình lại phủ
định bên kia, và không thấy người kia với tính chất độc
lập của người ta mà lại thấy mình ở người ấy. Bước
thứ hai thì một mặt mình phủ định bên kia và tin tưởng ở
mình, nhưng mặt khác thì chính mình lại phủ định mình, vì
mình phải tự nhận thấy mình ở bên kia."[1]</div>
Trên đây là triết luận của Hegel về sự phủ định trong
công nhận.
Bài này nói đến một vài phủ định trớ trêu liên can đến
một trí thức Việt Nam.
<h2>Góp phần xây móng cho triết học Mác-xít</h2>
Thế kỷ 19, thế giới vang động một cuộc luận chiến trong
lĩnh vực triết học. Đó là cuộc luận chiến bất phân thắng
bại[2] giữa hai bộ óc lớn là Trần Đức Thảo và Jean Paul
Sartre, kéo dài từ đầu năm 1949 đến đầu năm 1950.
Trần Đức Thảo cho biết: <em>"Sartre mời tôi trao đổi ý
kiến vì ông muốn chứng minh rằng chủ nghĩa hiện sinh rất có
thể cùng tồn tại hoà bình với học thuyết Mác"</em>[3],
nhưng trong tranh luận Sartre khẳng định: chỉ chủ nghĩa hiện
sinh mới khả dĩ có giá trị về mặt triết học, chủ nghĩa
Mác chỉ có thẩm quyền trong chừng mực nào đó về các vấn
đề xã hội.
Cho nên, trong cuộc tranh luận này, và tiếp tục về sau, Trần
Đức Thảo đã dày công làm sáng tỏ và bồi đắp ý nghĩa
triết học cho chủ nghĩa Mác. Ông là người Việt Nam đầu
tiên và là một vài trong số những triết gia hàng đầu thế
giới góp phần xây móng cho triết học Mác-xít.
Dựa vào hiện tượng luận Husserl để xử lý mối quan hệ
giữa hiện tượng và bản thể, chủ nghĩa hiện sinh chú trọng
hơn đến hiện tượng, đến cái nghiệm sinh, coi hiện tượng
là có trước và tạo ra bản chất.
Trên cơ sở coi bản thể là cái có trước, hiện tượng chỉ
là sự hiện thực hóa nó, tháng 8 năm 1951 Trần Đức Thảo cho
công bố cuốn Hiện tượng học và phép duy vật biện chứng
với mục đích <em>"tìm trong chủ nghĩa Marx cách xử lý khả
thủ duy nhất những vấn đề do hiện tượng luận đặt
ra"</em>.[4]
Ông thừa nhận đóng góp hết sức có hiệu lực của Husserl
về cách lý giải bản chất: <em>"Bản chất của một vật là
cái yếu tố mà thiếu nó, người ta không thể nào hình dung
sự tồn tại của vật ấy"</em>, chẳng hạn <em>"bản chất
của màu đỏ là diện tích, vì không thể có một màu nào mà
không có diện tích"</em>, tuy nhiên ông cho rằng nếu theo hiện
tượng luận triệt để kiểu như Husserl thì cái bản chất
cuối cùng chỉ có thể là "vật chất" với tính cách một
phạm trù triết học, cho nên ông khẳng định tự thân hiện
tượng luận phải dẫn tới chủ nghĩa duy vật.
Ông viết: <em>"Những nghiên cứu tôi thực hiện ở đây vào
đầu năm 1944 cho phép tôi khằng định những gì đã được
dự đoán trong luận án tốt nghiệp: đó là ngược lại với
những giải thích thông thường đã giới thiệu thuyết hiện
tượng học Husserl là một học thuyết về những bản thể
vĩnh hằng, những phân tích của Husserl hướng tới triết học
về thời gian, về con người lịch sử và về lịch sử thế
giới. Ông nói: 'Cái vĩnh hằng là một thời gian tuyệt đối,
chính bản thân nó chỉ là một phương thức của thời gian'.
Từ đó tôi đã đi đến Hiện tượng học của trí tuệ của
Hegel mà tôi đã bình luận trong bài báo đăng trên tạp chí
Temps Modernes (tháng 9 năm 1948)."</em>[5]
Hơn thế nữa, Trần Đức Thảo cũng từng đã viết: <em>"Marx
đã lộn lại biện chứng pháp Hegel, gạt bỏ cái màn duy tâm
để nêu lên cái hạt nhân duy lý, thiết lập phương pháp biện
chứng duy vật… Marx không phải chỉ có cải tạo một cách
đơn thuần biện chứng pháp Hegel, nhưng thực ra thì đã sáng
tạo lại hoàn toàn phương pháp biện chứng trên lập trường
duy vật, theo một nội dung mới. Vì tuy nội dung hệ thống
triết học của Hegel có bao gồm lịch sử thực tại, nhưng
Hegel lại thu hẹp nó vào phần tinh thần, biến nó thành hiện
tượng duy tâm thuần túy, do đấy phương pháp biện chứng cũng
phải xuất hiện dưới một hình thức thần bí. Chỉ có trên
lập trường duy vật mới có thể phát triển nội dung chân
chính phản ánh đúng đắn thực tế khách quan, và nhờ đấy
xây dựng phương pháp tư tưởng ăn khớp với quy luật mâu
thuẫn và biến chuyển của thực tại. Chính như thế là "
lộn lại " biện chứng pháp Hegel, thiết lập biện chứng
pháp duy vật."</em>[6]
Sau <em>"Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện
chứng"</em>, các bài biên khảo đăng trên hai số đầu của
Tập san Đại học Sư phạm năm 1955: <em>"Nguồn gốc ý thức
trong cuộc tiến hoá của hệ thần kinh"</em> và <em>"Biện
chứng pháp của hệ thần kinh"</em> đã phác họa lại nguồn
gốc vật chất của ý thức nói chung, và đi sâu vào quá trình
vật sinh tâm qua sự phát triển của bộ não nhằm chứng minh
luận điểm con người sở dĩ thành người là nhờ có ý thức
mà Marx đã dẫn dụ bằng sự khác nhau giữa một con ong khéo
léo nhất với một kiến trúc sư tồi nhất.
Đến cuốn Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức thì Trần
Đức Thảo đã vượt qua những khống chế áp đảo của chủ
nghĩa duy tâm thời ấy, vận dụng Marx để giải đáp vấn đề
hóc búa nhất của triết học là về nguồn gốc của ý thức
và ngôn ngữ, bằng hai chương trình nghiên cứu: qua cử chỉ và
ngôn ngữ ở trẻ nhỏ và qua những tư liệu về người tiền
sử trên cơ sở coi sự phát sinh tộc loại luôn luôn lặp lại
trong sự phát sinh cá thể.
Ông viết: <em>"Kinh nghiệm của các đứa trẻ sống hoang dã
chứng tỏ ở con người và chỉ ở con người mới có một tâm
lý khởi nguyên được tạo lập bắt đầu từ lớp người
thứ nhất – Con người khéo léo – bằng lao động sản xuất
và các quan hệ xã hội bao hàm trong việc phân công các nhiệm
vụ cá nhân và phân chia sản phẩm. Tính xã hội tự phát ấy
trong lao động tập thể đem lại cho các cử động của mỗi
người lao động một giá trị biểu cảm chuyển chúng thành
ngôn ngữ của đời sống hiện thực. Ngôn ngữ ấy được
lắp đi đi lắp lại ở trình độ tiếng vang vỏ não trong hình
ảnh bên trong của chính cơ thể, mà các quan hệ qua lại với
hình ảnh xã hội bên trong của chính cơ thể hướng tới hình
ảnh xã hội bên trong được gửi trả trở về cho chính nó
như là hình ảnh của hình ảnh hay hình ảnh đã sống trải.
Và chính cái sống trải tín hiệu học ấy được diễn đạt
trong ngôn ngữ ngôn ngữ học là sự có ý thức trong đó nó
được nâng lên thành trạng thái ý thức thật sự."</em>[7]
Để xác định nguồn gốc của ý thức, Trần Đức Thảo không
xuất phát từ những hiện tượng khác biệt như ngôn ngữ và
cách chế tạo công cụ chỉ có được ở con người mà đào
sâu tìm cái tế bào bản chất của ý thức ở một biểu hiện
có chung giữa con người và con vượn: động tác chỉ trỏ.
Nghiên cứu thứ nhất của ông có tiêu đề <em>"Hành động
chỉ dẫn như là hình thức gốc của ý thức"</em>. Sự phân
tích trong phần này của Trần Đức Thảo soi sáng cho luận
điểm của Marx: <em>"Ý thức ngay tức khắc là một sản phẩm
xã hội nhất thời"</em>.
Trong phần <em>"Ngôn ngữ hỗn hợp"</em> ông sử dụng phương
pháp duy vật biện chứng để vạch ra quá trình sinh thành của
ngôn ngữ như là vật chất của tư tưởng. Công trình này góp
phần soi sáng cho luận điểm <em>"Ngôn ngữ là ý thức
thực"</em> (Marx).
Khi nghiên cứu về <em>"Những nguồn gốc của khủng hoảng
Œdipe"</em>, tuy xuất phát từ sơ đồ của Sigmund Freud, nhưng
Trần Đức Thảo tỉnh táo nhận ra rằng <em>"Chắc chắn sự
nghiệp của Freud bị thiệt thòi bởi hệ tư tưởng thời đại
ông: Tâm lý học sinh vật luận và xã hội học luận kiểu
Durkheim. Do đó học thuyết này không có năng lực hiểu đời
sống trong bản chất hiện thực của mình là bản chất xã
hội, cơ sở thực sự của tâm thần cá nhân."</em>[8] Ông
không cho rằng Œdipe là một nguyên bản có nguồn gốc từ quan
hệ của trẻ em với cha mẹ và cần thiết cho sự phát triển
cái tôi của nó, mà là một dư sinh của những giai đoạn nhất
định trong sự phát sinh loài. Cũng từ luận điểm cơ bản
này, tác giả giải thích mặc cảm Œdipe ở bé gái và những
mặc cảm khác như mặc cảm thiến hoạn… tất cả đều bằng
lao động xã hội.
Maurice Caveing đã xem phần biên khảo của ông về phức cảm
Œdipe như một công trình lớn độc đáo: <em>"Chúng tôi tin
không cần phải viết thêm, đến mức nào những kết luận
của Trần Đức Thảo đã ăn khớp với cả những nghiên cứu
gần đây về luyến ái lẫn các công trình của một số nhà
phân tâm học hiện đại về cấu trúc ngôn ngữ của vô thức,
mặc dù khởi đi từ một phương pháp duy vật, biện chứng và
lịch sử."</em>
Khẳng định nguồn gốc của ý thức do ngôn ngữ và lao động
xã hội, phủ nhận một bản chất người phi lịch sử, phủ
nhận khủng hoảng Œdipe theo lý giải Freud, Trần Đức Thảo
không chỉ công khai biểu hiện tín đồ của chủ nghĩa duy vật
biện chứng mà cả chủ nghĩa duy vật lịch sử, từ đấy góp
phần xây móng cho triết lý Mác-xít.
Nhà nghiên cứu Phan Ngọc đánh giá: <em>"Ông muốn dùng chủ
nghĩa Mác để trả lời chính vấn đề hóc búa nhất của
triết học là nguồn gốc của ý thức và ngôn ngữ, ở đấy
các học thuyết duy tâm còn làm bá chủ. Tuy Mác và Lênin có
đưa ra những nhận xét hết sức quan trọng về cách tiếp
cận, nhưng đó chỉ mới là nhận xét chưa phải là một sự
nghiên cứu xong xuôi như hai người đã làm đối với chính
trị và kinh tế học. Cách làm của Trần Đức Thảo không
phải là minh hoạ chủ nghĩa Mác bằng những luận điểm tuy là
rất đúng của Mác mà chính là sử dụng phương pháp luận
của Mác, cụ thể là trong bộ Tư bản để chứng minh giá trị
của chủ nghĩa duy vật biện chứng ngay chính trên cơ sở
những thành tựu khoa học của thế kỷ XX về khảo cổ học,
nhân chủng học, tâm lý trẻ em, ngôn ngữ học, nhằm chứng
minh chính quan điểm duy vật biện chứng cung cấp cách lý giải
đúng đắn nhất cho phép ta tiếp cận vấn đề ngôn ngữ và ý
thức con người một cách khoa học."</em>[9]
<h2>"Mặt khác thì chính mình lại phủ định mình"</h2>[10]
Trần Đức Thảo không chỉ tích cực góp phần xây móng triết
lý cho chủ nghĩa Mác mà từng có thời kỳ ông để cho chủ
nghĩa Mác ngấm vào máu thịt ông, làm ông mê muội.
Hãy nghe ông bình phẩm bài <em>"Hịch tướng sĩ": "Bài
Hịch của Trần Hưng Đạo là một sản phẩm điển hình của
tinh thần quốc gia phong kiến. Đứng về mặt giá trị tư
tưởng, nó tỏ lòng ái quốc, tinh thần hy sinh và quyết chí
tiêu diệt xâm lăng. Nhưng xét đến nội dung thiết thực và
động cơ tư tưởng, thì chúng ta lại thấy biểu lộ một cách
có thể nói là 'trắng trợn', những ý nghĩ của một giai
cấp chuyên môn bóc lột. Đành rằng đoạn đầu có nêu gương
hy sinh của những anh hùng thời xưa, 'bỏ mình vì nước',
nhưng đến mấy đoạn sau lại thấy rõ cái 'nước' đây
chỉ được quan niệm như tổng số những thái ấp và bổng
lộc của bọn phong kiến thống trị, mà chúng cần phải bảo
vệ để hưởng một đời phú quí xa hoa với vợ con. Không có
một câu nói đến những nỗi gian khổ của nhân dân, không
được một câu biểu lộ tư tưởng cứu dân… Những mối lo
lắng của Trần Hưng Đạo kêu gọi tướng sĩ, quy lại chỉ là
sợ mất địa vị!"</em>[11]
Hãy xem ông diễn tả cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt…
quanh một chiếc quạt mo: <em>"Bài 'Thằng Bờm' lại đứng
vào một trình độ thấp hơn. Đây trật tự phong kiến được
tôn trọng. Quan hệ 'Thằng Bờm' và 'Phú ông' là quan hệ
mà chế độ phong kiến đã quy định giữa nông dân và địa
chủ. Nhưng trong phạm vi quan hệ đó người nông dân cũng có
đấu tranh và bắt buộc phải đấu tranh. Bản chất chiếm
đoạt của địa chủ được diễn tả đây một cách sâu sắc,
vì đến cái quạt mo của một em bé cố nông mà tên địa chủ
cũng còn muốn lấy không. Tức là trong đời sống hàng ngày
tôn trọng ngôi thức phong kiến, người nông dân vẫn phải
luôn luôn cảnh giác, và muốn giữ một vật nhỏ, hoặc trao
đổi hợp lịch sử thì cũng phải tranh giành gay go. Đây không
phải là tên địa chủ đã 'quỳ gối đầu hàng', mà nếu
có bực tức thì cũng chỉ đi đến chỗ cười nhạt. Nhưng
dưới cái vỏ tôn ti trật tự, đã phát hiện đời sống thực
sự trong xuất hiện phong kiến, tức là một cuộc đấu tranh
không ngừng giữa một bọn kẻ cướp lòng tham không đáy và
nông dân lao động bắt buộc phải bảo vệ từng giờ từng
phút điều kiện sinh sống tối thiểu."</em>[12]
Ông xác định thành phần giai cấp cho Kim Trọng và Thúy Kiều
để được phép bầy tỏ lòng cảm thương thân phận một
người "<em>Tài tình chi lắm cho trời đất ghen": "Gia đình
viên ngoại họ Vương thuộc về thành phần trung gian trong xã
hội phong kiến. Kiều đã được luyện tập trong mọi nghề
phong lưu: thi, hoạ, ca, nhạc. Nhưng phương thức sinh hoạt còn
giản dị: ngày hội Đạp Thanh, ba chị em 'bộ hành chơi
xuân', trong khi bọn giàu có thì 'ngựa xe như nước, áo
quần như nêm'. Thậm chí phụ nữ trong nhà còn có phần tham
gia lao động, và hôm bọn sai nha đến cướp phá thì chúng đã
làm 'Rụng rời khung cửi, tan tành gói may'. Tuy nhiên, trước
ngày sa sút, không ai trong gia đình phải sản xuất để sinh
sống, vậy họ Vương chắc cũng có ruộng phát canh, nhưng phần
này không thể có nhiều, vì đến lúc có việc lễ quan, thì
không thấy đặt vấn đề bán ruộng và sau đấy cả nhà lại
tìm cách sinh nhai trong nghề thủ công: 'Thuê may bán viết,
kiếm ăn lần hồi'. Chúng ta có thể nhận định: Kiều xuất
thân ở tầng lớp tiểu phong kiến, có thể là vào hạng
dưới."</em>[13]
<em>"Cụ thể thì tiếng đàn của Kiều cũng là xuất phát từ
những bài nhạc thông thường: 'Khúc nhà tay lựa nên
chương'. Tức là con người tài hoa, đa tình đa cảm của
Kiều có gốc rễ trong quần chúng, và cũng vì thế mà đến
bây giờ chúng ta còn thông cảm, và cho yêu cầu tình cảm của
nàng là tiêu biểu cho quyền sống của con người dưới chế
độ phong kiến."</em>[14]
Ông không dám suy tôn mà như chỉ xin phép Karl Marx để bảo vệ
đại văn hào của dân tộc mình: <em>"Kinh tế hàng hoá là
một lực lượng tiến bộ trong xã hội phong kiến, đồng thời
cũng là một phương thức bóc lột nặng nề. Giai cấp thương
nhân một mặt tăng cường cơ sở nhân dân chống chế độ
phong kiến thống trị, xây dựng những yếu tố tiền tư bản
chủ nghĩa, nhưng một mặt khác thì nó lại cấu kết với giai
cấp thống trị, tăng cường chế độ tham quan ô lại. Nguyễn
Du, nói chung, không thấy phần tích cực của kinh tế hàng hoá,
và chỉ chú trọng lên án lòng tham vô đáy của bọn sai nha,
của những phường 'buôn thịt bán người'. Về phần này,
nhiều câu phản kháng của Truyện Kiều phù hợp với lòng căm
thù của nhân dân. Nhưng cũng phải nhận rằng Nguyễn Du chưa
phải là đã đứng trên lập trường một giai cấp tiến bộ
trong nhân dân mà đấu tranh. Thực tế thì Nguyễn Du đã coi giai
cấp thương nhân với tất cả những thiên kiến và lòng khinh
miệt của con người phong kiến, và tuy có kết án cái tập
quán hối lộ của bọn quan lại, nhưng vẫn coi trọng giai cấp
phong kiến, vẫn bảo vệ lý tưởng phong kiến."</em>[15]
<em>"Chúng ta có thể dứt khoát: lập trường Nguyễn Du căn
bản là phong kiến, và việc tố cáo tác hại của đồng tiền
là thực hiện trên lập trường phong kiến. Nhưng phải chăng
đó là lập trường phong kiến phản động nhất, 'thuần phong
kiến' đả phá bọn phong kiến quan liêu vì chúng cấu kết
với thương nhân? Trong suốt Truyện Kiều chúng ta không thấy
đoạn nào tỏ lòng ao ước trở lại một chế độ phong kiến
'thuần' hơn là chế độ quan liêu, tức là chế độ quý
tộc lãnh chúa."</em>[16]
Mác-xít đến thế mà rồi ông vẫn bị những <em>"đồ đệ
trung thành"</em> của Karl Marx trong hàng lãnh tụ Đảng Cộng
sản Việt Nam cho đi… chăn bò.
(Mà chăn bò không nên hồn[17]. Trong hồi ký Chiều chiều, Tô
Hoài <em>"phê bình"</em> rằng đàn bò của Trần Đức Thảo
không chỉ "móp bụng" mà còn để cho hổ vồ mất mấy con.)
Vì sao bộ óc lớn ngang tầm người chủ xướng thuyết hiện
sinh phải đi chăn bò? Phải chăng vì:
Dám phê bình lãnh đạo Đảng dù chỉ rất dè dặt: <em>"Tự
do của quảng đại quần chúng, đấy là một nội dung chân
chính mà chế độ ta thực hiện về căn bản, và có điều
kiện để phát triển không ngừng. Nhưng đây là tổ chức
chúng ta, tuy xét về nội dung là dân chủ thực sự, nhưng lại
bị lũng đoạn bởi những bệnh nặng nề: quan liêu, mệnh
lệnh, giáo điều, bè phái, sùng bái cá nhân."</em>[18]
<em>"Đây là một cuộc đấu tranh cách mạng tiến hành trong
nội bộ nhân dân bằng phê bình và tự phê bình, đặng tranh
thủ cho mỗi công dân những điều kiện hoạt động chính
đáng và cần thiết để góp phần vào nhiệm vụ chung, chống
sự kìm hãm và lấn át của những phần tử lạc hậu: quan
liêu, bè phái, sùng bái cá nhân ở mọi cấp lãnh đạo. Phải
nói rõ ở mọi cấp lãnh đạo,… Những sai lầm nghiêm trọng
phạm phải trong Cải cách Ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức,
kiến thiết kinh tế và văn hoá là những dẫn chứng hùng
hồn."</em>[19]
<em>"Rõ ràng những phần tử quan liêu bè phái đã lấy thành
kiến của họ làm đường lối của lịch sử, biến những sai
lầm của họ thành bánh xe vô tình của lịch sử. Một bộ máy
hùng mạnh, xây dựng để diệt thù, đến lúc không thấy thù
thì lại quay về bạn lấy bạn làm thù mà đập phá bừa
bãi."</em>[20]
Dám đòi tự do cho văn nghệ sĩ sáng tác và nhà khoa học nghiên
cứu qua một bài báo có tiêu đề như một khẩu lệnh:
<em>"Nỗ lực phát triển tự do dân chủ": "Trong nhiệm vụ
thực hiện phương châm của Đại hội XX của Đảng Cộng sản
Liên Xô, đặng hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng Lao động
Việt Nam, hưởng ứng phong trào phát triển tự do dân chủ trong
những nước dân chủ nhân dân anh em, người trí thức Việt Nam
có phần trách nhiệm quan trọng. Người trí thức hoạt động
văn hoá, cần tự do như khí trời để thở. Có tự do thì mới
đẩy mạnh được sáng tác văn nghệ, nghiên cứu khoa học,
cải tiến kỹ thuật. Phát triển tự do là nhu cầu thiết thân
đồng thời là nhiệm vụ số một của người trí thức cũng
như của toàn dân."</em>[21]
Trong khi nhà thơ – ủy viên Bộ Chính trị của Đảng chỉ
thỉ cho toàn dân phải biết <em>"Thương mình thương một,
thương ông thương mười"</em> thì đàng này lại phỉ báng
Stalin: <em>"Những nghị quyết lịch sử của Đại hội (Đại
hội XX của ĐCS Liên Xô) đã ảnh hưởng sâu sắc đến các
nước dân chủ nhân dân anh em và phong trào công nhân và nhân
dân thế giới. Nước ta không thể nào đứng riêng: Chúng ta
sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa
Mác-Lênin đã gột rửa những nét xấu của đời Stalin, với
nội dung chân chính xây dựng trên kinh nghiệm kiến thiết chủ
nghĩa xã hội trên toàn thế giới, trong ấy dưới hình thức
này hay hình thức khác, nhiệm vụ của vô sản chuyên chính là
phát triển tự do cá nhân."</em>[22]
Những biểu hiện trên cho thấy, độ phức tạp trong tư duy
Trần Đức Thảo đến mức tuồng như không lý giải nổi. Ở
ông có hiện tượng phủ định trong công nhận, công nhận trong
phủ định như kiểu Hegel: <em>"một mặt mình đã mất mình
vì thấy mình ở bên kia. Nhưng mặt khác mình lại phủ định
bên kia"</em>.[23]
Trong khi ông mang cặp mắt của Karl Marx để soi xét tính giai
cấp của Truyện Kiều thì ông cũng lại viết: <em>"Giá trị
văn nghệ là diễn tả hiện thực tiến hoá của xã hội trong
giới hạn của điều kiện lịch sử, với khía cạnh hữu hạn
nhưng chân thực. Những quan điểm sai lệch của tác giả đời
xưa cũng phải được tính trong giới hạn đó, vì những sai
lầm này là do ở chế độ áp bức bóc lột gây ra một cách
tự nhiên. Vậy một tác phẩm đời phong kiến có thể có giá
trị văn nghệ với một nội dung đấu tranh rất thấp và trình
bày theo quan điểm sai lầm, nếu nội dung đó vẫn được biểu
diễn một cách sinh động". "Về phần lý luận, Truyện
Kiều biện hộ chế độ thống trị, nhưng trong cảm hứng thi
văn, Nguyễn Du lại chuyển sang phe nhân dân, phản ánh thực tế
xã hội đương thời với những nét thối nát và những lực
lượng tiến bộ của nó, đề cao giá trị nhân đạo chân
chính: tự do, công lý, chính nghĩa. Mà vì Truyện Kiều là một
trước tác văn nghệ, không phải là một cuốn sách lý luận,
phần tiến bộ phải được coi là phần chủ yếu, vì chính
đây là phần có giá trị thi văn, phần mà chúng ta thông cảm
và thưởng thức."</em>[24]
Thế là ông bị quy tội đòi hỏi Đảng "trả văn nghệ lại
cho văn nghệ sĩ" và tuyên truyền cho quan điểm "nghệ thuật
vị nghệ thuật" của mỹ học tiểu tư sản.
Phê phán tư tưởng giáo điều, cực đoan của Stalin biểu hiện
trong cuốn Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử, Trần Đức Thảo thẳng thừng: <em>"Stalin chỉ có
thể chủ trương một thứ biện chứng duy tâm chứ không thể
nào là duy vật. Và từ quan điểm duy tâm này, tất cả các
nguyên tắc hay quy luật của biện chứng pháp như Marx và Engels
đã truyền đạt đều bị bóp méo. Nguyên tắc 'thế giới là
một chỉnh thể hợp nhất và chặt chẽ trong đó tất cả mọi
vật đều tương quan với nhau' biến thành giáo điều giới
hạn 'bất cứ hiện tượng nào cũng có thể được hiểu và
biện minh, nếu quan sát trong quan hệ thiết yếu với các hiện
tượng chung quanh'. Nguyên tắc 'thế giới là một hệ thống
trong đó mọi vật đều tương quan với nhau, tác động lên
nhau, và tác động qua lại này chính là vận động' trở
thành hai phần rời rạc, một bên là liên hệ bất động và
một bên là vận động, tác động hỗ tương không hề được
nhắc đến. Nguyên tắc hai vế 'chuyển hoá từ lượng thành
phẩm và ngược lại' cũng bị giản lược thành quy luật
'phát triển từ lượng sang phẩm' một chiều. Và cuối
cùng, nguyên tắc 'đấu tranh và thống nhất giữa các mặt
đối lập' cũng bị cắt mất nửa thống nhất; công cuộc
xây dựng xã hội chủ nghĩa chẳng hạn chỉ còn là cuộc đấu
tranh không ngừng giữa quá khứ với tương lai mà không có
hiện tại. Từ những méo mó tai hại này, nhất là giáo điều
cuối, mọi đòi hỏi dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa ló dạng
đều đã bị chụp mũ là loại tàn dư của tự do tư sản cần
phải triệt tiêu."</em>[25]
Hàn lâm hơn, ở cuốn Vấn đề con người và chủ nghĩa
<em>"Lý luận không có con người"</em> thì Trần Đức Thảo
đả phá quan điểm của triết gia Mác-xít người Pháp L.
Althusser, cha đẻ của chủ nghĩa "Lý luận không có con
người", ông này cho rằng không có con người nói chung mà
chỉ có con người giai cấp. Theo Trần Đức Thảo, con người
có bản chất nhiều tầng (đa nguyên) được hình dung như một
mặt cắt địa tầng địa chất mà lớp trầm tích trên cùng
là <em>"con người giai cấp"</em>, dưới đó là tầng nền
của <em>"con người nói chung"</em>, tầng thứ ba là <em>"con
người sinh vật"</em>, tầng đáy là <em>"con người hóa
lý"</em>.
Không chỉ bác bỏ con người giai cấp và xác định sự tồn
tại của bản chất hàng hai của con người mà về vấn đề
dân tộc Trần Đức Thảo cũng đã viết: <em>"Con người theo
nghĩa chung của loài người là con người nguyên thủy tái diễn
ở thời văn minh trong quá trình thành người ở tuổi nhi
đồng, rồi một mặt trở thành con người giai cấp, và một
mặt trở thành con người dân tộc. Sự liên hệ giữa con
người giai cấp với con người dân tộc, về thực chất có
thể coi như sự liên hệ mà Marx đã nêu lên giữa cá nhân lệ
thuộc điều kiện giai cấp và cá nhân nhân cách."</em>[26]
Ngay trong tác phẩm Chủ nghĩa Marx và hiện tượng học viết
năm 1946 người ta đã thấy: <em>"một mặt, triết gia không
ngừng đối lập chủ nghĩa Marx với chủ nghĩa cộng sản thô
sơ, hoặc chủ nghĩa duy vật 'thông tục'; mặt khác, bởi vì
một học thuyết thật sự lấy con người làm gốc không thể
chỉ dừng lại ở những quy định vật chất khách quan, mà
phải 'truy tìm trong cái thế giới đã được thực hiện tất
cả ý nghĩa của cuộc đời mà chúng ta cưu mang', ông chờ
đợi là 'sự phân tích hiện tượng học về lao động tinh
thần cụ thể' (kinh nghiệm tôn giáo, sự tìm kiếm lý tưởng
cuộc đời chẳng hạn), như một thời kỳ của tồn tại
hiện thực, sẽ mang lại cho biện chứng về quan hệ sản xuất
cái ý nghĩa trọn vẹn của một sự chiếm hữu phổ quát',
hiểu theo nghĩa tích cực (hưởng thụ bằng sự nhận chân tính
người trong những sản phẩm đã được con người tạo tác).
Có lẽ chính những dòng này, cùng với một số ý kiến không
mấy chính thống khác, đã khiến Jean-François Lyotard nhìn thấy
ở tác giả "một ý đồ xét lại chủ nghĩa Marx"</em>[27].
Xét lại chủ nghĩa Marx, phủ định chủ nghĩa Marx là biện
chứng. Chính Trần Đức Thảo đã viết: <em>"Sự phủ định
chủ nghĩa tư bản trong chủ nghĩa xã hội kéo theo sự phủ
định của chính cái phủ định ấy, trong mâu thuẫn nội tại
của chủ nghĩa xã hội, điều đó thúc đẩy sự phát triển…
Cái trung gian như là phép biện chứng của sự quá độ chuyển
một chế độ lên một chế độ khác cao hơn, điều đó nằm
trong sự thống nhất của việc phủ định chế độ thứ nhất
bởi chế độ thứ hai với việc phủ định chính sự phủ
định này."</em>[28]
Ông Phạm Trọng Luật kể lại rằng: <em>"Cũng là triết gia
nghiệp dư, song tình cờ được gặp Trần Đức Thảo vài tháng
trước khi ông mất… hỏi ông về trước tác của ông, và nói
thực là tôi thấy chúng máy móc. Ông khóat tay như muốn gạt
chúng đi và đưa cho tôi một phần tác phẩm cuối cùng, còn
dưới dạng bản nháp…"</em>[29]
<h2>"Gục bên súng mũ bỏ quên đời"</h2>
Trong những ngày oi nồng của hè 1993, một chiếc bình sơn xanh
đậm được đem bỏ chỏng trơ nhiều ngày trong góc tối dưới
gầm cầu thang nhà tang lễ 125 Phùng Hưng.
Chiếc bình ấy đựng tro thiêu của một người được <em>"Hy
vọng chân thật rằng Trần Đức Thảo, nhà Marxist và nhà hiện
tượng học đặc sắc, cuối cùng sẽ tìm được chỗ đứng
xứng đáng trong lịch sử tổng quát của ý nghĩa"</em>.
Đó là câu kết trong bài viết của Daniel J. Herman về Trần
Đức Thảo. Từ điển các nhà triết học là một công trình
hàn lâm đồ sộ, dày 2.725 trang, giới thiệu thân thế và sự
nghiệp của các nhà triết học trên thế giới từ thời cổ
đại cho đến thời nay. Có những tên tuổi chỉ được dành
cho 2-3 dòng ngắn ngủi. Nhưng Trần Đức Thảo được trang
trọng giới thiệu tới 3 trang khổ lớn.
Năm 2000, nhà nước CHXHCN Việt Nam cũng truy tặng Giải thưởng
Hồ Chí Minh về khoa học xã hội cho các công trình của Trần
Đức Thảo.
Tôi mượn câu thơ Quang Dũng để đặt tên cho tiểu mục này
bởi liên tưởng đến những chiến sĩ <em>"Tây tiến"</em>.
Họ trong sáng quá, hồn nhiên quá, cho nên có nhẽ vong linh họ
được mát mẻ bởi họ đã quên không còn nhớ đến cái ngày
hôm nay trong tâm niệm ngày nào của họ.
Trần Đức Thảo cũng vậy, cầu mong và hy vọng hương hồn ông
mát mẻ bởi ông cũng đã bỏ quên Karl Marx, có như vậy mới
có thể đạt được điều này: <em>"Trên nền tảng các
tiếng gọi của hình ảnh xã hội bên trong, ý thức trong tiếng
gọi của nó với bản thân đặt ra yêu cầu về cái thiện
trong hành động, cái đúng trong nhận thức, và cái đẹp trong
việc hoàn tất các quá trình sống trải. Do vậy ý thức làm
cho thế giới tự nhiên trở thành thế giới con người, có giá
trị với con người."</em>[30]
Bà Nguyễn Thị Nhất, vợ cũ của Trần Đức Thảo đề nghị
mai táng ông ở nghĩa trang Mai Dịch nhưng người ta không đồng
ý. Thật may cho ông. Không biết những người đang nằm trong
nghĩa trang Mai Dịch kia có dám ngạo mạn xem thường ông hay
xấu hổ nếu dám nằm cạnh ông?
Trần Đức Thảo sinh ngày 26-09-1917 tại xã Song Tháp, huyện Từ
Sơn, Bắc Ninh, trong một gia đình viên chức. Năm 1935, sau khi
đỗ tú tài vào loại xuất sắc, ông theo học trường Luật
tại Hà Nội. Năm 1936, ông sang Pháp và thi đỗ vào Trường
Đại học Sư phạm phố d'Ulm. Đây là một trong những
trường nổi tiếng của Pháp, chỉ tuyển dụng những người
xuất sắc nhất của đất nước. Có thể nói, đó là một
thứ "siêu đại học". Sau non một thế kỷ, giáo sư Ngô
Bảo Châu cũng làm luận án tiến sỹ tại trường này.
Ông kể: <em>"Tôi đã được bầu là Uỷ viên của Tổng Liên
đoàn người Đông Dương ở Pháp và phụ trách nghiên cứu
những vấn đề chính trị. Đầu năm 1945 với tư cách uỷ viên
Tổng Liên đoàn người Đông Dương, tôi đã có một cuộc
tiếp kiến với ngài Tổng bí thư Maurice Thorez tại trụ sở
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Pháp. Chúng tôi
đã thống nhất đường lối chung trong cuộc đấu tranh vì các
dân tộc bị áp bức, chống lại chủ nghĩa đế quốc: cuộc
đấu tranh nhằm giải phóng cho các dân tộc ấy, do những
điều kiện khách quan của thế giới đương thời sẽ nhất
thiết dẫn đến chủ nghĩa cộng sản. Ngài Maurice Thorez đã
hứa rằng các tổ chức của Đảng Cộng sản Pháp sẽ có
những giúp đỡ cụ thể dành cho các tổ chức địa phương do
Tổng Liên đoàn người Đông Dương ở Pháp làm đại diện.
Lời hứa này đã hoàn toàn được tôn trọng…"</em>[31]
<em>"Một bài báo đăng trên tờ Le Monde đã thuật lại cuộc
họp báo của tôi, bài báo đó đã nhắc lại một câu hỏi
của một nhà báo đã hỏi tôi: 'Những người Đông Dương
sẽ làm gì khi quân đội viễn chinh đổ bộ?', tôi đã trả
lời: 'Phải nổ súng'. Vì lời đối đáp này, tôi đã phải
trả giá là bị bắt giam giữ tại nhà tù Príson de la Santé từ
đầu tháng 10 đến cuối tháng 12 năm 1945, với lý do xâm phạm
an ninh nước Pháp trong những lãnh thổ có chủ quyền của
Pháp."</em>[32]
Thế mà chỉ vì hai bài báo viết cho Nhân văn-Giai phẩm có nội
dung đã lược trình trên kia, nhà khoa học mẫn tiệp, người
đã dốc hết trí lực cao cường thời trẻ cho chủ nghĩa Mác
Trần Đức Thảo lại bị các lãnh tụ Mác-xít Việt Nam tống
đi đầy đằng đẵng một thời gian dài gấp chục lần nhà
cầm quyền Pháp đã tống giam ông.
Một nhà báo khi viết về vợ ông có kể rằng:
<div class="special_quote">Sống chung được mấy tháng, triết gia
Trần Đức Thảo vướng vào phong trào Nhân văn-Giai phẩm. Đang
từ Chủ nhiệm khoa Sử Trường Đại học Tổng hợp, mà rồi
bị cấm giảng dạy. Để kiếm sống, ông phải dịch thuật
lặt vặt, phải bán dần bán mòn những bộ từ điển để
lấy tiền mua thức ăn. Một thời gian sau, ông còn bị bắt.
Tất cả những ai liên quan đến ông đều bị thẩm vấn,
điều tra. Nhất là vợ ông, cũng không tránh khỏi những phiền
phức.
Khi đó, những người thân quen trước kia của ông Thảo đều
lẩn tránh. Những đồng nghiệp trong cơ quan vốn không ưa cô
nay lại càng xa lánh. Nhất đi sang bên phải đường, ngay lập
tức họ đi sang bên trái hoặc bỏ đi đường khác. Tủi hận
nhưng Nhất không bi lụy. Không khóc than. Không oán trách. Mà cô
vẫn làm việc hăng say.
Thời gian đó quả là địa ngục. Ngày ngày đi làm kiếm tiền
nuôi gia đình. Cuối tháng khăn gói theo xe quân đội thăm ông
Thảo. Một hôm, quá chán nản và thất vọng, cô đạp xe đạp
lang thang khắp phố phường. Trời trưa nắng. Ánh nắng gay gắt
khiến làn da trắng xạm đen nhiều. Mệt bã bời do say nắng,
nhưng cái đau đầu do say nắng không đau bằng cách con người
ứng xử với nhau. Nhất đi chầm chậm, như muốn ngã quỵ
xuống đường.
Bỗng dưng, một chiếc xe ôtô rẽ sát lề đường, chặn xe
Nhất lại. Hóa ra là Thủ tướng Phạm Văn Đồng vừa đi họp
về. Còn nhớ năm 1955, khi Nhất cùng đoàn trí thức Việt kiều
Pháp về nước, cô đã được gặp Thủ tướng. Cách đây mấy
tháng, ông Đồng cũng có ghé thăm nhà triết gia nên nhận ngay
ra cô. Ông hỏi:
<em>"Tình hình chị dạo này sao rồi?"</em>
<em>"Tôi cũng ổn."</em> – Nhất trả lời. <em>"Nhưng anh
Thảo thì bi đát quá. Người ta nghi ngờ anh ấy đủ thứ.
Thực tình anh ấy ngây thơ lắm. Mới về chân ướt chân ráo,
như cục gỗ chẳng biết gì đâu."</em>
<em>"Tôi cũng biết là anh Thảo hiền lành, cũng chẳng có
gì."</em> Thủ tướng an ủi.<em> "Anh ấy là một trong những
nhà triết học lớn nhất của thế kỷ XX[33], lớn nhất châu
Âu chứ không phải Việt Nam."</em> Ông nói tiếp: <em>"tôi
sẽ tìm cách cứu ông ấy."</em>
Năm 1992, ông xin được cho phép sang Paris chữa bệnh gan và lấy
tư liệu thực hiện công trình nghiên cứu Logic của cái hiện
tại sống động.
Tại Paris, ông Nguyễn Đức Hiền có dịp gặp và kể:
<em>"Một ông già ở độ tuổi cổ lai hy khoác chiếc áo dạ
cũ màu tím dài chấm gót, bưng bê lỉnh kỉnh đủ thứ xoong,
chảo, chai, lọ leo lên leo xuống hàng trăm bậc thang gác, tự lo
lấy bữa ăn cho mình… Ông già ấy cứ hành trình chừng mười
lăm bậc thì dừng lại, tựa người vào hành lang đứng nhắm
mắt há miệng thở như thổi bễ."</em></div>
<strong><center> *</center></strong>
Nhờ sự can thiệp của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông
được chữa bệnh ở bệnh viện Việt – Xô. Năm 1981, tình
cờ tôi được nằm cùng phòng với ông trong bệnh viện. Phòng
chỉ có hai người mà tôi lúc ấy thì khá trẻ so với những
người đủ tiêu chuẩn nằm bệnh viện này nên hình như ông
có ý cảnh giác tôi.
Cả tuần lễ hầu như không có ai vào thăm ông. Ông nằm thui
thủi và thường quay mặt vào tường. Thỉnh thoảng lại giơ
bàn tay trái lên, nhìn chằm chằm qua kẽ tay lẩm bẩm một câu
tiếng Pháp "Một giọt nước trong suốt đang từ từ rơi".
Rồi ông khóc rưng rức, nho nhỏ. Tôi gợi chuyện song ông không
mặn mà. Mãi đến một hôm tôi nhờ ông sửa một bức thư
bằng tiếng Pháp để trả lời thư trao đổi từ nước ngoài
với tôi về vấn đề cổ địa từ học ông mới dần dần
trở nên thân tình.
Không ai quan tâm đến ông. Mấy cô y tá rất tận tình chăm sóc
tôi nhưng lại hay vùng vằng, thậm chí xấc xược với ông.
Họ vẫn cho ông là tên phản động vừa bị đi cải tạo về.
Không cốc chén, khi khát ông với tay xuống gậm giường bưng
cái nồi nhôm ám khói đen sì đựng nước đun sôi để nguội,
mở vung uống ừng ực…
Viết đến dòng này tôi bỗng trào nước mắt. Nhẽ ra ngày ấy
tôi phải thật sự ân cần đối với ông, đỡ đần ông, bầy
tỏ sự kính phục, quý mến bằng những cử chỉ, hành động
cụ thể chứ không chỉ có một lần chạy đi gọi bác sĩ khi
cái chai đạm tiếp cho ông đã cạn kiệt mà y tá không ngó
ngàng tới.[34]
Bù đắp cho nỗi ân hận chưa nguôi ngoai suốt từ ngày ấy,
bài viết này như một nén tâm nhang kính dâng ông nhân kỷ
niệm thứ 93 ngày sinh của ông.[35]
Tưởng niệm ông, <em>"Tôi hồi tưởng đôi mắt ông, đôi
mắt sáng, thơ ngây như mắt trẻ con. Và, tôi tự nhủ, xét cho
cùng, đời ông thật buồn mà đẹp, và ông biết chết như
chẳng mấy người biết sống, sống mà không hề biết bán
mình. Trần Đức Thảo là một nhà triết học chân
chính."</em>[36]
Hà Nội ngày 26 tháng 9 năm 2010
Nguyễn Thanh Giang
Số nhà 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội
Điện thoại: (04 ) 35 534 370
________________________________________
[1] Hegel, Hiện tượng luận của tinh thần
[2] Khi cần viện dẫn đến khái niệm <em>"Ý thức đầu
tiên"</em> khởi sinh trong con người được trình bày trong
cuốn Trải nghiệm và luận giải của Husserl thì vì J. P. Sartre
không nắm rõ cuốn đó nên cuộc tranh luận phải tạm ngừng
lại.
[3] Trần Đức Thảo, Tiểu sử tự thuật
[4] Trần Đức Thảo, Lời mở đầu của cuốn Hiện tượng
luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng
[5] Trần Đức Thảo, Tiểu sử tự thuật
[6] Trần Đức Thảo, <em>"Hạt nhân duy lý trong triết học
Hegel"</em>
[7] Trần Đức Thảo, Sự hình thành con người
[8] Trần Đức Thảo, Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật
biện chứng
[9] Phan Ngọc, <em>"Về công trình nghiên cứu Tìm hiểu nguồn
gốc ngôn ngữ và ý thức của cố giáo sư Trần Đức
Thảo"</em>
[10] Hegel, Hiện tượng luận của tinh thần
[11] Tạp chí Nghiên cứu Văn Sử Địa số 3-1954
[12] Tạp chí Nghiên cứu Văn Sử Địa số 4-1955
[13] Tập san Đại học Sư phạm số 5, tháng 1-2-3 –1956
[14] Tập san Đại học Sư phạm số 5, đã dẫn
[15] Tập san Đại học Sư phạm số 5, đã dẫn
[16] Tập san Đại học Sư phạm số 5, đã dẫn
[17] Về tệ lơ đãng của chàng chăn bò này: Hồi bao cấp ông
thường phải ra chợ Hàng Bè mua củi về đun. Ông buộc củi
sau poóc-ba-ga xe đạp nhưng có hôm về đến nhà giở ra chỉ
thấy sợi dây buộc tấm bìa. Ông ở tầng ba, khu tập thể Kim
Liên, một hôm đi đâu về, thấy căn hộ tầng hai tại vị trí
tương tự cửa chỉ khép hờ, ông đàng hoàng bước vào, để
nguyên đôi giầy lấm lem lăn ềnh ra giường. Chủ nhà về, ông
khoát tay xua: <em>"Tôi đang mệt, cần trao đổi gì đến mai
mời chị quay lại!". "Nhưng đây là nhà của em mà
bác"</em>, người chủ nhà phải nhắc ông.
[18] Giai phẩm mùa Đông, tập 1-1956
[19] Giai phẩm mùa Đông, tập 1-1956
[20] Giai phẩm mùa Đông, tập 1-1956
[21] Báo Nhân văn số 3, ra ngày 15 tháng 10 năm 1956
[22] Báo Nhân văn số 3, ra ngày 15 tháng 10 năm 1956
[23] Hegel, Hiện tượng luận của tinh thần
[24] Báo Nhân văn số 3, ra ngày 15 tháng 10 năm 1956
[25] Phạm Trọng Luật, <em>"Triết lý của Trần Đức Thảo
đã đi đến đâu?"</em>
[26] Trần Đức Thảo, Vấn đề con người và chủ nghĩa "Lý
luận không có con người"
[27] Phạm Trọng Luật, "Triết lý của Trần Đức Thảo đã
đi đến đâu?"
[28] Trần Đức Thảo, Sự hình thành con người
[29] Trần Đức Thảo, Sự hình thành con người
[30] Trần Đức Thảo, Sự hình thành con người
[31] Trần Đức Thảo, Tiểu sử tự thuật
[32] Trần Đức Thảo, Tiểu sử tự thuật
[33] Trong những người lãnh đạo Đảng CSVN, chỉ Thủ tướng
Phạm Văn Đồng là người còn biết thương mến, quý trọng
trí thức. Năm 1980 tôi được tổ chức CCOP của Liên Hợp
Quốc mời đi trình bày công trình nghiên cứu về cổ địa
từ. Công an quyết liệt ngăn cản. Giáo sư Tạ Quang Bửu phải
viết thư tay cho Thủ tướng. Thủ tướng không chỉ tích cực
can thiệp mà còn bảo thư ký theo dõi, nhắc nhở việc chuẩn
bị rất khẩn trương cho tôi. Nhờ chuyến đi đó, không những
sự nghiệp khoa học của tôi thêm thành đạt mà vì được
thế giới phương Tây biết đến rất sớm nên công cuộc đấu
tranh dân chủ hóa đất nước của tôi cũng thuận lợi hơn
nhiều người khác.
[34] Thuở ấy tôi học, rồi làm khoa học tự nhiên, không hiểu
biết nhiều về triết học nói chung và giáo sư Trần Đức
Thảo nói riêng.
[35] Trần Đức Thảo sinh ngày 26/11/1917, mất ngày 24/4/1993.
[36] Trần Đạo, <em>"Trần Đức Thảo – một đời
người"</em>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6522), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét