Thảo luận cùng học giả Bùi Ngọc Sơn: Sửa đổi Hiến pháp, trưng cầu dân ý và chủ quyền tối cao của nhân dân

<img
src="http://phiatruoc.info/wordpress/wp-content/uploads/2010/09/buingocson.bmp"
width="300" height="300" alt="" />

Học giả Bùi Ngọc Sơn – một nhà hiến pháp học và giảng
viên Luật ở Việt Nam – dường như là một trong những học
giả hiếm hoi đặt vấn đề về hạn chế của việc sửa
đổi Hiến pháp. Đây là vấn đề mang tính học thuật nhưng
cần thiết trong việc đặt ra những nền tảng lý thuyết cho
công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Chỉ khi nào chúng ta
lập luận một cách lo-gíc, có dẫn chứng, thuyết phục được
người dân về những nguyên tắc nền tảng của nền pháp
trị, thì bản Hiến pháp được sửa đổi mới có tính chính
danh và được người dân tin tưởng.

Bài viết này nhằm giới thiệu và thảo luận một số điểm
của học giả Bùi Ngọc Sơn nêu ra trong bài viết <a
href="http://danluan.org/node/6032">"Sửa đổi quy trình sửa đổi
Hiến pháp"</a> đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp tháng
9/2010.[1] Người viết bài này ủng hộ lập luận của ông Bùi
Ngọc Sơn liên quan đến quyền trưng cầu dân ý để phúc
quyết sửa đổi Hiến pháp của người dân, nhưng đề nghị
rằng chủ quyền tối cao của nhân dân không thể bị hạn chế
bằng việc phân biệt giữa quy trình và kết quả.

Ông Bùi Ngọc Sơn khẳng định cần thay đổi quan niệm về
Hiến pháp, <em>"coi Hiến pháp như một hình thức pháp lý mà
người dân áp dụng đối với Nhà nước và tuyên bố những
mục tiêu, lý tưởng chung của nhân dân." "Nói cách khác,
quyền lập hiến thuộc về nhân dân. Bằng quyền lập hiến,
nhân dân thành lập ra Nhà nước và trao quyền cho Nhà
nước."</em> Ông cho rằng quy trình sửa đổi Hiến pháp hiện
nay <em>"khá mơ hồ"</em> Quốc hội áp dụng cùng một quy
trình cho sửa đổi luật và sửa đổi Hiến pháp. Ông xem đó
là <em>"hiện tượng lạ"</em> xét dưới góc độ của Hiến
pháp thành văn, nhưng có thể được giải thích <em>"khi tham
chiếu với chủ thuyết Quốc hội tối cao mà Hiến pháp theo
đuổi"</em> Thế nhưng, ông nhận định, <em>"sự đồng nhất
quy trình sửa đổi Hiến pháp và quy trình sửa đổi luật có
nghĩa là Quốc hội có quyền tối cao trong việc sửa đổi
Hiến pháp." </em>Vì vậy, trả lại quyền lập hiến cho nhân
dân cũng đồng nghĩa với việc phải sửa đổi quy trình sửa
đổi Hiến pháp.

Sau khi điểm sơ qua một số mô hình trên thế giới, ông Bùi
Ngọc Sơn cho rằng mô hình <em>"phức tạp của lập
pháp"</em> (tức lập pháp không kiểm soát toàn bộ quá trình
sửa đổi Hiến pháp mà có những yếu tố phức tạp hơn trong
quy trình), cùng với trưng cầu dân ý là một lựa chọn phù
hợp cho Việt Nam. Cụ thể, ông đề nghị quy trình rằng
<em>"hai phần ba tổng số đại biểu quốc hội có quyền
đặt ra vấn đề sửa đổi Hiến pháp"</em>. Sau đó
<em>"Quốc hội có thể ban hành một Nghị quyết về việc
bầu cử Hội nghị sửa đổi Hiến pháp"</em> và <em>"các
tỉnh sẽ bầu những đại diện tham gia vào Hội nghị
này"</em>. Cuối cùng, <em>"những điều đã được Hội nghị
Hiến pháp đồng ý phải được đem cho nhân dân bỏ phiếu phê
chuẩn trong một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc."</em> Điều
kiện không thể thiếu trong quá trình là <em>"các phương tiện
truyền thông cần tích cực đăng các nghiên cứu giải thích
các điều khoản sửa đổi Hiếp pháp" và "giới luật học
cần hoạt động tích cực thông qua các hoạt động báo chí,
hội thảo, và diễn đàn."</em> Nhận định này hoàn toàn
chính xác: một sự thảo luận rộng rãi, tự do sẽ giúp cho
người dân có đầy đủ thông tin và đưa ra một sự lựa
chọn hợp lý nhất.

Nhưng liệu quy trình này có áp dụng vào lần sửa đổi Hiến
pháp năm 2011 sắp tới? Ông Sơn cho rằng vì Hiến pháp không quy
định cụ thể, sáng quyền của Quốc hội và Hội nghị hiến
pháp có thể được tiến hành mà không gặp vấn đề trái
với Hiến pháp hiện hành. Thế nhưng <em>"vấn đề khó khăn
nhất là có thể tổ chức trưng cầu dân ý để phê chuẩn
sửa đổi Hiến pháp theo khuôn khổ Hiến pháp Việt Nam hiện
hành không?"</em> Hiến pháp hiện nay, điều 53, 84, 91 quy định
về trưng cầu dân ý, nhưng không phải là trưng cầu dân ý
trong việc sửa đổi Hiến pháp. Điều 147 về sửa đổi Hiến
pháp trao quyền này cho duy nhất Quốc hội. Tuy vậy, trưng cầu
dân ý lần này sẽ không vi hiến. Lập luận này xứng đáng
được trích dẫn đầy đủ:

<em>"Điều 147 không phải là nguồn duy nhất để sửa đổi
chính thức Hiến pháp. Một trong những nguyên tắc cơ bản của
việc xây dựng chính quyền hợp hiến ở Việt Nam được Hiến
pháp ghi nhận là chủ quyền nhân dân được thể hiện qua quy
định "tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân"</em> (Điều 2). [...] Chủ quyền nhân dân là tối cao, có
nghĩa trong quốc gia không có một quyền nào có thể áp đặt
những ràng buộc pháp lý lên chủ quyền nhân dân. Chủ quyền
nhân dân là một quyền nguyên thủy, một quyền nguồn gốc mà
từ đó hình thành nên các quyền của chính quyền, nên các
quyền phái sinh này không thể đặt ra những ràng buộc pháp lý
lên chủ quyền nhân dân. Trong khi đó, trưng cầu dân ý là một
hình thức toàn vẹn nhất của chủ quyền nhân dân. Bằng việc
thực hiện quyền trưng cầu dân ý, nhân dân trực tiếp hành
xử chủ quyền nhân dân của mình. Vì vậy, người ta không
thể đặt ra vấn đề tính hợp hiến của trưng cầu dân ý
xét theo nghĩa bản chất. Nói cách khác, bản chất của hành vi
trưng cầu dân ý không thể được xem xét trên phương diện
hiến tính, mặc dù người ta có thể xem xét tính hợp hiến
của thủ tục, quy trình, kết quả của một cuộc trưng cầu
dân ý."

Đến đây, người viết hoàn toàn đồng ý với lập luận
rằng không một quyền phái sinh nào có thể đặt những ràng
buộc pháp lý lên chủ quyền tối cao và căn bản. Tuy vậy,
người viết bài này cho rằng sự phân biệt giữa quy trình và
kết quả của trưng cầu dân ý là không hợp lý. Ông Bùi Ngọc
Sơn đưa ra sự phân biệt giữa <em>"hành vi trưng cầu dân
ý"</em> – không thể được xem xét trên phương diện hiến
tính" và <em>"các thủ tục, quy trình, kết quả của một
cuộc trưng cầu dân ý"</em> vốn có thể bị xem xét tính hợp
hiến. Thế nhưng, đã nói người dân là chủ quyền tối cao,
thì ai có quyền xem xét tính hợp hiến của kết quả trưng
cầu dân ý thể hiện nguyện vọng của nhân dân? Chẳng nhẽ
các quyền phái sinh có quyền làm điều này sao, và dựa vào
tiêu chí nào, ai là người quyết định tiêu chí nếu không có
sự đồng thuận của chủ quyền tối cao là nhân dân?

Bên cạnh đó, lập luận rằng việc sửa đổi Hiến pháp bị
hạn chế bởi chính bản Hiến pháp bị sửa đổi chỉ có giá
trị khi bản Hiến pháp bị sửa đổi bản thân nó là sản
phẩm của sự đồng thuận của người dân. Sự ràng buộc đó
về bản chất là sự ràng buộc của thế hệ trước lên thế
hệ sau, vì những lợi ích mà sự ràng buộc đó mang lại cho
nhân dân nói chung.[2] Thế nhưng, ai cũng biết rằng bản Hiến
pháp hiện tại, cũng như từ các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992
không hề được người dân phúc quyết thông qua. Vì vậy, trong
lần sửa Hiến pháp này, việc trả lại chủ quyền tối cao cho
nhân dân không chỉ mang ý nghĩa quyền phúc quyết của người
dân qua trưng cầu dân ý, mà còn là quyền của người dân trong
việc quyết định thể chế chính trị của mình.

Trong trường hợp chúng ta đồng ý với ông Bùi Ngọc Sơn rằng
có những hạn chế của việc sửa đổi Hiến pháp, cụ thể
là <em>"cấu trúc cơ bản của chính quyền hay hệ thống chính
trị mà Hiến pháp xác lập"</em> câu hỏi đặt ra rằng liệu
các Hiến pháp 1959, 1980 và Hiến pháp hiện tại 1992 có tuân
thủ yêu cầu này không? Câu trả lời chắc chắn là không. Các
bản Hiến pháp này không những không tuân thủ quy trình sửa
đổi Hiến pháp của Hiến pháp 1946, mà còn thay đổi hoàn toàn
thể chế chính trị, từ "dân chủ cộng hòa" sang "cộng
hòa xã hội chủ nghĩa." Có thể có ý kiến cho rằng bản
thân Hiến pháp 1946, vì tình trạng chiến tranh, cũng đã không
được đưa ra cho nhân dân phúc quyết và vì vậy các Quốc
hội sau đó không bị ràng buộc. Tuy vậy, Hiến pháp 1959 và
1980 đều viện dẫn Hiến pháp 1946 trong lời mở đầu và qua
đó công nhận Hiến pháp 1946 như là văn bản cơ bản mà các
Hiến pháp sau kế thừa và tiếp nối.

Lời mở đầu của Hiến pháp 1959 ghi rõ Hiến pháp 1959 bắt
nguồn từ nhu cầu sửa đổi Hiến pháp 1946, chứ không phải
là một bản Hiến pháp mới hay bản Hiến pháp đầu tiên:
<em>"Trong giai đoạn mới của cách mạng, Quốc hội ta cần
sửa đổi bản Hiến pháp năm 1946 cho thích hợp với tình hình
và nhiệm vụ mới"</em>[3] Hiến pháp 1980 cũng ghi rõ:
<em>"Kế thừa và phát triển Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp
năm 1959, Hiến pháp này tổng kết và xác định những thành
quả đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam trong nửa thế
kỷ qua, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt
Nam, bảo đảm bước phát triển rực rỡ của xã hội Việt Nam
trong thời gian tới"</em>[4] Và Hiến pháp 1992: <em>"Qua các
thời kỳ kháng chiến kiến quốc, nước ta đã có Hiến pháp
năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980"</em>[5] Rõ
ràng tất cả các Hiến pháp của Việt Nam đều tự nhận là
văn bản kế thừa của Hiến pháp 1946, và vì vậy không có lý
do gì có thể biện minh cho việc thiếu giá trị pháp lý của
các Hiến pháp đó vì đã không tuân thủ quy trình sửa đổi
mà Hiến pháp 1946 đặt ra.

Như vậy, dù đặt ra hay không đặt ra hạn chế của việc sửa
đổi Hiến pháp, đặt vấn đề cấu trúc và bản chất hệ
thống chính trị nhân dân phúc quyết là không thể né tránh,
và hoàn toàn phù hợp với chủ quyền tối cao của nhân dân và
nguyên tắc pháp trị. Trong lần sửa đổi Hiến pháp lần này,
chính vì dư luận và nhiều học giả đồng thuận trong việc
tôn trọng chủ quyền tối cao của người dân trong vấn đề
lập hiến, bằng một cuộc trưng cầu dân ý đầu tiên trong
lịch sử, thiết nghĩ không có lý do gì để một lần nữa
tước đi quyền phát biểu nguyện vọng về thể chế chính
trị của nhân dân, một thể chế trong đó chúng ta và các thế
hệ kế tiếp sống và làm việc.

Người viết bài này mong nhận được thảo luận từ độc
giả, và hồi đáp từ tác giả Bùi Ngọc Sơn trên tinh thần
thảo luận học thuật mang tính xây dựng.

<strong>Thanh Thủy</strong>
<strong>© 2010 Tạp chí Thanh niên <em>PHÍA TRƯỚC</em></strong>

1 Xem bài tại
http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/ly-luan-ve-nha-nuoc/sua-111oi-quy-trinh-sua-111oi-hien-phap

2 Xem Stephen Holmes, Precommitment and the Paradox of Democracy, trong
Constitutionalism and Democracy (Jon Elster and Rune Slagstad, eds.,
Cambridge University Press 1997), tr. 195-240.

3 Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1959.
http://laws.dongnai.gov.vn/1951_to_1960/1960/196001/196001010001

4 Hiến pháp CHXHCNVN năm 1980.
http://laws.dongnai.gov.vn/1971_to_1980/1980/198012/198012190001/lawdocument_view

5 Hiến pháp CHXHCNVN năm 1992.
http://laws.dongnai.gov.vn/1991_to_2000/1992/199204/199204180001

<strong><div class="leftalign">Download <a
href="http://www.mediafire.com/?h95d0h0codoi968">TCPT38 -Bản HĐ</a> (10MB)
Download <a href="http://www.mediafire.com/?1bkgvyb5k4miys4">TCPT38 – Bản
Standard</a> (4MB)
Download <a href="http://www.mediafire.com/?iw6w704g80dt2ny">TCPT38 – Bản
Mini</a> (2MB)</div></strong>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6504), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét