Robert D. Kaplan - Địa lý của thế lực Trung Quốc

<div class="special_quote"><h2>Lời người chuyển ngữ</h2>

Hãy suy nghĩ về con cừu và cái cọc.

Một đứa bé sinh ra lớn lên đã được đưa vào con đường
giáo dục định hướng nhất định, tức là được nhìn, nghe
và nói những gì đã áp đặt bằng cường bạo vào một lý
thuyết vong bản ngoại tộc. Và đến khi trưởng thành đứa bé
ấy bị đưa từ một cái vòng nhỏ vào cái vòng lớn hơn của
cái xã hội lớn hơn và tiếp tục chỉ được nhìn, nghe và
nói những gì mà cho phép. Và ai cũng biết kết quả là đứa
bé ấy đã trở thành một con cừu toàn vẹn. Thỉnh thoảng có
vài con cừu tự giác ngộ và đi lạc lên cái đồi cao hơn và
nhìn thấy sự việc và muốn thay đổi thì đã bị đám chăn
cừu hung tàn lùa bắt và cột cổ dùng vũ lực lôi chúng theo
những đám cừu ngoan ngoãn kia. Cuộc hành hương về đất lạ
phương Bắc dài cho những thế hệ đầu và càng ngắn cho
những thế hệ về sau. Và lịch sử sẽ đi vào quên lãng.

Tổ tiên Việt Nam ta đã dạy:

<em>Lấy trí nhân để thay cường bạo
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn</em>

Một đứa bé sinh ra lớn lên được đưa vào con đường giáo
dục lấy trí nhân làm nền tảng tức là được nhìn, nghe và
nói những gì mà tổ tiên dạy và có sự so sánh phán xét với
thế giới rộng mở bên ngoài thay đổi theo từng giai đoạn
lịch sử. Và đến khi trưởng thành đứa bé ấy đã biến
hình thành một bồ đại nghĩa. Và được phương tiện của con
tuấn mã kỹ thuật thông tin càng ngày càng tiến bộ, mỗi một
bồ đại nghĩa đã trở thành một cái cọc trên dòng sông
Bạch Đằng vô giới hạn. Và lịch sử sẽ lập lại và sống
mãi.

Do đó sự lựa chọn chiến lược là điều cần thiết cho sự
tồn vong của dân tộc Việt.

Mặc dù rất bận, tôi cố gắng tìm một thí dụ trong hàng
trăm thí dụ hay. Nhiều lý luận của bài luận này hầu hết
dựa trên mặt địa lý nhưng mang rất nhiều thông tin kết hợp
với những phân tích của một trong những chuyên gia nổi tiếng
nhất thế giới.

Tôi hy vọng bài này được phổ biến rộng rãi và sẽ đem
đến một số suy nghĩ không những cho mỗi người Việt Nam mà
nhất là cho các cán bộ các cấp kể cả những lãnh đạo có
quyền quyết định trong mỗi lãnh vực của Đảng CSVN, là
những người có thể đóng góp cho xây dựng sự lựa chọn
chiến lược nói trên.

Việt Nam đã có cơ hội ngàn năm một thuở sau khi dây chuyền
Cộng Sản sụp đổ kéo theo Liên Bang Sô Viết. Tại thời
điểm ấy nếu Việt Nam đi theo con đường tự do dân tộc thì
toàn thế giới tự do sẽ chuyển hướng những ưu tiên vào
Việt Nam hơn là dành cho Trung Quốc. Sự lựa chọn của Đảng
CSVN lúc ấy là đi theo Trung Quốc để bảo vệ chế độ là
một sai lầm chiến lược lớn nhất trong lịch sử 4000 ngàn
năm dựng nước và giữ nước Việt Nam và càng đưa đất
nước sâu hơn đến khủng hoảng tại họa Trung Quốc. Nga,
Nhật Bản và Ấn Độ là ba quốc gia chính với sự hậu thuẫn
của Hoa Kỳ sẽ lôi kéo Việt Nam vào với họ vì Việt Nam nằm
ở vị trí chiến lược nhất ở vùng Đông Nam Á. Tất cả
ngoại bang kể cả Trung Quốc và Hoa Kỳ sẽ không bao giờ muốn
Việt Nam trở thành một nước tự do thật sự vì chỉ có
độc tài tại Việt Nam thì ngoại bang mới lũng đoạn theo ý
họ được. Sự lũng đoạn sẽ đưa nước Việt trở thành
một chiến trường mới. Do đó, tôi xin lập lại, sự lựa
chọn chiến lược là điều cần thiết cho sự tồn vong của
dân tộc Việt. Nước Việt Nam phải trở thành một dòng sông
Bạch Đằng vô giới hạn và mỗi một đứa con dân Việt sẽ
là một cái cọc trên dòng sông ấy.

Mô hình độc tài hiện tại đưa đến mất nước là điều
tất yếu. Một mô hình đúng đắn cho sự tồn vong của nước
và dân tộc Việt là một cần thiết. Bài viết trước về mô
hình Trung Quốc, tôi đã đề cập Việt Nam cần một mô hình
như Úc với vài thay đổi để vượt lên trên tất cả những
thế lực cực đoan phản dân tộc và lũng đoạn đất nước.
Cũng nên nhấn mạnh ở đây, tác giả bài luận cũng cho là
thủ đô thiên nhiên của Đông Dương là thành phố Kunming của
tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Do đó nước Việt Nam cũng không còn
thì giờ nhiều để có thể tạo một nền móng mới vững
chắc được.

Dọc theo bài viết, tôi cũng thêm một số bình luận trong
ngoặc đánh dấu MVT và số thứ tự và giải thích chi tiết ở
phần cuối bài viết.


Mai Việt Tú
(Mai này nước Việt đẹp hơn)
Tháng 9 năm 2010</div>


<h2>Bắc Kinh có thể vươn bao xa trên đất liền và trên
biển?</h2>

Nhà địa lý người Anh, Sir Halford MacKinder, viết xong một bài
luận nổi tiếng năm 1904, <em>"Cái chốt địa lý của lịch
sử"</em>, với nhận định đáng lo ngại chỉ thẳng vào
nước Trung Quốc. Sau khi giải thích tại sao vùng Âu-Á (MVT-1)
là điểm tựa chiến lược của sự vận chuyển của quyền
lực thế giới, ông giả nghiệm rằng Trung Quốc, nếu họ nới
rộng quyền lực của họ qua khỏi những biên giới của họ,
<em>"có thể áp đặt một luồng nguy hiểm vàng (dân Á Châu)
cho sự tự do của thế giới chỉ vì họ chỉ muốn cộng thêm
một vùng bờ biển vào những tài nguyên của một châu khổng
lồ, một lợi thế mà Trung Quốc không công nhận như vậy
đối với những người Nga sống trong vùng chốt (chiến lược
kể trên)"</em>. Bỏ cảm giác kỳ thị ra một bên, mà rất
phổ thông cho thời buổi này, cũng như là phản ứng thấp
thỏm do bởi sự nổi dậy bất cứ lúc nào của thế lực
không phải của phương Tây, Mackinder nêu ra một điểm: trong khi
Nga, một quốc gia lớn khác của vùng Âu-Á, nói một cách cơ
bản đã là, và vẫn là, một thế lực trên đất liền với
một mặt biển bị chắn bởi băng đá, thì Trung Quốc, làm
chủ cả 9000-dặm bờ biển ấm áp với nhiều vịnh (cho tàu
bè) thiên nhiên, có cả hai thế lực đất liền và biển.
(Mackinder thật sự lo sợ rằng Trung Quốc có thể một ngày nào
đó xâm chiếm nước Nga). Tầm tay của Trung Quốc vươn ra từ
Trung Á, với tất cả quặng mỏ và nguyên liệu dồi dào, cho
tới những đường vận chuyển của tàu bè ở Thái Bình
Dương.

Sau này, trong xã luận <em>"Những lý tưởng và hiện thực dân
chủ"</em>, Mackinder tiên đoán rằng cùng với Hoa Kỳ và Anh
Quốc, Trung Quốc sau cùng sẽ hướng dẫn thế giới bằng
<em>"xây dựng một phần tư nhân loại với một nền văn minh
mới, không hẳn Đông phương chẳng hẳn Tây phương"</em>.
(MVT-2)

Địa lý của Trung Quốc được trời phú rõ ràng đã bị lu
mờ bởi cái điểm được đề cao trong những thảo luận về
sự năng động của nền kinh tế và sự cương quyết (của
những chính sách và dự án) của họ. Cho đến nay thật là
cần thiết: nó có nghĩa rằng là Trung Quốc sẽ đứng tại
trung điểm của chính trị địa lý ngay cả nếu con đường
của quốc gia (Trung Quốc) đi đến thế lực toàn cầu không
cần thiết là con đường thẳng êm đẹp. (Trung Quốc đã và
đang có chỉ số tăng trưởng GDP hơn 10 phần trăm mỗi năm hơn
30 năm qua, nhưng một cách chắc chắn là họ không thể có
(tăng trưởng cao) như vậy trong 30 năm sắp tới). Trung Quốc
tổng hợp một cực đoan, tối tân kiểu Tây phương với một
nền <em>"văn minh định hướng"</em> (thuật ngữ được gán
ghép bởi nhà sử gia Karl Wittforgel để mô tả những xã hội
mà áp đặt sự kiểm soát bởi trung ương trong sự dẫn thủy
nhập điền) đó là đem lại những kinh nghiệm cũ của Đông
phương cổ truyền: thật cám ơn cho đường lối tập trung
quyền hành trung ương, nhà cầm quyền, chẳng hạn, có thể
trưng dụng hàng triệu người lao động để xây dựng cơ sở
hạ tầng trọng đại. Việc ấy chứng tỏ Trung Quốc năng
động một cách vững chắc mà những quốc gia dân chủ không
thể thực hiện được với tất cả khả năng thương lượng.
Như lần lượt những nhà lãnh đạo CS của Trung Quốc – cũng
ảnh hưởng gốc rễ của khoảng 25 triều đại trong 4000 năm
qua – đang hấp thụ kỹ thuật phương Tây và điều hành
phương Tây, tự họ thích ứng vào trong một hệ thống kỷ
luật với bản sắc thái riêng (của họ) với một kinh nghiệm
đặc thù trong, giữa những thứ khác, quá trình tạo dựng
những quan hệ gắn bó với các quốc gia khác. <em>"Người
Trung Quốc"</em>, một quan chức Singapore nói với tôi hồi
đầu năm nay, <em>"nịnh bợ mày khi mà họ muốn nịnh bợ
mày, trấn lột mày khi họ muốn trấn lột mày, và họ làm
thế một cách có hệ thống"</em>.

Năng động nội bộ của Trung Quốc tạo ra khát vọng của họ
hướng ra bên ngoài. Những đế quốc ít khi thành hình từ phác
họa, họ lớn mạnh một cách hữu cơ (tự nhiên như một cái
cây). Khi những quốc gia trở thành mạnh hơn, họ gặt hái
những nhu cầu mới và – đây có thể được cảm thấy chống
lại lẽ thường – những tâm trạng mà bắt buộc họ phải
xâm lăng bằng mọi hình thức. Ngay dưới thời mấy vị tổng
thống Mỹ mà được xem là dở nhất – Rutherford Hayes, James
Garfield, Chester Arthur, Benjamin Harrison – nền kinh tế Mỹ tăng
trưởng một cách đều đều và thầm lặng trong khoảng cuối
thế kỷ mười chín. Khi quốc gia buôn bán nhiều hơn với thế
giới bên ngoài, nó phát triển ra một kinh tế phức tạp và
đặt những quyền lợi chiến lược đến những nơi xa xôi
hơn. Đôi khi, như ở vùng Nam Mỹ và Thái Bình Dương, chẳng
hạn, những quyền lợi này bào chữa cho việc dùng vũ lực
quân đội. Hoa Kỳ đã có thể bắt đầu tập trung vào hướng
ngoại trong thời gian ấy bởi vì họ đã thống nhất đất
nước; trận đánh lớn cuối cùng của chiến tranh với Thổ
Dân Da Đỏ ở năm 1890.

Trung Quốc ngày nay đang củng cố những biên giới của họ và
đang bắt đầu hướng ngoại. Những khát vọng của chính sách
ngoại giao của Trung Quốc cũng hiếu chiến như là của Hoa Kỳ
một thế kỷ trước, nhưng cho những mục đích hoàn toàn khác
nhau. Trung Quốc không xử dụng cái phương cách giảng đạo cho
những giao dịch thế giới, kiếm cách để lan rộng một ý
tưởng hoặc một hế thống quản trị chính phủ. Phát triển
đạo đức trong những giao dịch quốc tế là một mục đích
của Mỹ, không phải là của Trung Quốc. Những hành động ở
ngoài nước Trung Quốc được lèo lái bởi nhu cầu của họ
để bảo đảm năng lượng, kim loại, và những khoáng chất
chiến lược trong mục đích bảo đảm tiêu chuẩn đời sống
đang đi lên của một dân số khổng lồ, với con số vào
khoảng một phần năm tổng dân số thế giới.

Để hoàn thành sứ mạng này, Trung Quốc đã và đang xây dựng
những quan hệ thế lực ở thế ưu trương cả đối với
những quốc gia giáp ranh và những nơi chốn xa xôi mà giàu về
nguyên liệu mà Trung Quốc cần để xử dụng cho sự tăng
trưởng của họ. Bởi vì cái gì mà thúc đẩy Trung Quốc
hướng ngoại đều xuất phát từ trung tâm quyền lợi của
quốc gia của họ - sự sống còn của kinh tế - Trung Quốc có
thể được định nghĩa là một thế lực ẩn thực. Họ tìm
cách xây dựng thế đứng vững chắc (của họ) trên những
phần đất của Phi châu mà giàu về dầu hỏa và những khoáng
sản và (Trung Quốc cũng) muốn được quyền xử dụng đường
tàu xuyên qua Ấn Độ Dương và Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông
Việt Nam, MVT-3), để nối liền cái thế giới Ả Rập Ba Tư
(Trung Đông) giàu chất đốt đến tới bờ biển Trung Quốc.
Không có sự lựa chọn (nào khác hơn) trong vấn đề này, Bắc
Kinh cóc cần để ý cái loại chế độ (độc tài) gì mà họ
đang làm ăn với; Trung Quốc đòi hỏi sự yên ổn, không phải
cái kiểu đạo đức mà phương Tây hấp thụ. Và bởi vì một
số những chế độ – như ở Iran, Miến Điện, và Sudan –
được che đậy và là độc tài, sự vơ vét nguyên liệu của
Trung Quốc đưa họ đối đầu với Hoa Kỳ mà (là loại quốc
gia) có đường hướng quảng bá đạo đức, cũng như đối
đầu với những nước Ấn Độ và Nga muốn chống lại sự
tranh giành ảnh hưởng lan rộng của Trung Quốc.

Để cho chắc chắn, Trung Quốc không là một vấn đề cho các
quốc gia này suy diễn từ các vấn đề liên quan trong quá khứ
và hiện tại (gây ra bởi Trung Quốc). Cơ hội chiến tranh xảy
ra giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ thì hiếm; sự đe dọa binh lực
của Trung Quốc đối với Hoa Kỳ thì chỉ là gián tiếp. Sự
ganh đua mà Trung Quốc phô bầy chỉ có về địa lý một cách
chính yếu – mặc dù bên cạnh những vấn đề quan trọng sinh
tử như về nợ nần, giao thương và hâm nóng thế giới. Những
khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc hiện ra ở những nơi Á-Âu
và Phi châu đang trong chiều hướng gia tăng, không như là một
cái cảm tưởng của cái kiểu đế quốc của thế kỷ mười
chín nhưng trong một kiểu cách nhẹ nhàng hơn thích hợp với
thời đại thế giới hóa. Bảo đảm nhu cầu kinh tế của họ
(Trung Quốc) nói một cách đơn giản, Trung Quốc đang di chuyển
sự cân bằng thế lực ở Đông Bán Cầu, và điều ấy có
thể làm Hoa Kỳ lo ngại. Trên đất liền và biển, Trung Quốc
động lòng (tham) vì địa thế thuận lợi của họ trên bản
đồ, sự ảnh hưởng của Bắc Kinh tỏa ra và lan rộng từ
Trung Á cho đến Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông Việt Nam), từ
Viễn Đông Nga cho đến Ấn Độ Dương. Trung Quốc là một thế
lực lục địa đang lên, và, như là câu nói nổi tiếng của
Nã Phá Luân, những chính sách của những nhà nước như vậy
tìm tàng trong địa lý của họ.

<h2>Triệu chứng biên giới nhạy cảm</h2>

Tân Cương và Tây Tạng là hai lãnh thổ chính nằm trong Trung
Quốc mà dân cư đã và đang chống lại sự lôi kéo của nền
văn minh kiểu Trung Quốc. Sự kiện này làm cho họ trở thành
những vật sở hữu của đế quốc Bắc Kinh, theo một cách
nhìn nào đó. Hơn nữa, những căng thẳng từ những dân tộc
thiểu số trong những vùng này đang làm phức tạp những quan
hệ của Bắc Kinh đối với những nhà nước lân cận.

"Tân Cương", tên của một tỉnh cực tây của Trung Quốc,
có nghĩa là "biên cương mới" (MVT-4), và nó ám chỉ đến
phần Turkestan của TQ, một vùng rộng gấp đôi Texas xa xôi từ
trung tâm của Trung Quốc, xuyên qua sa mạc Gobi. Trung Quốc đã
và đang là một nhà nước dưới hình thức nào đó qua hàng
ngàn năm, nhưng Tân Cương chính thức trở thành một phần của
Trung Quốc chỉ vào cuối thế kỷ mười chín. Từ đó, như là
nhà ngọai giao Anh Quốc của thế kỷ hai mươi Sir Fitzroy Maclean
đã một lần khẳng định, lịch sử của xứ (Tân Cương)
<em>"đã và đang chỉ là một sự bất ổn được kềm
giữ"</em>, được nổi bật qua những cách mạng và những
khoảng thời gian cai trị độc lập tiến đến những năm 1940.
Năm 1949, Cộng Sản của Mao Trạch Đông tiến vào Tân Cương và
bắt buộc xứ này phải nhập vào Trung Quốc. Nhưng như gần
đây như là năm 1990 và lập lại vào năm ngoái, người thiểu
số Tân Cương gốc Thổ Nhĩ Kỳ - hậu duệ của người gốc
Thổ Nhĩ Kỳ cai trị Mông Cổ vào những thế kỷ thứ bảy và
thứ tám – biểu tình bạo động chống lại sự cai trị của
Bắc Kinh.

Những người Uighur dân số khoảng tám triệu và chỉ chiếm
một phần trăm của dân số toàn Trung Quốc, nhưng họ lại
chiếm 45 phần trăm dân số Tân Cương. Dân tộc Hán của Trung
Quốc đa số tập trung chính vào những đồng bằng ở giữa
quốc gia và gần Thái Bình Dương, trong khi những nơi đồng
bằng khô khan hơn ở vùng tây và tây nam là nơi cư ngụ lâu
năm của dân thiểu số Uighur và Tây Tạng. Sự phân chia này
tiếp tục là một nguyên nhân của sự căng thẳng, bởi vì
trong ánh mắt của Bắc Kinh, nhà nước tân tiến Trung Quốc
phải nên tiến hành kiểm soát toàn diện trên những vùng đất
này. Để đoạt được chiếm giữ những vùng này – và dầu
hỏa, khí đốt thiên nhiên, đồng, quặng sắt trong đất của
họ - Bắc Kinh đã và đang trong mấy chục năm nay cấy dân gốc
Hán vào những đất tâm điểm. Họ (Trung Quốc) đã và đang
một cách hung hãn cố ý xúi dục cho nhóm cộng hòa độc lập
thiểu số gốc Thổ Nhĩ Kỳ của vùng Trung Á, một phần nào
tiêu diệt bớt nhóm người Uighur nằm trong Tân Cương ở bất
kỳ căn cứ hậu cần nào.

Bắc Kinh cũng đã và đang ve vãn những nhà nước Trung Á để
nới rộng quả cầu ảnh hưởng của họ; Trung Quốc đã nới
rộng xa vào Á-Âu, nhưng không đủ xa để đảm bảo cho nhu
cầu về nguyên liệu thiên nhiên của họ. Tác động của Bắc
Kinh trong vùng Trung Á thể hiện qua hai ống dẫn năng lượng
chính đến Tân Cương sắp hoàn thành: một ống dẫn dầu từ
Biển Caspian xuyên qua Kazakhstan, ống kia mang khí đốt thiên
nhiên từ Turkmenistan xuyên qua Uzbekistan và Kazakhstan. Sự vơ vét
tài nguyên thiên nhiên cũng có nghĩa là Bắc Kinh sẽ chịu
đựng những rủi ro hiện hữu để đạt được chúng. Trung
Quốc đang đào mỏ đồng phía nam của Kabul, trong nước chiến
tranh tan nát A Phú Hãn, và cũng trong vùng này họ cũng để mắt
đến sắt, vàng, uranium và những ngọc quí (vùng này còn một
số quặng chưa bao giờ được khai thác). Bắc Kinh cũng hy vọng
xây những con đường và những ống dẫn năng lượng qua A Phú
Hãn và Pakistan, nối liền những nước Trung Á dưới ảnh
hưởng của Trung Quốc tới những bến cảng ở Ấn Độ
Dương. Địa lý chiến lược của Trung Quốc có thể được
cải tiến khá hơn nếu Hoa Kỳ ổn định được A Phú Hãn.

Như Tân Cương, Tây Tạng thì hữu ích cho (hình ảnh của) Trung
Quốc về sự tự giác ngộ đi theo Trung Quốc, và cũng như Tân
Cương, nó ảnh hưởng đến ngoại giao của Trung Quốc. Vùng
đồi núi của Tây Tạng, nhiều đồng và quặng sắt, tổng
kết cũng đủ cho cả nước Trung Quốc. Đấy chính là những
cái nhìn hoảng sợ của Bắc Kinh về viễn ảnh của Tây Tạng
tự trị, chưa kể đến sự độc lập, và đó là tại sao Trung
Quốc đang xây dựng một cách hoảng hốt đường xá và những
tuyến đường xe hỏa xuyên vùng. Không có Tây Tạng, Trung Quốc
chỉ là một đám rơi rớt lại tàn lụi mà những thành viên
khác trong Trung Quốc (vĩ đại) bỏ đi – và Ấn Độ sẽ
được thêm một vùng hướng bắc vào cái căn cứ thế lực
tiểu lục địa của họ.

Với một dân số trên một tỷ, Ấn Độ đã là một cái mảng
địa lý cùn xẻ vào vùng ảnh hưởng của TQ tại Á Châu. Một
bản đồ của <em>"Trung Quốc Vĩ Đại Hơn"</em> trong cuốn
sách năm 1997 của Zbigniew Brzezinski "The Grand Chess-board" (Bàn
cờ khổng lồ) nhấn mạnh rõ ràng điểm này. Ở mức độ nào
đó, Trung Quốc và Ấn Độ thật sự đi đến đối đầu về
mặt địa lý: hàng xóm với dân số đông đảo, những (ảnh
hưởng) văn hóa sâu đậm và được kính nể, và tranh chấp
nhau về lãnh thổ (thí dụ, bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ).
Vụ việc Tây Tạng chỉ làm tăng thêm sự nghiêm trọng của
những vấn đề này. Ấn Độ đã đỡ đầu cho chính phủ lưu
vong của Đức Dalai Lama từ năm 1957, và Daniel Twining, một nhà
nghiên cứu thâm niên tại German Marshall Fund (MVT-5), nói rằng
những căng thẳng biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc
<em>"có thể liên quan tới những lo lắng của Bắc Kinh qua sự
kế vị của Đức Dalai Lama"</em>: Đức Dalai Lama kế tiếp có
thể đến từ vòng đai văn hóa Tây Tạng trải dài xuyên qua
vùng bắc Ấn Độ, Nepal và Bhutan, phỏng chừng là Người
(mới) nghiêng về Ấn và chống Trung Quốc. Trung Quốc và Ấn
Độ sẽ chơi một "cuộc chơi tuyệt hảo" không chỉ ở
những vùng đó mà cũng ở Bangladesh và Sri Lanka. Tân Cương và
Tây Tạng nằm trong biên giới hợp pháp của Trung Quốc, nhưng
sự căng thẳng của chính phủ Trung Quốc trong quan hệ với
những người của cả hai tỉnh đề nghị rằng là Bắc Kinh lan
rộng sự ảnh hưởng của họ quá khỏi cái gốc Hán của họ,
chắc chắn sẽ đối diện với sự chống đối.

<h2>Từng bước kiểm soát</h2>

Ngay những nơi biên giới an toàn của Trung Quốc, hình dạng
của nước Trung Quốc làm diện mạo xuất hiện như thể không
toàn vẹn một cách nguy hiểm – như thể những phần của một
<em>Trung Quốc Vĩ Đại Hơn</em> nguyên thủy bị cắt rời ra.
Biên giới phía bắc của Trung Quốc gói chung quanh Mông Cổ,
một mảnh đất khổng lồ được nhìn như thể có một lần
nào đó bị ngoạm ra khỏi cái lưng của Trung Quốc. Mông Cổ
có mật độ dân số thấp nhất thế giới và đang bây giờ
bị đe dọa một cách dân chủng bởi một nền văn minh phố
phường của hàng xóm Trung Quốc. Đã một lần xâm lăng Vùng
Ngoài Mông Cổ để chiếm đoạt đất canh tác, Bắc Kinh đang
động lòng muốn xâm lăng Mông Cổ lần nữa, cùng một kiểu
cách (như trước), để đáp ứng sự đói thèm của họ về
dầu hỏa, than đá, uranium, và những cánh đồng mầu mỡ chưa
khai thác. Những công ty khai thác quặng mỏ của Trung Quốc đã
và đang kiếm cách làm chủ nhiều phần hùn tại Mông Cổ về
những gì còn nằm dưới đất bởi vì sự vô kiểm soát của
kỹ nghệ hóa và đô thị hóa đã và đang biến Trung Quốc
thành một nước đứng đầu thế giới về tiêu thụ nhôm,
đồng, chì, kền, kẽm, thiết và quặng sắt; tỷ lệ tiêu thụ
kim loại của Trung Quốc so với toàn thế giới tăng từ 10
phần trăm lên đến 25 phần trăm từ những cuối thập niên
1990. Với Tây Tạng, Ma Cao, và Hồng Kông đã dưới quyền kiểm
soát của Bắc Kinh, những hợp tác của Trung Quốc đối với
Mông Cổ sẽ là một mô hình cho phán xét mức độ dụng ý
đế quốc của Trung Quốc.

Hướng bắc của Mông Cổ và ba tỉnh đông bắc của Trung Quốc
nằm giáp với vùng Viễn Đông của nước Nga, cái vùng rộng
bằng hai lần Âu Châu với dân số ít và đang càng ít đi. Nhà
nước Nga nới rộng ra tới những vùng này trong thế kỷ mười
chín và đầu thế kỷ hai mươi khi Trung Quốc còn yếu. Bây
giờ, Trung Quốc đang mạnh, và sự cầm quyền của chính phủ
Nga không thấy đâu cả yếu ớt ngay cả một phần ba nước Nga
ở hướng đông nói chung. Xuyên qua biên giới bên kia của Viễn
Đông Nga, nơi mà khoảng bảy triệu người đang sống – con
số này có thể giảm xuống 4.5 triệu đến năm 2015 -, là ba
tỉnh giáp ranh của Trung Quốc có khoảng 100 triệu người: mật
độ dân số 62 lần bên Trung Quốc so với bên Nga. Di dân Trung
Quốc trốn qua Nga định cư ở thành phố Chita, phía bắc của
Mông Cổ, và một số nơi khác trong vùng. Thu thập tài nguyên
là mục đích chính của chánh sách ngoại giao của Trung Quốc
khắp mọi nơi, và vùng Viễn Đông ít dân của Nga chứa một
lượng tích trữ lớn khí đốt, dầu hỏa, gỗ, kim cương, và
vàng, <em>"Moscow lo sợ về một số lượng lớn người Trung
Quốc định cư vào vùng này, lũ lượt đem theo với họ gỗ và
những công ty khai thác mỏ"</em>, David Blair, một nhà báo cho
Daily Telegraph của Luân Đôn viết vào mùa hè năm ngoái.

Như với Mông Cổ, sự lo sợ không phải là một ngày nào đó
lính Trung Quốc xâm lăng hoặc chính thức xâm chiếm Viễn Đông
Nga. Mà là lan tràn dân số (Trung Quốc) và các tập đoàn công
ty ngự trị trên vùng – một phần của vùng này thuộc về
Trung Quốc trong giai đoạn nhà Thanh – đang gia tăng đều đều.
Trong giai đoạn chiến tranh lạnh, tranh chấp biên giới giữa
Trung Quốc và Liên Bang Sô Viết đã đưa hàng trăm ngàn binh
lính đến vùng ngoài xa khỏi cái lưng của vùng Siberia này và
đôi khi xảy ra đụng độ giữa hai bên. Vào cuối thập niên
1960, những căng thẳng đưa đến sự chia tay giữa Trung Quốc
và Sô Viết. Địa lý có thể chia rẽ Trung Quốc và Nga, bởi
vì sự đồng minh hiện tại của hai bên chỉ thuần túy chiến
thuật. Điều này có thể làm lợi cho Hoa Kỳ. Trong thập niên
1970, chính phủ Nixon đã có thể lợi dụng sự chia rẽ của
Bắc Kinh và Moscow và cởi mở về phía Trung Quốc. Trong tương
lai, với thế lực Trung Quốc càng lan rộng, Hoa Kỳ có lẽ tự
nghĩ ra là đối tác với Moscow trong một đồng minh chiến
lược để cân bằng cái Đế Quốc Chính Giữa.

<h2>Những hứa hẹn phương Nam</h2>

Sự ảnh hưởng của Trung Quốc cũng đang lan rộng ở Đông Nam.
Thật ra, đối với những nước yếu kém của vùng Đông Nam Á
với sự xuất hiện của một Trung Quốc Vĩ Đại Hơn gặp ít
chống cự nhất. Chỉ có một vài chướng ngại địa lý ngăn
chia Trung Quốc từ Việt Nam, Lào, Thái Lan và Miến Điện. Cái
thủ đô thiên nhiên của một quả cầu ảnh hưởng trọng tâm
nằm trên giòng sông Cửu Long và nối liền tất cả các quốc
gia Đông Dương bằng đường bộ và đường sông là thành phố
Kunming (Côn Minh), tỉnh Vân Nam của Trung Quốc.

Nước lớn nhất nằm trong đất liền của vùng Đông Nam Á là
Miến Điện. Nếu Pakistan là những nước Balkan (MVT-6) của Á
Châu, sợ rủi ro bị tan rã, thì Miến Điện như là nước Bỉ
của đầu thế kỷ hai mươi, sợ rủi ro bị càn quét bởi
những nước láng giềng. Như là Mông cổ, Viễn Đông Nga và
những nước giáp ranh với Trung Quốc, Miến Điện là một
nước yếu kém nhưng giàu nguyên liệu thiên nhiên mà Trung Quốc
khao khát cần. Trung Quốc và Ấn Độ đang tranh nhau để xây
dựng cảng nước sâu Sittwe, tại bờ biển của Miến Điện
phía Ấn Độ Dương, với cả hai đang nắm hy vọng sau này xây
dựng những ống dẫn khí đốt từ những bãi ngoài khơi trong
vịnh Bengal.

Cho toàn vùng nói chung, trong một số khía cạnh Bắc Kinh có
thể được xem là áp dụng chiến lược chia-để-trị. Trong
quá khứ, Trung Quốc thảo luận với từng quốc gia trong khối
ASEAN (Hiệp Hội Những Quốc Gia Đông Nam Á) riêng rẽ, không
thảo luận chung toàn hiệp hội cùng một lúc. Ngay cả cái
thỏa thuận mới đầu tiên về tự do thương mại với ASEAN
chứng tỏ cách mà Trung Quốc tiếp tục xây dựng quan hệ có
lợi nhuận đối với các hàng xóm phương nam. Trung Quốc xử
dung ASEAN như là một thị trường để bán giá cao những món
hàng chế tạo công nghiệp đồng thời mua giá thấp những nông
phẩm. Sự việc này đưa đến thặng dư thương mại, ngay như
là các quốc gia ASEAN đang trở thành những bãi đổ đồ cho
hàng hóa ký nghệ được sản xuất bởi lao động rẻ mạt
của Trung Quốc.

Điều này đang xảy ra cho Thái Lan, từng là một nước mạnh,
mà gần đây đã bị rung chuyển bởi vấn đề chính trị,
đóng vai trò càng ngày càng ít như là cái neo của vùng và
chống lại sức ép tìm tàng của Trung Quốc. Gia đình hoàng gia
Thái, với vị vua yếu ớt, không thể nào còn là một động
lực để tạo yên ổn như ngày nào, và chủ nghĩa phe phái đang
xoay chuyển quân đội Thái. (Trung Quốc đang xây dựng một quan
hệ quân sự song phương với Thái Lan, cũng như đang xây dựng
những quan hệ tương tự với những quốc gia khác của Đông
Nam Á, ngay cả như Hoa Kỳ ít tập trung vào thực tập quân sự
hơn trong vùng để tập trung vào chiến tranh của họ ở A Phú
Hãn và Iraq). Hướng về nam của Thái Lan, Mã Lai và Singapore
đang đi đến những giai đoạn chuyển tiếp dân chủ thách
thức khi những người quyền lực, Mahathir bin Mohamad và Lý Quang
Diệu, không còn hiện diện. Mã Lai đang tiến xa hơn dưới bóng
của Trung Quốc về phương diện kinh tế, ngay trong khi dân gốc
Tàu cảm thấy đe dọa bởi đa số Mã Lai Hồi Giáo.Và chính
phủ Singapore, ngay cả Singapore là một nước mà dân số gốc
Tàu, lo sợ trở thành một tù trưởng (cho một bộ lạc) của
Trung Quốc; cho đến nhiều năm nay, Singapore đã và đang nuôi
dưỡng quan hệ huấn luyện quân sự với Đài Loan. Ông Lý
(của Singapore) kêu gọi Hoa Kỳ nên vẫn ở lại tham gia trong
vùng, về quân sự và ngoại giao. Indonesia, về phần họ, bị
xâu xé giữa sự cần thiết hiện diện của hải quân Hoa Kỳ
chống lại Trung Quốc và sự lo sợ rằng nếu họ bị nhìn
giống như một đồng minh của Hoa Kỳ sẽ làm thế giới Hồi
Giáo giận dữ. Trong khi sức mạnh của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á
đã đi qua khỏi điểm đỉnh và sự vươn cao của Trung Quốc,
những nước trong vùng gia tăng liên kết với nhau chống lại
chiến lược chia-để-trị. Indonesia, Mã Lai, và Singapore liên
kết cùng nhau chống lại nạn cướp biển, chẳng hạn. Khi các
nước càng dựa vào lẫn nhau trở thành nhiều hơn, thì đe dọa
bởi sự vươn lên của Trung Quốc càng ít đi.

<h2>Phương diện quân sự</h2>

Trung Á, Mông Cổ, Viễn Đông Nga, và Đông Nam Á là những vùng
thiên nhiên của sự ảnh hưởng của Trung Quốc. Nhưng chúng nó
cũng là những vùng mà biên giới chính trị khó có thay đổi.
Tình trạng ở bán đảo Đại Hàn thì khác biệt: cái bản đồ
của Trung Quốc như bị cắt cụt tại đó, và ngay tại đó
biên giới chính trị có thể thay đổi.

Cái chính thể Bắc Hàn khép kín thì không ổn định nói một
cách cơ bản, và sự giao động có thể ảnh hưởng toàn vùng.
Đâm ra từ Manchuria, Bán Đảo Đại Hàn (có thể) chỉ huy tất
cả giao thông đường thủy đi và đến đông bắc Trung Quốc.
Không ai dự đoán Trung Quốc xâm lăng bất kỳ phần nào của
Bán Đảo Đại Hàn, dĩ nhiên, Trung Quốc vẫn bất thuận lợi
bởi chủ quyền của bất kỳ các nước khác ở đấy, đặc
biệt là ở phía bắc. Mà mặc dù Trung Quốc ủng hộ chính
thể Stalin-nít Kim Jong Il, họ đã có những kế hoạch xa hơn
sự cầm quyền của Kim. Bắc Kinh muốn trả về hàng ngàn
người đã trốn khỏi Bắc Hàn đang ở trong Trung Quốc để
họ có thể xây dựng một căn bản chính trị thuận lợi cho
Bắc Kinh để từ từ chiếm quyền kinh tế ở vùng Sông Tumen,
nơi mà Trung Quốc, Bắc Hàn và Nga có biên giới chung và có
những phương tiện tàu cảng xuyên qua từ Nhật Bản trên Thái
Bình Dương.

Đây chính là một lý do tại sao Bắc Kinh thích thấy một nhà
nước độc tài tân tiến phát triển ở Bắc Hàn – một nhà
nước như vậy sẽ tạo ra bột khoảng độn giữa Trung Quốc
và nền dân chủ lộng lẫy trung lưu của Nam Hàn. Nhưng thống
nhất trên Bán Đảo Đại Hàn (Nam và Bắc) cũng sẽ có lợi cho
Bắc Kinh. Một Đại Hàn thống nhất sẽ có tinh thần quốc gia
và mang hành động hiếu chiến nào đó hướng về Trung Quốc
và Nhật Bản, mà cả hai nước này đều muốn xâm lăng (Đại
Hàn) trong quá khứ. Nhưng sự thù hận của Đại Hàn đối với
Nhật Bản nhiều hơn là đối với Trung Quốc. (Nhật Bản
chiếm đóng bán đảo từ 1910 đến 1945, và Hán Thành (của Nam
Hàn) và Tokyo tiếp tục tranh cải trên chủ quyền của đảo
đá nhỏ Tokdo/Takeshima.) Quan hệ kinh tế sẽ mạnh hơn với Trung
Quốc hơn là với Nhật Bản: một nước thống nhất Đại Hàn
sẽ gần như là dưới sự kiểm soát của Hán Thành, và Trung
Quốc đã là đối tác thương mại lớn nhất của Nam Hàn. Sau
cùng, một nước thống nhất Đại Hàn mà hơi nghiêng về Bắc
Kinh và tránh xa Nhật Bản sẽ có ít lý do để tiếp tục cho
quân đội Hoa Kỳ hợp tác. Nói một cách khác, thật là dễ
dàng để suy tưởng một tương lai Đại Hàn nằm trong một
<em>Trung Quốc Vĩ Đại Hơn</em> và một thời điểm khi mà sự
hiện diện trên bộ của Hoa Kỳ sẽ thu hẹp.

Như thí dụ của Bán Đảo Đại Hàn chứng tỏ những biên
giới trên bộ của Trung Quốc có dấu hiệu với nhiều cơ hội
hơn là nhiều trở ngại nguy hiểm. Như là Mackinder đã đề
nghị, Trung Quốc được nhìn như là đang phát triển để trở
thành một thế lực vĩ đại cả trên đất liền và biển mà
sẽ tối thiểu làm cho Nga mờ dần ở Âu-Á. Nhà khoa học chính
trị John Mearsheimer (MVT-7) viết trong The Tragedy of Great Power
Politics (Sự Thảm Khốc của Chính Trị Thế Lực Vĩ Đại)
rằng <em>"những nước nguy hiểm nhất trong hệ thống thế
giới là những thế lực lục địa với những quân đội to
lớn"</em>. Đây có thể là lý do để sợ hãi sự ảnh hưởng
của Trung Quốc khi nước này càng ngày càng trở thành một
thế lực lục địa. Nhưng Trung Quốc chỉ một phần nào phù
hợp vào sự mô tả của Mearsheimer: quân đội, mức mạnh 1.6
triệu, lớn nhất trên thế giới, nhưng sẽ không có khả năng
quân sự nhanh chóng cho chiến sự cũng phải cần nhiều năm
nữa. Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân (PLA) đã tham gia cứu trợ
trong vụ động đất ở Tứ Xuyên năm 2008, cho đến biểu tình
bạo động sắc tộc tại Tây Tạng và Tân Cương, và cho đến
an ninh trật tự khó khăn của Thế Vận Hội 2008 tại Bắc Kinh.
Tuy nhiên, theo Abraham Denmark của Trung Tâm Nghiên Cứu An Ninh Hoa
Kỳ Mới, nó chỉ cho thấy rằng PLA có thể di chuyển những
toán quân từ một nơi trên Trung Quốc đến một nơi khác,
nhưng họ chưa thể di chuyển những tiếp tế và dụng cụ
nặng ở tốc độ nhanh đòi hỏi bởi những trận đổ quân.
Có lẽ thực hiện được khả năng như vậy cũng chả thành
vấn đề, bởi vì PLA hiếm khi tải quân tấn qua những biên
giới khác hơn là bởi sự tính toán lầm (nếu có một chiến
tranh khác với Ấn Độ) hoặc trám vào chỗ trống (nếu chính
thể Bắc Hàn sụp đổ). Trung Quốc có thể trám vào những
chổ mà không có chính quyền quản lý dọc trên những biên
phòng rộng lớn bằng những phương tiện dân số và tập hợp,
không cần một dàn dựng nhanh chóng của bộ binh.

Sức mạnh chưa từng có của Trung Quốc trên đất liền là do
một phần cám ơn những nhà ngoại giao Trung Quốc, mà trong
những năm gần đây bận rộn giải quyết xong những tranh chấp
biên giới với các nước cộng hòa Trung Á, Nga, và những
nước láng giềng (Ấn Độ là một ngoại lệ đáng kể). Cái
ý nghĩa của sự thay đổi (chiến thuật xử dụng ngoại giao)
này không thể được bỏ qua. Không cần phải quan tâm tới sự
bắt buộc trú đóng quân đội trên vùng Manchuria; trong giai
đoạn Chiến Tranh Lạnh, cái ám ảnh hiện thực ấy dã bắt
buộc Mao tập trung ngân sách quốc phòng vào bộ binh và bỏ
mặc hải quân. Như Vạn Lý Trường Thành chứng minh, Trung Quốc
đã bị chiếm đóng với sự xâm lăng bằng đường bộ qua
một cách này hay cách khác từ thời kỳ cổ đại. Không còn
(như vậy) nữa.

<h2>Nắm giữ những đường biển giao thông</h2>

Cám ơn cho tình trạng yên ổn thuận lợi này trong đất liền,
Trung Quốc rảnh tay để tập trung vào xây dựng một lực
lượng hải quân vĩ đại. Trong khi những nước có thành phố
dọc bờ biển và đảo thì đeo đuổi sức mạnh trên biển là
vấn đề dĩ nhiên, hành động như vậy là một điều sang
trọng cho những thế lực lục địa có lịch sử cô lập như
là nước Trung Quốc. Trong trường hợp của Trung Quốc, đây có
thể là một sự sang trọng mà thật dễ dàng đạt được bởi
vì quốc gia này được trời cho những thuận lợi cho bờ biển
và nội địa. Trung Quốc lấn áp đường biển ở vùng Đông Á
trong những khu ôn đới và nhiệt đới của Thái Bình Dương,
và biên giới phía nam của họ cũng khá gần Ấn Độ Dương mà
có thể một ngày được nối liền đến (Trung Quốc) bằng
đường bộ và những ống dẫn năng lượng. Trong thế kỷ hai
mươi mốt, Trung Quốc phóng chiếu thế lực cứng ra phía ngoài
chính yếu qua hải quân.

Điều đó cho rằng, Trung Quốc đối mặt một môi trường nóng
bỏng trên biển nhiều hơn là trên đất liền. Hải quân Trung
Quốc thấy lợi thì ít nhưng thấy có vấn đề trong cái mà nó
gọi là <em>"dây xích đảo đầu tiên"</em>: Bán Đảo Đại
Hàn, quần đảo Kuril, Nhật Bản (kể cả quần đảo Ryukyu),
Đài Loan, Phi Luật Tân, Indonesia và Úc. Tất cả ngoại trừ Úc
là những điểm đáng chú ý. Trung Quốc đã bị lôi cuốn trong
nhiều tranh chấp khác nhau qua những phần biển giàu năng
lượng ở Biển Đông Trung Quốc và Biển Nam Trung Hoa (Biển
Đông Việt Nam): với Nhật Bản về quần đảo Diaoyu/Senkaku và
với Phi Luật Tân và Việt Nam về quần đảo Trường Sa (MVT-8).
Những tranh chấp như vậy cho phép Bắc Kinh khơi động chủ
nghĩa quốc gia trong nước, nhưng cho những nhà chiến lược
hải quân Trung Quốc, phong cảnh biển này thì hầu như khó
thực hiện được. Cái dây xích đảo đầu tiên này, theo lời
của James Holmes và Toshi Yoshihara của Học Viện Chiến Tranh Hải
Quân Hoa Kỳ, một loại của "Vạn Lý Trường Thành ngược":
một đường vạch được tổ chức chu đáo của những đồng
minh của Hoa Kỳ mà được xử dụng như là một loại tháp canh
và có thể khóa chặt đường của TQ tiến ra Thái Bình Dương
(MVT-9).

Phản ứng của Trung Quốc về cảm ứng gò bó bằng trạng thái
hiếu chiến đã xảy ra nhiều lần. Sức mạnh hải quân thông
thường kém bạo hành hơn là sức mạnh trên đất liền: hải
quân không thể tự chính họ chiếm đóng một vùng rộng lớn
và phải làm nhiều hơn là chỉ đánh nhau không thôi – đích
danh là, bảo vệ thương mại. Do đó, người ta có thể mong
mỏi Trung Quốc đối xử tử tế với những quốc gia có dịch
vụ biển trước họ - Venice, Anh Quốc, Hoa Kỳ - và họ (Trung
Quốc) tự quan ngại chính mình là chính, như những thế lực
vừa kể trên đã làm, là giữ một hệ thống dịch vụ biển
hòa bình, kể cả giao lưu tự do thương mại. Nhưng Trung Quốc
không tự tin đến thế. Vẫn là một thế lực biển kém an
ninh, Trung Quốc nghĩ về biển giống như một cách nghĩ về
lục địa: những từ ngữ <em>"dây xích đảo thứ
nhất"</em> và <em>"dây xích đảo thứ nhì"</em> (gồm quần
đảo Guam của Hoa Kỳ và Quần Đảo Bắc Mariana) đề nghị
rằng Trung Quốc nhìn thấy những đảo này như là những quần
đảo nới rộng vào lãnh thổ của Trung Quốc. Kiểu suy nghĩ
huề tiền (tổng-số-0, sự được và sự mất mát bằng nhau)
về những biển mà Trung Quốc có bờ, những lãnh đạo hải
quân Trung Quốc đang phô trương cái triết lý bạo hành vào
cuối thế kỷ hai mươi của chiến lược gia hải quân Hoa Kỳ
Alfred Thayer Mahan, người bênh vực cho vấn đề kiểm soát biển
và trận đánh quyết định (ai làm bá chủ trên biển là làm
bá chủ cả địa cầu). Nhưng họ chưa có một lực lượng tàu
ngầm để thực hiện được (MVT-10), và sự khác biệt giữa
khát vọng và khả năng đã đưa đến một số sự việc khôi
hài xảy ra trong vài năm vừa qua. Tháng mười năm 2006, một tàu
ngầm Trung Quốc theo dõi tàu của Mỹ US Kitty Hawk và nổi lên
mặt nước trong tầm thủy lôi của tàu Mỹ. Tháng mười một
năm 2007, Trung Quốc từ chối đoàn tàu hộ tống tàu sân bay USS
Kitty Hawk đi vào Vịnh Victoria để tránh bão. (Tàu Kitty Hawk đã
thăm Hong Kong năm 2010). Tháng ba năm 2009, một số tàu hải quân
Trung Quốc gây hấn với tàu thăm dò Hoa Kỳ USNS Impeccable trong
khi tàu ấy đang thi hành công vụ ngoài khơi Trung Quốc cách
12-dặm giới hạn ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông Việt Nam),
chặn đầu tàu ấy và còn tính đâm chìm nữa. Những hành
động này không chứng tỏ được một thế lực vĩ đại nhưng
lại chứng tỏ vẫn là một hành động trẻ con.

Sự cương quyết của Trung Quốc tại biển được chứng minh
bởi những vụ thu mua lớn. Bắc Kinh đang xây dựng những cơ
sở có khả năng bảo vệ kẻ hở để ngăn chặn hải quân Hoa
Kỳ đột nhập vào vùng Biển Đông Trung Quốc và những bờ
biển khác của Trung Quốc. Trung Quốc đã và đang tân tiến hóa
hạm đội tấn công của họ và có kế hoạch có thêm một hay
hai tàu sân bay nhưng không có thêm những tàu chiến nói chung.
Thay vì, họ tập trung vào xây dựng những tàu ngầm tân tiến
có khả năng tấn công bằng nguyên tử và phi đạn tự điều
khiển. Theo lời của Seth Cropsey, nguyên phụ tá thứ trưởng
Hải Quân Hoa Kỳ, và Ronald O'Rourke của bộ phận Dịch Vụ
Nghiên Cứu của Quốc Hội, Trung Quốc có thể tạo dựng một
lực lượng tàu ngầm lớn hơn hải quân Hoa Kỳ, hiện đang có
75 tàu ngầm đang được xử dụng, trong vòng 15 năm. Hơn nữa,
hải quân Trung Quốc, Cropsey nói, có kế hoạch xử dụng những
dàn ra đa qua-khỏi-chân-trời, vệ tinh, những mạng lưới siêu
âm ngầm dưới biển, và vũ khí chiến tranh xử dụng mạng
trong dịch vụ của phi đạn tự điều khiển đánh phá tàu
biển. Cái ấy, bên cạnh đoàn tàu ngầm lớn mạnh của Trung
Quốc, được phác họa để dần dà đi đến chặn đứng hải
quân Hoa Kỳ thông thương dễ dàng vào những phần tây Thái
Bình Dương.

Như một phần của cố gắng của Trung Quốc để kiểm soát
vùng biển trong eo biển Đài Loan và Biển Đông Trung Quốc, Trung
Quốc cũng đang nâng cấp khả năng vũ trang mìn của họ, mua
chiến đấu cơ thế-hệ-thứ-tư từ Nga, và dàn dựng 1500 phi
đạn đất-lên-không của Nga chế tạo dọc theo bờ biển của
họ. Xa hơn nữa, ngay cả họ đang chạy những hệ thống dàn
dây quang dẫn (fiber-optic) ngầm dưới đất và di chuyển những
khí cụ quốc phòng sâu vào trong vùng tây Trung Quốc, qua khỏi
tầm phóng của phi đạn hải quân, Trung Quốc đang phát triển
một chiến lược công kích để đánh thẳng vào cái biểu
tượng của thế lực Hoa Kỳ, tàu sân bay.

Trung Quốc sẽ không tấn công một tàu sân bay của Hoa Kỳ sớm
đâu, dĩ nhiên, và họ cũng còn lâu để đối đầu trực
tiếp với Hoa Kỳ về mặt quân sự. Nhưng mục đích của họ
là xây dựng những cơ sở khả năng dọc theo bờ biển (MVT-11)
để ngăn đuổi hải quân Hoa Kỳ đi vào giữa vùng dây xích
đảo thứ nhất và bờ biển Trung Quốc bất cứ lúc nào và
bất cứ lúc nào mà Trung Quốc muốn. Khi mà khả năng để tự
tạo cách đối xử của mình đối với đối phương là mùi
hương của bạo lực, thì đây chính là cái chứng cớ mà một
<em>Trung Quốc Vĩ Đại Hơn</em> đã thành sự thật trên biển
cũng như là trên đất liền.

<h2>Thẳng đến Đài Loan</h2>

Quan trọng nhất cho cuộc phiên lưu của một <em>Trung Quốc Vĩ
Đại Hơn</em> là tương lai của Đài Loan. Vấn đề của Đài
Loan thường được thảo luận trong những từ ngữ đạo đức:
Bắc Kinh nói về nhu cầu thống nhất chủng tộc và đoàn kết
quốc gia cho mọi chủng tộc Tàu; Hoa Thịnh Đốn nói về gìn
giữ một mô hình dân chủ này (tại Đài Loan). Nhưng vấn đề
thật ra là một thứ nào khác. Như là Tướng Douglas MacArthur
của Hoa Kỳ nhấn mạnh, Đài Loan là một "tàu sân bay không
thể chìm" giữa đường đến bờ biển Trung Quốc. Từ đó,
những nhà chiến lược hải quân Holmes và Yoshihara nói, một
cường quốc bên ngoài như là Hoa Kỳ có thể "phát xạ"
thế lực dọc theo đường ranh giới bờ biển của Trung Quốc.
Nếu Đài Loan trở về cái hộp đóng kín của Trung Quốc, thì
hải quân Trung Quốc không chỉ bất thình lình nằm vào chỗ
lợi thế chiến lược đối diện với cái sợi xích đảo thứ
nhất ấy nhưng cũng được rộng tay để phóng chiếu thế lực
qua khỏi mức độ chưa từng có. Cái tĩnh từ "đa cực"
được chuyền lẫn nhau một cách tự do để mô tả cái trật
tự thế giới kế tiếp; chỉ sự hàn gắn của Đài Loan với
Trung Quốc sẽ đánh dấu sự hiện hình thật sự của một
trật tự quân sự đa cực tại Đông Á Châu.

Theo một nghiên cứu của RAND năm 2009 (MVT-12), cho đến năm 2020,
Hoa Kỳ sẽ không còn khả năng để bảo vệ Đài Loan trong
trường hợp bị tấn công bởi Trung Quốc. Theo bài nghiên cứu
báo cáo, cho đến thời điểm ấy Trung Quốc có thể đánh bại
Hoa Kỳ trong một cuộc chiến tranh tại eo biển Đài Loan ngay
cả nếu Hoa Kỳ có F-22S (MVT-13), hai đoàn tấn công có tàu sân
bay, và có thể tiếp tục khả năng xử dụng căn cứ không
quân Kadena, ở Okinawa, Nhật Bản. Bản báo cáo nhấn mạnh về
không chiến. Trung Quốc cũng sẽ phải đổ bộ hàng chục ngàn
bộ binh bằng đường biển và dễ bị tấn công bởi những
tàu ngầm của Hoa Kỳ. Bản báo cáo còn, với tất cả những
cảnh báo, làm nổi bật chiều hướng gia tăng đáng lo ngại.
Trung Quốc chỉ cách Đài Loan có 100 dậm, trong khi Hoa Kỳ phải
phóng chiếu lượng quân sự từ nửa vòng trái đất xa xôi và
với khả năng xử dụng giới hạn trên các căn cứ ngoại
quốc so với họ có thể xử dụng trong thời Chiến Tranh Lạnh.
Chiến lược của Trung Quốc ngăn cấm hải quân Hoa Kỳ tiến
vào một số vùng biển được phác họa ra không chỉ ngăn giữ
lực lượng Hoa Kỳ một cách tổng quát nhưng cũng, đặc biệt
là, để thống trị sự chi phối (của Hoa Kỳ) trên Đài Loan.

Bắc Kinh đang sửa soạn bao phủ Đài Loan không chỉ về mặt
quân sự nhưng cũng về kinh tế và xã hội nữa. Khoảng 30
phần trăm xuất cảng của (toàn) Đài Loan đi qua Trung Quốc. Có
270 chuyến bay thương mại mỗi tuần giữa Đài Loan và đất
liền Trung Quốc. Hai phần ba công ty của Đài Loan có đầu tư
trong Trung Quốc trong năm năm vừa qua. Nửa triệu dân du lịch
từ đất liền ra đảo (Đài Loan) mỗi năm, và 750.000 người
Đài Loan cư ngụ nửa năm tại Trung Quốc cho mỗi năm. Thống
nhất gia tăng càng hiện rõ nhiều hứa hẹn; nó xảy ra như
thế nào, tuy nhiên, thì khó đoán và nó sẽ là điểm tựa cho
tương lai của những chính trị trọng đại trong vùng. Nếu Hoa
Kỳ một cách đơn giản bỏ rơi Đài Loan cho Bắc Kinh, thì
Nhật Bản, Nam Hàn, Phi Luật Tân, Úc, và những đồng minh khác
của Hoa Kỳ trong vùng Thái Bình Dương, cũng như là Ấn Độ và
ngay cả một số quốc gia Phi Châu, sẽ bắt đầu tạo nghi ngờ
về mức độ cam kết của Hoa Thịnh Đốn. Sự việc ấy sẽ
thúc đẩy những quốc gia đó tiến gần hơn đến với Trung
Quốc và do đó cho phép sự xuất hiện của một <em>Trung Quốc
Vĩ Đại Hơn</em> của nửa quả cầu tương xứng thật sự.

Đây là một lý do tại sao Hoa Thịnh Đốn và Đài Bắc phải
cứu xét những phương cách vô địch bằng quân sự để chống
lại Trung Quốc. Mục đích không nên là đánh bại Trung Quốc
trong một chiến tranh tại eo biển Đài Loan nhưng để làm
triển vọng của chiến tranh được nhìn từ Bắc Kinh là quá
đắt và không nên làm. Hoa Kỳ có thể duy trì sự tín cẩn
với những đồng minh bằng cách giữ Đài Loan hoạt động
độc lập cho đến khi Trung Quốc trở thành một xã hội tự do
hơn. Tuyên bố của chính quyền Obama, đầu năm 2010, rằng họ
sẽ bán vũ khí trị giá 6.4 tỷ đô cho Đài Loan là cực kỳ
quan trọng đối với vị trị Hoa Kỳ đối mặt với Trung
Quốc, và vùng Âu-Á nói chung. Và mục đích biến đổi bên
trong Trung Quốc không còn là một giấc mơ dài: hàng triệu du
khách Trung Quốc du lịch đến Đài Loan xem những chương trình
đối thoại chính trị tinh thần cao và những sách báo phản
động trong những tiệm sách. Và chưa kể, gieo vào đầu trong
một cách ngược lại sự thường (suy nghĩ trong Trung Quốc), là
một Trung Quốc dân chủ hơn có thể là một thế lực năng
động lớn hơn là một Trung Quốc áp đặt, trong một cảm ứng
kinh tế và do đó trong cảm ứng quân sự nữa.

Ngoài việc tập trung quân sự vào Đài Loan, hải quân Trung
Quốc gia tăng lực lượng ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông
Việt Nam), cái cổng vào Ấn Độ Dương và con đường vận
tải nhiên liệu của thế giới. Vấn nạn cướp biển, Hồi
giáo cực đoan, và sự lớn mạnh của hải quân Ấn Độ có
mặt dọc tất cả tuyến đường, kể cả gần những eo biển
nhỏ qua đó một phần lớn những tàu chở dầu và tàu chở
hàng to lớn của Trung Quốc phải đi qua. Suy về ý nghĩa quan
trọng chiến lược toàn diện, Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông
Việt Nam) có thể trở thành, như một số người đã nói, một
<em>"Vịnh Ba Tư thứ hai"</em>. Nicholas Spykman, một nhà nghiên
cứu học về chính trị địa lý của thế kỷ hai mươi, ghi
chép rằng xuyên qua lịch sử, những nước tham gia vào
<em>"sự nới rộng hàng hải xuyên lục địa vòng quanh trái
đất"</em> đều muốn kiểm soát những vùng biển tiếp giáp.
Hy Lạp đã tìm kiếm sự kiểm soát trên vùng biển Aegean (một
nhánh của Địa Trung Hải phía nam của Âu Châu một bên là Hy
Lạp bên kia là Thổ Nhỉ Kỳ), La Mã kiểm soát trên vùng biển
Địa Trung Hải, Hoa Kỳ trên vùng biển Caribbean – và bây giờ
TQ trên Biển Nam Tung Hoa (Biển Đông Việt Nam). Spykman đã gọi
Caribbean <em>"Địa Trung Hải của Hoa Kỳ"</em> để nhấn
mạnh sự quan trọng của nó đối với Hoa Kỳ. Biển Nam Trung
Hoa (Biển Đông Việt Nam) có thể trở thành <em>"Địa Trung
Hải của Châu Á"</em> và là trọng tâm của địa lý chính
trị trong những thập niên tới.

<h2>Những bất an ninh lỏng (như nước) (MVT-14)</h2>

Tuy nhiên, có một sự nghịch lý tại trọng tâm của những cố
gắng của Trung Quốc trong việc phóng chiếu thế lực tại vùng
biển Địa Trung Hải của Châu Á và rộng hơn. Một mặt, Trung
Quốc ứng xử như là ngăn cấm những tàu của Hoa Kỳ đi vào
những vùng ven biển của Trung Quốc dễ dàng. Mặt khác, Trung
Quốc vẫn không thể bảo vệ những đường viễn thông của
họ trên biển, làm cho vấn đề tấn công tàu chiến Hoa Kỳ
không hiệu quả, bởi vì Hoa Kỳ một cách đơn giản có thể
cắt đứt những tiếp tế năng lượng bằng cách tấn công
những tàu của Trung Quốc trong vùng biển Thái Bình Dương và
Ấn Độ Dương. Tại sao phải bận tâm ngăn cản sự tiếp cận
(của tàu Mỹ) nếu không bao giờ dự định thực hiện nó? Theo
nhà tư vấn quốc phòng Jaqueline Newmyer Bắc Kinh nhắm vào để
xây <em>"một êm ả của thế lực rất thuận lợi"</em> mà
<em>"họ sẽ không thật sự phải dùng vũ lực để đoạt
được những lợi ích"</em>. Phô trương những hệ thống vũ
khí mới, xây dựng những tàu cảng và những trạm thu nhặt
thông tin trong vùng biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương,
cấp viện trợ quân sự cho những nước mà có bờ biển nằm
giữa Trung Quốc và Ấn Độ Dương – không có một việc nào
trong những thứ ấy là bí mật cả, tất cả chỉ để trưng
bày thế lực. Thay vì đánh nhau hẳn hòi với Hoa Kỳ, một cách
chính xác là Trung Quốc kiếm cách tạo ảnh hưởng trên cách
đối xử của Hoa Kỳ như để tránh né đối đầu.

Tuy nhiên, có những chuyển động lớn về một số những hoạt
động của hải quân Trung Quốc. Trung Quốc đang xây dựng một
căn cứ hải quân lớn ngay mũi cực nam của đảo Hải Nam,
đập ngay vào trọng tâm của Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông
Việt Nam), với những cơ sở xây dựng ngầm dưới đất mà có
thể chứa đến 20 tàu ngầm chạy bằng điện-dầu. Đây là
một cách thực tập chủ quyền kiểu Giáo Điều Monroe (MVT-15)
trên những vùng biển quốc tế gần Trung Quốc. Trung Quốc
không dự định có chiến tranh với Hoa Kỳ bây giờ hoặc trong
tương lai, nhưng những động cơ thúc đẩy có thể thay đổi.
Tốt hơn là nên theo dõi những cơ sở quân sự thay vì làm ngơ.

Tình trạng an ninh hiện tại trong vùng cận với Á-Âu nói một
cách cơ bản thì phức tạp hơn những năm đầu sau Thế Chiến
Thứ Hai. Trong khi sự lãnh đạo của Hoa Kỳ suy giảm và kích
cỡ của hải quân Hoa Kỳ thuyên giảm hoặc dậm chân, trong khi
đó kinh tế và quân đội của Trung Quốc gia tăng, sự đa cực
sẽ làm gia tăng cho định nghĩa những quan hệ ở Á Châu. Hoa
Kỳ đang cung cấp Đài Loan 114 phi đạn phòng không Patriot và
hàng tá những hệ thống viễn thông quân sự cấp cao. Trung
Quốc đang xây những cảng đậu cho tàu ngầm dưới mặt đất
ở đảo Hải Nam và xây dựng những phi đạn chống tàu bè.
Nhật Bản và Nam Hàn đang tiếp tục tối tân hóa những đoàn
tàu của họ. Ấn Độ đang xây dựng một hải quân khổng lồ.
Mỗi một nước đang kiếm cách điều chỉnh sự cân bằng lực
lượng theo sở thích của họ.

Đấy là tại sao khi ngoại trưởng Hoa Kỳ Hilary Clinton bác bỏ
đường lối chính trị cân-bằng-lực-lượng như là di tích
của quá khứ thì lời của bà được xem hoặc là giả dối
hoặc đánh lạc hướng. Đang có một cuộc chạy đua vũ khí ở
Á Châu, và Hoa Kỳ phải đối diện với thực tế khi họ giảm
thiểu một cách trầm trọng lực lượng quân đội của họ ở
A Phú Hãn và Iraq. Mặc dù không một nước Á Châu nào có lợi
khi đi vào chiến tranh, sự rủi ro trong tính toán về cân bằng
thế lực càng gia tăng với thời gian và với sự gia tăng lực
lượng không quân hải quân trong vùng (nếu chỉ do Trung Quốc
và Ấn Độ). Những căng thẳng trên đất liền có thể đẩy
mạnh những căng thẳng trên biển: những khoảng trống thế
lực mà Trung Quốc đang trám vào trong thời gian sắp tới sẽ
đưa đến sự tiếp cận không dễ dàng với, ở một độ tối
thiểu, Ấn Độ và Nga. Những nơi từng là chỗ trống đang
trở thành đông đúc với người, đường xá, những ống dẫn,
tàu bè … và những phi đạn. Năm 1999, khoa học gia chính trị
của viện Đại Học Yale Paul Bracken cảnh báo rằng Á Châu đã
trở thành một địa lý khép kín và đã đối diện một khủng
hoảng của "phòng ốc". Cái diễn biến ấy đã và đang
tiếp tục từ đó.

Vậy thì có thể nào Hoa Kỳ giữ được ổn định ở Á Châu,
bảo vệ đồng minh của họ ở đó, và giới hạn sự lớn
mạnh của một <em>Trung Quốc Vĩ Đại Hơn</em> trong khi tránh
đối đầu với Bắc Kinh? Cân bằng xa xứ có thể không hữu
hiệu mấy. Như là một quan chức cao cấp Ấn Độ nói với tôi
vào đầu năm nay, những đồng minh chính của Hoa Kỳ ở Á Châu
(như là Ấn Độ, Nhật Bản, Singapore, và Nam Hàn) muốn hải
quân và không quân Hoa Kỳ hoạt động "phối hợp" với
những lực lượng của họ -- để Hoa Kỳ là một phần dính
liền của cảnh đất và cảnh biển của Á Châu, không chỉ là
một lực lượng phơn phớt ẩn hiện từ một vùng trời xa
xôi. Có một sự khác biệt lớn giữa việc mặc cả với Hoa
Kỳ trên những quyền căn bản (tối thiểu), như là Nhật Bản
đã làm gần đây, và việc mong muốn sự rút lui toàn diện
của lực lượng Hoa Kỳ.

Một kế hoạch đang làm chú ý ở Ngũ Giác Đài tranh luận
rằng Hoa Kỳ có thể <em>"địch lại thế lực chiến lược
của Trung Quốc … mà không cần đối đầu trực tiếp quân
sự"</em> với một đoàn tàu chỉ vỏn vẹn 250 chiếc (xuống
từ 280 hiện đang có) và 15 phần trăm cất giảm chi tiêu quốc
phòng. Kế hoạch này, phát họa bởi đại tá Thủy Quân Lục
Chiến hồi hưu Pat Garett, là đáng kể bởi vì nó đưa vào cái
phương trình Âu-Á cái ý nghĩa chiến lược cho những quần
đảo Oceania (ở Thái Bình Dương). Những quần đảo Guam và
Caroline, Marshall, Bắc Mariana, và Solomon đều là đất thuộc Hoa
Kỳ, có lợi chung với những đối tác quốc phòng với Hoa
Kỳ, hoặc những nước độc lập mà có lẽ muốn tiến hành
những đối tác như vậy. Oceania sẽ gia tăng quan trọng bởi vì
nó có cả hai lý do là tương đối gần vùng Đông Á Châu và
nằm phía ngoài vùng mà Trung Quốc đang hăm hở ngăn cản sự
tiếp cận dễ dàng của những tàu chiến Hoa Kỳ. Guam chỉ có
bốn tiếng đường bay từ Bắc Hàn và hai ngày đường biển
từ Đài Loan. Đó có lẽ được nhìn ít khiêu khích hơn cho Hoa
Kỳ giữ những căn cứ ở Oceania trong tương lai hơn là cho họ
đã và đang giữ quân ở Nhật Bản, Nam Hàn và Phi Luật Tân.

Căn cứ không quân Andersen, ở Guam, đã là một căn cứ chỉ huy
lớn nhất từ đó Hoa Kỳ phóng chiếu những lực lượng cứng
khắp nơi. Với 100.000 bom và phi đạn và một dự trữ 66 triệu
ga-lông xăng phi cơ phản lực, đây là cơ sở chiến lược
"đổ-xăng-và-vọt" lớn nhất thế giới của không quân Hoa
Kỳ. Những đường xếp hàng dài của những chiếc máy bay c-17
Globemaster và F/A Hornet chiếm đầy những phi đạo của căn cứ.
Guam cũng là trung tâm của một đoàn tàu ngầm và đang được
tăng cấp như là một căn cứ hải quân. Nó và quần đảo Bắc
Mariana gần đấy là cả hai gần tương dương khoảng cách từ
Nhật Bản à eo biển Malacca. Và đầu mủi tây nam của Oceania
– được mệnh danh, những điểm đậu neo ngoài khơi của
quần đảo Ashmore và đảo Cartier của Úc và ngay chính cả dọc
ven biển của tây Úc (từ thành phố Darwin đến thành phố
Perth) – nhìn (như trạm canh gác) ra ngoài từ những quần đảo
của Indonesia từ dưới hướng qua Ấn Độ Dương. Do đó, theo
kế hoạch của Garett, hải quân và không quân Hoa Kỳ có thể
lấy sự ưu trương của địa lý của Oceania để làm nền
tảng cho một <em>"sẵn sàng có mặt tại chỗ"</em> nằm
tại <em>"xa xôi ở chân trời"</em> từ những biên giới
không chính thức của một <em>Trung Quốc Vĩ Đại Hơn</em> và
những đường hàng hải chính của vùng Âu-Á. (Từ ngữ
<em>"sẵn sàng có mặt tại chỗ"</em> làm nhớ lại
<em>"đoàn tàu tại chỗ"</em> của lịch sử gia Anh Quốc Sir
Julian Corbett của một trăm năm trước, mà liên khảo đến một
tập hợp của đoàn tàu được trải ra mà có thể nhanh chóng
xắp xếp trật tự thành một đoàn tàu liên hợp nếu cần.
<em>"Chỉ phía bên kia của chân trời"</em> phản ảnh sự
nhập chung lại của sự cân bằng ngoài khơi và sự tham gia vào
một phối hợp của những thế lực).

Gia tăng sức mạnh của sự hiện diện của Hoa Kỳ cả về
trên không và trên biển trong vùng Oceania sẽ là một giải pháp
trung hòa giữa chống lại một <em>Trung Quốc Vĩ Đại Hơn</em>
bằng mọi giá và đồng thuận đến một tương lai trong đó
hải quân Trung Quốc kiểm soát cái dây xích thứ nhất. Sự
tiếp cận này bảo đảm rằng Trung Quốc trả một giá rất
đắt cho bất kỳ gây hấn bằng quân sự đối với Đài Loan.
Nó cũng cho phép Hoa Kỳ giảm thiểu các căn cứ cổ hữu của
Hoa Kỳ trên cái dây xích thứ nhất nhưng tuy nhiên cho phép
những tàu và phi cơ của Hoa Kỳ tiếp tục quan sát vùng ấy.

Kế hoạch của Garett cũng hình dung về một lớn mạnh nhanh
chóng của sự hoạt động của hải quân Hoa Kỳ trong vùng Ấn
Độ Dương. Nó không hình dung sự nâng cấp của những căn cứ
hiện tại của Hoa Kỳ. tuy nhiên, nó dự kiến buộc lòng phải
dựa trên những cơ sở thiếu thiết bị ở những quần đảo
Andaman, Comoros, Maldives, Mauritius, Reunion, và Saychelles (một số
được điều hành trực tiếp hay gián tiếp bởi Pháp và Ấn
Độ), cũng như là phải đối tác quân sự với Miến Điện,
Mã Lai và Singapore. Nó bảo đảm hàng hải tự do và năng
lượng di chuyển thoải mái qua vùng Á-Âu, Và vừa làm giảm
sự quan trọng của những căn cứ hiện tại của Hoa Kỳ tại
Nhật Bản và Nam Hàn và vừa phân tán những dấu chân của Hoa
Kỳ chung quanh Oceania, kế hoạch sẽ làm cho những căn cứ
"chủ" ra khỏi cái (bị xem là) mục tiêu dễ dàng.

Sự bám giữ của Hoa Kỳ trên dây xích thứ nhất đang bắt
đầu bị lỏng lẻo bằng mọi cách. Dân địa phương đã và
đang trở thành ít đồng thuận với sự có mặt của binh lính
nước ngoài ở chung quanh họ. Và sự lớn mạnh của Trung Quốc
làm Bắc Kinh vừa đe dọa vừa năn nỉ cùng lúc – cảm giác
lẫn lộn có thể phức tạp hóa quan hệ tay đôi giữa Hoa Kỳ
và các đồng minh của họ ở Thái Bình Dương. Đây là thời
điểm. Cuộc khủng hoảng hiện tại về quan hệ giữa Hoa Kỳ
và Nhật Bản – đã và đang gia tăng bởi vì sự thiếu kinh
nghiệm của chính phủ Hatoyama muốn soạn thảo lại những
điều lệ ban giao hai bên nghiên về phía họ ngay cả trong khi
họ đang nói chuyện phát triển quan hệ sâu hơn với Trung Quốc
– đáng lý xảy ra nhiều năm trước. Vị trí của sự ảnh
hưởng mạnh mẻ phi thường của Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương
chỉ là vang bóng một thời từ Thế Chiến Thứ Hai, một sự
việc tàn phá mà Trung Quốc, Nhật Bản và Phi Luật Tân hứng
chịu trong giai đoạn chiến tranh. Hoặc không thể là sự hiện
diện của Hoa Kỳ trên bán đảo Đại Hàn, một sản phẩm của
chiến tranh mà đã chấm dứt trên nửa thế kỷ trước, vẫn
tồn tại vĩnh viễn.

Một <em>Trung Quốc Vĩ Đại Hơn</em> có thể hiện ra một cách
chính trị, một cách kinh tế, hoặc một cách quân sự trong
vùng Trung Á, trên Ấn Độ Dương, trong vùng Đông Nam Á, và
trong vùng tây Thái Bình Dương. Nhưng ra khỏi cái đế quốc
mới này sẽ là một dòng tấp nập của những tàu chiến của
Hoa Kỳ, nhiều tàu ấy có lẽ được chỉ huy từ ở Oceania và
phối hợp với những lực lượng hải quân từ Ấn Độ, Nhật
Bản và những nước dân chủ. Và vào thời điểm, khi sự tự
tin của Trung Quốc gia tăng, lực lượng tàu ngầm của họ có
thể xây dựng một khu vực hoạt động thu hẹp lại và tự
chính họ bị lôi cuốn vào một đồng minh hải quân của khu
vực rộng lớn.

Trong khi đó, cũng nên nhắc lại rằng, khi nhà khoa học gia
chính trị Robert Ross chỉ ra năm 1999, trong từ ngữ quân sự,
quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ ổn định hơn là giữa
Hoa Kỳ và Liên Bang Sô Viết ngày xưa. Bởi vì đấy là một
địa lý đặc biệt của Đông Á. Trong thời gian chiến tranh
lạnh, thế lực hàng hải của Hoa Kỳ một mình không hữu
hiệu để kềm giữ Liên Bang Sô Viết; một lực lượng bộ
binh đáng kể ở Âu Châu cũng đã được cần đến. Lực
lượng bộ binh (lớn) như vậy sẽ không bao giờ được trưng
dụng chung quanh vòng đai Á-Âu, bởi vì ngay cả như sự hiện
diện càng xuống cấp trên đất liền của Hoa Kỳ chung quanh
những biên giới của một <em>Trung Quốc Vĩ Đại Hơn</em>, hải
quân Hoa Kỳ sẽ vẫn tiếp tục mạnh hơn hải quân Trung Quốc.

Dù vậy, sự kiện về sự lớn mạnh của thế lực kinh tế và
quân sự của TQ sẽ làm sự căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Trung
Quốc tệ hơn trong những năm kế tiếp. Để diển tả
Mearsheimer, Hoa Kỳ, đế quốc của Bán Cầu Tây Phương, sẽ
ngăn cản Trung Quốc để trở thành gần như đế quốc của
Bán Cầu Đông Phương. Đây có thể là dấu hiệu bi kịch của
thời đại.

<h2>Robert D. Kaplan, Tác giả của bài luận</h2>

Robert D. Kaplan là một nghiên cứu viên thâm niên tại Trung Tâm
Cho Một An Ninh Hoa Kỳ Mới và cũng là một nhà báo cho tạp chí
Atlantic. Cuốn sách của ông Monsoon: The Indian Ocean and the Future of
American Power sẽ được phát hành vào mùa thu (năm 2010).

<h2>Bình luận thêm của Mai Việt Tú</h2>

MVT-1: vùng Á châu cận giáp với Âu châu, tác giả muốn kể
cả nước Nga.

MVT-2: cũng nên nhấn mạnh là bài viết của MacKinder năm 1904 là
năm trước cả thế chiến thứ nhất năm 1914 đến 1918 và cách
mạng vô sản của Lenin năm 1917.

MVT-3: Điều quan trọng cho thông tin khi chuyển ngữ là càng
phải giữ sự chính xác của bài được chuyển ngữ so với
bài gốc. Bài viết chỉ đề cập Biển Nam TQ. Tôi mở ngoặc
thêm vào Biển Đông Việt Nam. Đây cũng là đề tài để tranh
đấu cho rõ về mặt địa lý cũng như chủ quyền.

MVT-4: Tác giả xài chữ "new dominion" (vùng cai trị mới),
nhưng "Xinjiang" có nghĩa là "new frontier" (vùng biên cương
mới) thì đúng hơn. Có thể có thâm ý.

MVT-5: German Marshall Fund là một tổ chức làm cho thân thiện hơn
giữa Mỹ và Âu Châu.

MVT-6: những nước nằm trong khối Nam Tư cũ bị tan rã và nội
chiến khi Liên Bang Sô Viết sụp đổ.

MVT-7: giáo sư tiến sĩ John Mearsheimer của viện đại học
Chicago, vừa được mời đọc bài giảng luận hôm 4 tháng 8 năm
2010 tại viện đại học Sydney, Úc, về thế lực TQ tại Á
Châu. Bài này cũng là một thí dụ hay để dân Việt Nam suy
nghĩ. Cũng nên nhắc là viện đại học Chicago nơi mà giáo sư
tiến sĩ Ngô Bảo Châu mới tham gia giảng dạy.

MVT-8: điều đáng buồn là tác giả không đề cập về quần
đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị TQ chiếm đoạt bằng vũ lực
năm 1974.

MVT-9: đồng thời cũng được xem bởi TQ là một Vạn Lý
Trường Thành của họ mà được nới rộng ra thành cái lưỡi
bò nổi tiếng.

MVT-10: blue-water naval – hải quân nước-xanh là tiếng lóng cho
môi trường hoạt động tàu ngầm của hải quân.

MVT-11: khi xây dựng cơ sở khả năng quốc phòng, có 4 điểm
cần giữ trong đầu là cấu trúc dàn trận, tân tiến hóa, sẵn
sàng nhanh và sự bền bỉ. Ngoài ra khi TQ xây dựng những cơ
sở quốc phòng, họ vẫn rêu rao là tự vệ. Trong quốc phòng,
không thể nào phân biệt giữa tự vệ và xâm lăng vì cả hai
dùng cùng một vũ khí.

Cũng nên nhắc ở đây là hai anh em giáo sư tiến sĩ Võ Bá Ngự
và phó giáo sư tiến sĩ Võ Bá Tường và một đồng nghiệp
khác tại Úc vừa đoạt giải thưởng Eurika của Úc về lãnh
vực khoa học phục vụ quốc phòng và an ninh quốc gia. Bài
thắng giải này là một công trình nghiên cứu dựa trên lý
thuyết Tập Hợp Ngẫu Nhiên (Random Sets) và dùng những phương
pháp toán học gạn lọc (Random Finite Sets, Bayes recursion để
gạn lọc thêm trên tập hợp chính của mật độ giả thử xác
suất (cardinalized probability hypothesis density) của Mahler để
giới hạn vào một điểm nhắm hay theo dõi) để phân tích
những điểm được theo dõi và để có thể đưa ra những
phản ứng cần thiết. Trong quá khứ cũng đã có rất nhiều
nghiên cứu về lãnh vực này, nhưng nghiên cứu này đưa đến
phương pháp không những giảm thiểu cho sự thất lạc của
điểm theo dõi mà còn làm cho phương pháp hữu hiệu và chính
xác hơn và do đó có thể theo dõi nhiều hơn một cách chính
xác. Sự ứng dụng của khám phá này rất hữu ích cho quốc
phòng, giao thông và ngay cả theo dõi biểu tình.

MVT-12: RAND là một tổ chức vô vụ lợi nghiên cứu ra kết
quả nhằm giúp trong xây dựng chính sách và quyết định đúng
đắn; cũng nên nhắc lại đây tại Việt Nam đã có một viện
tương tự tên là IDS nhưng đã bị chính phủ độc tài bóp
chẹt đến độ phải tự giải thể; đã nghèo còn bị mạt
rệp thêm

MVT-13: những loại máy bay F-22 chiến đấu tối tân nhất thế
giới bây giờ nhưng rất đắt, tổng thống Obama đã ngưng hổ
trợ cho sản xuất thêm những máy bay này từ năm 2010.

MVT-14: Tác giả dùng tĩnh từ "liquid" (lỏng như nước) cho
nhan đề của đoạn văn chính "LIQUID INSECURITIES" . Cái tĩnh
từ hành văn này lấy từ cuốn sách "Liquid Modernity" của
Zygmunt Bauman viết năm 2000. Cuốn sách dựa trên nền tảng lý
thuyết xã hội để thảo luận rất nhiều về hoàn cảnh,
trạng thái, tác động, thế lực, luật pháp, lề trái, lề
phải, đồng thuận, nghịch lý, vơ vét, bạo hành, ăn gian,
trấn lột v.v… mà sau mỗi quá trình thay đổi thì "chảy
lỏng" xảy ra. Sự "chảy lỏng" tạo ra những thế lực
tự chúng rời bỏ vị trí để đứng lên đỉnh cao của tất
cả mà luật pháp và lẽ phải không cần phải tuân theo và
cũng không còn sự kiểm soát hay bắt buộc tuân theo.

Tôi xin trích một đoạn của Bauman (trang 203), chắc các vị
tiền bối thời nhân văn giai phẩm hiểu rõ hơn là các hậu
sinh như tôi :

<em>"chúng ta phải tiến đến gần như là những nhà thơ làm
đối với những phạm vi tiềm ẩn của nhân loại; và cho cái
lý do ấy chúng ta cần phải đập thủng những bức tường rõ
ràng và tự tang chứng của chúng nó, để phơi bầy cái kiểu
cách của ý tưởng của cái ngày mà cái lẽ thường tình
được chấp nhận cho cái cảm nghĩ của nó. Phá hủy những
bức tường như vậy là sự kêu gọi của những nhà xã hội
học như (sự kêu gọi) của những nhà thơ, và cho cùng một lý
do: xây dựng lên phạm vi nằm trên tiềm năng của nhân loại
cùng một lúc ngăn chặn sự quảng bá của lừa bịp"</em>.

MVT-15: năm 1823, tổng thống Mỹ Monroe đặt ra chính sách nếu
các quốc gia Âu Châu muốn chiếm đất làm thuộc địa hoặc
can thiệp vào những tiểu bang của Mỹ Châu được xem là môt
hành động xâm lăng và Hoa Kỳ sẽ có hành động trả đũa.


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6449), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét