Phạm Thị Ly - Người học Việt Nam xứng đáng được nhận một chất lượng giáo dục tốt hơn

<em>Bộ GD-ĐT đang can thiệp quá sâu vào công việc của các
trường. Hiện giáo dục ĐH đang được Bộ GD-ĐT kiểm soát
tập trung nhưng thực chất là không kiểm soát nổi chất
lượng. Cần mạnh tay siết lại việc thành lập trường cũng
như chất lượng các trường đã thành lập nhưng vấn đề
cốt lõi là phải có những cơ chế tốt để các trường phát
triển đúng đắn. Việc đảm bảo chất lượng nên giao cho cơ
quan kiểm định độc lập, Nhà nước chỉ đóng vai trò giám
sát.</em>

<em>Đây là những ý kiến của TS Phạm Thị Ly xung quanh việc
phát triển mạng lưới cũng như chất lượng các trường ĐH
ở VN hiện nay. Với trên 20 năm nghiên cứu về giáo dục, TS Ly
cho biết:</em>

Sự phát triển giáo dục ĐH VN thời gian qua có ba hiện tượng
đáng chú ý. Một là sự phát triển quá nhanh về số lượng
trường, số lượng sinh viên (SV) ở VN. Đây là điều ai cũng
nhìn thấy, và là một hiện tượng bình thường, nằm trong xu
hướng chuyển từ giáo dục tinh hoa sang giáo dục đại chúng
diễn ra trên toàn thế giới. Số lượng SV đã tăng 13 lần
tính từ 1990 đến nay, trong lúc số giảng viên chỉ tăng không
đến ba lần, khiến tỉ lệ sinh viên/giảng viên đã tăng từ 6
trong năm 1990 đến 13 trong năm 1995 và 29 trong năm 2000 và hiện
nay tỉ lệ này ở một số trường có thể lên tới trên 34.
Giảm sút chất lượng là điều khó tránh khỏi và điều này
đã gây ra mối quan ngại lớn trong công chúng.

Hai là, sự tham gia của khu vực tư nhân và nước ngoài trong
giáo dục đại học. Năm 1987, có 101 trường đại học và cao
đẳng, tất cả đều là trường công. Đến tháng 9 năm 2009 có
412 trường đại học và cao đẳng, trong đó hơn 20% là trường
ngoài công lập. Các chương trình liên kết đào tạo với
nước ngoài cũng phát triển với một tốc độ và quy mô chưa
từng có trước đó. Điều này đặt ra câu hỏi về mối quan
hệ giữa nhà nước và thị trường, về thương mại hóa giáo
dục và lợi ích công, về vai trò của khu vực tư nhân trong
giáo dục. Ba là hiện tượng tỉnh nào cũng lập trường đại
học, trường cao đẳng nào cũng muốn nâng cấp lên thành đại
học trong mấy năm gần đây. Điều này đặt ra câu hỏi về
quy hoạch chiến lược của hệ thống giáo dục và khả năng
của giáo dục trong việc đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế,
bởi vì nếu hầu hết các trường cao đẳng đều chuyển thành
đại học, hệ thống sẽ không tránh khỏi bị lạc hướng về
sứ mạng: ai sẽ đào tạo lực lượng lao động có kỹ năng
ở bậc trung cho nền kinh tế?

<h2>Thành lập trường trong cơ chế xin - cho</h2>

<em>Nhiều người cho rằng trong sự phát triển ồ ạt này có
một nhóm "lợi ích". Theo bà, ai là người có nhiều lợi ích
nhất trong sự phát triển này?</em>

Thương mại hóa giáo dục là một thực tế đang diễn ra phổ
biến, và không phải chỉ ở trường tư. Tư nhân hóa và
thương mại hóa không nhất thiết gắn liền với nhau. Khi
trường công chạy theo các hệ phi chính quy, mà ai cũng biết là
tiêu chuẩn đầu vào rất thấp, quy trình giảng dạy và đánh
giá không bảo đảm sự nghiêm ngặt, thậm chí ở nhiều
trường, tổng số sinh viên ngoài chính quy chiếm hơn một nửa
tổng số SV của trường, với một chất lượng đào tạo
đáng ngờ, thì đó chính là thương mại hóa giáo dục. Ai có
lợi trong sự phát triển này? Một là những người có quyền
"cho" trong cơ chế "xin-cho". Hai là những người kinh doanh
giáo dục trong một bối cảnh người học có quá ít thông tin
và sự lựa chọn, dân gian gọi là "đục nước béo cò".

Cơ chế xin-cho này dẫn đến việc thành lập trường dường
như quá dễ dãi trong khi xử lý vi phạm lại chỉ qua loa. Nhiều
ý kiến cho rằng chúng ta nên đóng cửa các trường yếu kém
để siết lại chất lượng?
Năm 2005 Ấn Độ đã đóng cửa gần 100 trường ĐH kém chất
lượng. Tuy nhiên từ trước đến nay ở VN chưa có tiền lệ.
Về mặt nguyên tắc thì có nhưng chưa có qui định cụ thể
về qui trình giải thể, vi phạm ở mức độ nào thì bị xử
lý đóng cửa. Việc xử phạt bằng tiền những trường vi
phạm không có ý nghĩa gì so với lợi nhuận mà họ có được.
Việc đóng cửa những trường yếu kém là cần thiết nhưng
tôi nghĩ điều quan trọng không phải chỉ là các biện pháp
trừng phạt mà nên có những chính sách tốt để khuyến khích
các trường phát triển một cách đúng đắn. Có thể tăng
cường sự giám sát của xã hội thông qua các cơ quan kiểm
định độc lập thay vì trao quyền đó cho một cơ quan Nhà
nước. Đó là cơ chế quyền lực dẫn đến chuyện xin – cho
rất dễ phát sinh tiêu cực.

<h2>Món ăn có hại: không ăn</h2>

<em>Các trường ĐH được thành lập ồ ạt trong khi cơ sở
vật chất, giảng viên, các điều kiện cơ bản nhất phục vụ
dạy, học chưa theo kịp. Chúng ta hô hào nâng cao chất lượng
giáo dục trong điều kiện như vậy liệu có khả thi? Phải
chăng sự phát triển này là để hoàn thành chỉ tiêu
450SV/10.000 dân vào năm 2020?</em>

Thật ra so với các nước phát triển, tỉ lệ người trong độ
tuổi 18-24 đang được đào tạo sau trung học của nước ta
vẫn còn rất thấp (tỉ lệ này ở đầu thập kỷ 90 là 2%,
đến năm 2005 là 16% so với Trung Quốc là 19%, Malaysia là 32%, và
Thái Lan là 43% trong cùng kỳ. Đến năm 2009 tỉ lệ này ở
Việt Nam là khoảng 19%, Trung Quốc là 23%, trong lúc ở Hoa Kỳ
và Canada là trên 50%. Rất nhiều nước đã đạt trên mức 40%.

Vì vậy, Việt nam vẫn cần tiếp tục có thêm nhiều trường
đại học nữa. Có người nói rằng cứ để các trường tiếp
tục phát triển để đem lại giáo dục cho số đông công
chúng, không cần quá lo về chất lượng, bởi vì một chất
lượng giáo dục nghèo nàn vẫn còn hơn là không được giáo
dục. Nói cách khác phải lo "ăn no" trước rồi hãy nghĩ
đến "ăn ngon". Tôi không tán thành quan điểm ấy. Một món
ăn có hại cho sức khỏe, thì đừng ăn tốt hơn.

<em>Nhiều người chi ra rằng suất đầu tư ở VN còn thấp và
điều này ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục ĐH?</em>

Nếu so với các nước phát triển thì học phí ở VN hiện nay
vẫn còn thấp so với tương quan thu nhập trung bình của dân
chúng, nhưng đối với đại đa số các gia đình VN, thì đó
vẫn là một gánh nặng tài chính to lớn. Tỉ trọng của chi
ngân sách cho giáo dục trong tổng ngân sách tăng từ 8% năm 1990
lên 15% năm 2000, đạt tới 20% năm 2008. Với mức chi hiện tại
cho giáo dục, Việt Nam nằm trong khoảng từ trung bình tới cao
so với các nước trong khu vực. Đó là chưa nói tới số tiền
to lớn các gia đình phải bỏ ra cho con em du học.

Với một sự đầu tư như thế của nhà nước, với sự hy sinh
to lớn của các gia đình cho sự học của con em, người học
xứng đáng được nhận một chất lượng giáo dục tốt hơn
nhiều so với cái mà họ đang được nhận hiện nay. Hậu quả
giảm sút chất lượng hiện nay không phải chỉ là do sự mở
rộng của hệ thống, mà là <em><strong>do thiếu những chính
sách đúng đắn để tạo ra và cổ vũ sự ưu tú trong giáo
dục cũng như để tăng cường trách nhiệm giải trình và ngăn
chặn những hiện tượng không lành mạnh</strong></em>. Không có
nguồn lực tài chính thì khó mà nói đến chất lượng, nhưng
thiếu nguồn lực không phải là nguyên nhân duy nhất, thậm chí
không phải là quan trọng nhất, của mọi sự yếu kém. Với
suất đầu tư hiện tại, chúng ta vẫn có thể làm tốt hơn
cái chúng ta đang có hiện nay.

<em>Ở các nước có điều kiện giống VN, giáo dục ĐH của
họ phát triển như thế nào? Họ đã giải quyết những vấn
đề cản ngại ra sao, thưa bà?</em>

Chúng ta có thể học được rất nhiều từ các nước láng
giềng, vì những vấn đề đang đặt ra cho chúng ta cũng là
những vấn đề họ đã phải đương đầu. Trung Quốc cho đến
nay đã và đang rất chú ý đến phần đỉnh của hệ thống.
Chín trường ĐH được coi là "các trường đỉnh cao của
Trung Quốc" được đầu tư lớn để nhanh chóng trở thành
"các trường ĐH đẳng cấp thế giới". Nhưng quan trọng
hơn, theo GS.Altbach, gần đây, Trung Quốc bắt đầu thúc đẩy
mở rộng bộ phận đào tạo không cấp bằng cử nhân với
mục đích tạo ra một hệ thống tương tự như các trường cao
đẳng cộng đồng bên Hoa Kỳ. Số trường cao đẳng kỹ thuật
dạy nghề đã tăng nhanh hơn số các trường ĐH, gấp hơn
mười lần trong khoảng từ năm 1997 đến 2005. Các trường trung
cấp nghề được mở rộng, và hội nhập vào hệ thống cao
đẳng cộng đồng mới hình thành, đem lại nhiều cơ hội
tiếp cận giáo dục hơn cho những người có thể không có đủ
năng lực khoa học để thành công ở bậc ĐH và cần được
đào tạo các kỹ năng nghề cần thiết.

Năm 1984, trường ĐH tư thục đầu tiên tại Thổ Nhĩ Kỳ
được thành lập. Từ đó đến nay có thêm 29 trường ĐH khác.
Trong số đó nổi bật lên một số trường chất lượng cao.
Mỗi trường ĐHtư thục như thế được thành lập theo một
đạo luật của Quốc hội sau một quá trình phê duyệt nghiêm
ngặt, và được Hội đồng Giáo dục Đại học kiểm toán về
chuyên môn và tài chính hằng năm cũng như được yêu cầu
phải trao học bổng cho một tỉ lệ sinh viên nhất định.

<h2>Bộ GD-ĐT chỉ nên giám sát</h2>

<em>Với tình hình giáo dục ĐH VN hiện nay, để phát triển song
hành số lượng và chất lượng, theo bà cần có những giải
pháp gì?</em>

Khi thị trường trở thành một lực lượng trọng yếu, thì
câu hỏi tất yếu đặt ra là vai trò của nhà nước cần
được xác định như thế nào để đạt được hiệu quả
tối ưu, nói cách khác, để nhà nước là trợ lực chứ không
phải trở lực đối với các trường. Bài học Malaysia cho
thấy rõ khi thiếu vắng quyền tự chủ, các trường đã trở
nên bất lực như thế nào. Ở VN hiện nay, Bộ GD-ĐT đang can
thiệp quá sâu vào việc điều hành cụ thể của các trường,
nhưng thực chất vẫn không kiểm soát nổi chất lượng. Chẳng
hạn việc giao chỉ tiêu tuyển sinh nhiều khi làm nản lòng
những nỗ lực gắn kết với các doanh nghiệp của các
trường, vì những hợp tác giữa hai bên nhằm xác định nhu
cầu đào tạo và các kỹ năng cần thiết cho doanh nghiệp sẽ
không đi đến kết quả nếu chỉ tiêu không được duyệt hay
chương trình đào tạo không được chấp thuận. Vì vậy,
nhiều nước đã chuyển vai trò của nhà nước từ chỗ kiểm
soát sang giám sát. Việc của nhà nước chủ yếu là việc xây
dựng chính sách và bảo đảm cho những chính sách ấy được
thực hiện. Thay cho vai trò kiểm soát của Bộ GDĐT hiện nay,
các tổ chức nghề nghiệp như các hiệp hội hoặc các đơn
vị kiểm định độc lập cần có tiếng nói quan trọng hơn
trong việc bảo đảm chất lượng đào tạo của các trường.
Nhà nước cần khuyến khích kiểm định theo tiêu chuẩn quốc
tế và xây dựng các cơ quan kiểm định độc lập. Kinh nghiệm
Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy kiểm định quốc tế là một công cụ
đắc lực để các trường thực hiện đối sánh và cải tiến
hoạt động.

Chủ trương Ba công khai của Bộ là một bước tiến cần
được tiếp tục bằng việc xây dựng một hệ thống thông tin
nhằm công bố một cách rộng rãi và minh bạch các kết quả
kiểm định về hoạt động và chất lượng của các trường.
Bộ yêu cầu xây dựng chuẩn đầu ra là đúng nhưng chuẩn
đầu ra sẽ chẳng có bao nhiêu ý nghĩa nếu chỉ do các trường
tự nghĩ ra mà không tham khảo ý kiến của giới doanh nghiệp
là người sử dụng lao động và biết rõ hơn hết họ cần
những phẩm chất và kỹ năng gì ở người lao động. Chính
các doanh nghiệp và cộng đồng xã hội mới có tư cách thẩm
định, đánh giá, xác nhận hay phủ nhận giá trị hoặc ý
nghĩa của chuẩn đầu ra, chương trình đào tạo và chất
lượng đào tạo của các trường. Bài học của Trung Quốc là
một hệ thống đa dạng và phân tầng nhằm đáp ứng những nhu
cầu khác nhau của xã hội, bởi vì nếu không giải quyết
được việc nâng cao cơ hội tiếp cận đại học cho số đông
công chúng thì về mặt chính trị thật khó biện minh được
cho việc đổ một núi tiền vào những trường "đẳng cấp
quốc tế".

Sự tham gia ngày càng nhiều hơn của khu vực tư nhân là điều
tất yếu, và chính phủ cũng đã tiên liệu và định hướng
cho điều này. Trong bối cảnh giáo dục đang trở thành đại
chúng, nguồn lực của nhà nước không thể đáp ứng đủ cho
phát triển giáo dục thì việc hỗ trợ và khuyến khích khu
vực tư nhân tham gia vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo sẽ
là một giải pháp cần thiết để giải bài toán về nguồn
nhân lực chất lượng cao. Sẽ đến một lúc xã hội bão hòa
với những món hàng giả, hàng kém chất lượng mà các trường
công cũng như tư đang sản xuất ra, và đòi hỏi phải có một
chất lượng đào tạo thật. Đó là chỗ các trường tư có
thể có đóng góp tích cực, vì lúc đó chất lượng đào tạo
sẽ là nhân tố sống còn của họ. Bài học Thổ Nhĩ Kỳ cho
thấy một chính sách đúng có thể khơi gợi năng lực của
thành phần tư nhân như thế nào trong việc đóng góp cho giáo
dục.

Tuy vậy, cũng cần phải thấy là sẽ có những lĩnh vực khu
vực tư nhân không thể thay thế được nhà nước. Nghiên cứu
khoa học cơ bản và khoa học xã hội, mà cấp bách nhất là
khoa học giáo dục và chính sách công, có ý nghĩa vô cùng quan
trọng cho tương lai của quốc gia, mà các trường tư, trừ một
vài ngoại lệ, sẽ không vui lòng và không đủ khả năng đưa
vai ra để gánh. Không có sự chú trọng và đầu tư thích đáng
của nhà nước, thì những ngành khoa học này khó lòng phát
triển và sự yếu kém của nó sẽ đem lại một cái giá phải
trả to lớn cho đất nước.

<em>Xin cảm ơn bà.</em>

Minh Giảng

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6533), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét