Phạm Thành - Khái lược về lịch sử dân tộc Việt Nam qua 65 năm (1945 – 2010)

<div class="boxright220"><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEict6kxMgkiImz6Rdpa6ORmud5szWEogwOIHuXz8LEZ-deZEQOT2myPoc6UHvJzpWaDOWU-4ea_m_XJYM7BDIdgR0zqtXkNH2TusnCI1luiAJ3psvX7Nn8sV4RFdxRsbZObaXqEUioscw/?imgmax=800"
/></div>Tính từ năm 1945 đến nay, ĐCS Việt Nam đã giữ trọn
quyền lãnh đạo nhân dân Việt Nam suốt 65 năm và cũng trải
qua 10 lần đại hội để kiểm điểm và hoàn thiện đường
lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, từ Dân chủ
cộng hòa đến Xã hội chủ nghĩa. Tất nhiên, để khẳng
định công, tội (thành tích và khuyết điểm) như thế nào,
sẽ có những sử gia ghi chép và công bố, như ta đã thấy.
Riêng tôi, một công dân, năm nay cũng đã gần 60 tuổi, chưa
từng rời Việt Nam một giờ, chưa từng xa Việt Nam nửa
bước, cũng có một cách ghi chép sử dân tộc của riêng mình.
Nhân Đảng CS Việt Nam kêu gọi người dân đóng góp ý kiến
cho văn kiện Đại hội Đảng CS Việt Nam lần thứ XI, tôi xin
có một tổng kết dâng lên Đảng CS Việt Nam về lịch sử
"tiến lên" của dân tộc Việt Nam qua 65 năm dưới sự lãnh
đạo toàn diện và triệt để của Đảng CS Việt Nam. Rất mong
được những người chuẩn bị văn kiện cho Đại hội Đảng
CS Việt Nam lần thứ XI xem xét, tiếp nhận, nhằm bổ khuyết
vào đường lối cách mạng không ngừng của Đảng CSVN.

<center>* * *</center>

Sở dĩ dân ta theo Đảng CS Việt Nam trong 65 năm qua, tựu trung
lại, là vì dân ta tin:

- Đảng CS Việt Nam sẽ đem về độc lập và toàn vẹn lãnh
thổ cho dân tộc Việt Nam. Nghĩa là, nước Việt Nam phải là
của người Việt Nam, người Việt Nam tự quyết định cho
người Việt Nam làm gì, làm như thế nào, không phụ thuộc vào
ngoại bang, hay một thế lực nào đó.

- Đảng CS Việt Nam sẽ đem lại cho nhân dân Việt Nam một
cuộc sống về cơm ăn, áo mặc, về học hành, về tự do, về
dân chủ "triệu lần hơn" chế độ tư bản.

Những nội dung này đã được Đảng CS Việt Nam tuyên truyền
qua sách báo, qua hệ thống giáo dục đào tạo, qua hệ thông
thông tin đại chúng, qua các văn bản nghị quyết, qua các diễn
văn mừng các ngày kỷ niệm, qua các báo cáo chính trị công
khai và đã ngấm sâu vào tim óc của hầu hết nhân dân Việt
Nam. Chính từ đó mà nhân dân Việt Nam sống và làm việc ở
bất kỳ đâu cũng "nghe theo Đảng, Bác; làm theo Đảng, Bác"
để mong sớm có ngày được hưởng những thành quả trên. Có
thể nói, đó là những ước mơ chính đáng, mang tính thời
đại của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam và được Đảng CS
Việt Nam 'Việt Nam hoá' bằng cái tên: <em><strong>Thời đại
Hồ Chí Minh</strong></em>. Có thể khái quát nội dung chính của
những giấc mơ Việt Nam mang tên Thời đại Hồ Chí Minh như
sau:

<ol><li>Mơ về một ngày độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh
thổ.</li>

<li>Mơ về một ngày người cày có ruộng.</li>

<li>Mơ về một ngày xã hội không còn người bóc lột người;
ai cũng có cơm ăn, áo mặc; ai cũng được học hành.</li>

<li>Mơ về một ngày dân giàu, nước mạnh, làm theo năng lực,
hưởng theo nhu cầu.</li>

<li>Mơ về một ngày tự do, dân chủ, chính quyền của dân, do
dân, vì dân, không bịt mồm dân.</li></ol>

Trong những giấc mơ mang tên Việt Nam này, có gì đạt được
và chưa đạt được?

- Con đường xã hội Xã hội chủ nghĩa Đảng CSVN đã chọn cho
dân tộc Việt Nam tiến lên, liệu nó đã bén rễ, xanh cây hay
đang bật gốc, trốc rễ?

- Con đường "kinh tế thị trường, định hướng xã hội
chủ nghĩa", Đảng CS Việt Nam đã chọn cho dân tộc Việt Nam
tiến lên hôm nay, có là con đường đúng đắn hay là nguyên
nhân của sáu mầm mống tiêu cực, tham nhũng và rối loạn xã
hội?

Có thể chi tiết từng "mục" trên bằng cách chép sử khái
lược như sau:

<h2>1. MƠ VỀ MỘT NGÀY ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ TOÀN VẸN LÃNH
THỔ.</h2>

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, những người CS Việt Nam
đưa ra đường lối: Đánh đổ thực dân, phong kiến, giành
độc lập và toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam. Đó là đường
lối đã đánh trúng con tim mang truyền thống nồng nàn yêu
nước, mong muốn độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ
của cả 20 triệu người Việt Nam, bất chấp họ ở tôn giáo,
đảng phái nào, và vì vậy, chỉ chờ cơ hội là người Việt
Nam vùng lên lật đổ chế độ thực dân, phong kiến.

Năm 1945, khi Phát xít Đức-Ý-Nhật đầu hàng Đồng minh, nhân
cơ hội này, các lực lượng yêu nước đã tập hợp nhân dân
vùng lên lật đổ chế độ thực dân phong kiến, và hình thành
một nhà nước công-nông đầu tiên ở Đông Nam Á với một
chính quyền có nhiều đảng phái tham gia.

Lãnh tụ của ĐCS Việt Nam, Hồ Chí Minh, thay mặt quốc dân
đồng bào đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt
Nam mới. Trong tuyên ngôn, Hồ Chủ tịch khẳng định: Nước
Việt Nam đã là một nước độc lập. Nhưng, chỉ ít tháng sau,
người Pháp lại gây hấn và rắp tâm một lần nữa đặt ách
đô hộ thực dân lên 20 triệu người Việt Nam. Người CS Việt
Nam, đứng đầu là Hồ Chí Minh, đã quyết lấy chủ nghĩa
Mác-Lenin làm kim chỉ nam cho việc kháng chiến, kiến quốc, nên
các lực lượng không cộng sản, hoặc là bỏ chạy, hoặc là
bị thủ tiêu, Quốc hội đa nguyên tan rã, chỉ còn lại những
người Cộng sản và thân Cộng sản nắm giữ chính quyền.

Kể từ đó, nước ta đã là một nước độc lập và là một
thành viên trong hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa. Do
điều kiện lịch sử, chúng ta đã tự nguyện trở thành
người lính xung kích trên tuyến đầu chống Pháp xâm lược
trở lại (mất 9 năm) và chống lại cả một hệ thống các
nước đế quốc, đứng đầu là Mỹ (mất 20 năm). Sau đánh
Mỹ, chúng ta lại chống Tàu xâm lược và tiêu diệt chế độ
diệt chủng Khmer đỏ ở nước Campuchia.

Bao nhiêu của cải và xương máu của mấy triệu người Việt
Nam chúng ta đã đổ xuống, những tưởng giành được độc
lập hoàn toàn. Nhưng đến nay, liệu dân tộc Việt Nam đã có
độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ? Theo tôi là chưa. Vì
biển Đông của Việt Nam còn bị Tàu xâm chiếm toàn bộ Hoàng
Sa và một phần Trường Sa. Dân ta đi đánh cá mưu sinh trên
biển của ta mà vẫn bị người nước ngoài bắt giữ. Đảng
ta họp hành, bàn bạc nhân sự lãnh đạo, y như rằng, anh bạn
16 chữ vàng lại mò sang chỉ đạo, cứ như Việt Nam là một
tỉnh, một huyện của Tàu vậy. Hơn nữa, trước đây, khi ta
còn đang đánh Pháp, đánh Mỹ muôn vàn khó khăn mà ta vẫn
mạnh mẽ vạch trần mưu mô xâm lấn lãnh thổ, mưu mô tội ác
của bất kỳ thế lực nào, nay dân ta bị bắt, bị giết mà ta
chỉ "khẽ khàng" tuyên bố vài câu cho có lệ, không nêu
được hồn cốt của việc dân mình bị giết, lãnh thổ bị
xâm chiếm để tỏ rõ chí khí "thà hy sinh tất cả chứ nhất
định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô
lệ" (Hồ Chí Minh) của dân tộc ta. Một chính quyền đại
diện cho dân, đối với việc trọng của đất nước mà chỉ
có "vài lời" về chủ quyền qua những tuyên bố "nhẹ như
lông hồng" như vậy, lấy đâu ra độc lập? Hơn nữa, "kẻ
thù truyền kiếp" ngày ngày vu cáo và sỉ nhục dân tộc ta
những câu: "Việt Nam là một quốc gia lòng lang dạ sói", là
"đất nước tiểu nhân, bỉ ổi, không biết xấu hổ",
"phải giết bọn xâm lược Việt Nam để làm vật tế cờ
trong trận chiến thu hồi Nam Sa (sát Việt khẩu vị Nam Sa chi
chiến tế kỳ). Thế mà, tất cả người Việt từ trên xuống
dưới, từ trên 60 cơ quan truyền thông phát thanh - truyền hình,
hơn 700 tờ báo đều cứ như bồ thóc. Cứ như láng giềng có
quyền được lăng nhục dân tộc mình, còn mình chỉ được
quyển chịu lăng nhục, chỉ được "quyền" ca ngợi "anh em
tốt, láng giềng hữu nghị, hợp tác lâu dài, hướng tới
tương lai". Không những thế, có đồng chí lãnh đạo nước
ta – Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng – còn sang tận
nước có chính quyền bắt, giết dân ta để họp báo (ngày
10.4.2007 tại Bắc Kinh) và tuyên bố: "Quan hệ Trung-Việt chưa
lúc nào tốt đẹp như lúc này". Và còn có nhiều đồng chí
lãnh đạo cao cấp khác, hễ cứ đợi khi dân ta bị Tàu đánh,
cướp tài sản, giam giữ thì lại lên gân khẳng định "quan
hệ Trung-Việt là quan hệ láng giềng hữu nghị; là anh em tốt
đồng chí tốt". Khen và nịnh kẻ giết đồng bào mình là
kẻ tốt nhất, độc lập dân tộc nên hiểu thế nào đây,
nếu không nói là chưa có?

Như vậy, lịch sử dân tộc Việt Nam qua 65 năm chép:

<em><strong>Qua 65 năm Đảng CS Việt Nam lãnh đạo toàn diện và
triệt để dân tộc Việt Nam, từ năm 1945 đến năm 2010, nước
Việt Nam vẫn chưa thực sự có độc lập và toàn vẹn lãnh
thổ.</strong></em>

<div class="boxleft300"><img
src="http://danluan.org/files/u1/clip_image002_0.jpg" width="308"
height="209" alt="clip_image002_0.jpg" /><div class="textholder">Nhà thơ
Bùi Minh Quốc trong chuyến chu du biên giới phía Bắc đã chụp
tấm ảnh này từ 1981. Hiện nay những cột mốc này đã được
thay thế, cột mốc cũ không còn nữa, cột mốc mới đã lùi
về phía ta khoảng 300 mét. Ảnh: Phạm Xuân Nguyên
</div></div>

<h2>2. MƠ VỀ MỘT NGÀY NGƯỜI CÀY CÓ RUỘNG</h2>

Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Đảng CS Việt Nam cũng đưa
ra đường lối: "Người cày có ruộng, cơm áo về cho nông
dân", bên cạnh đường lối Độc lập và toàn vẹn lãnh thổ
cho dân tộc.

Đường lối này cũng đã đánh trúng niềm mơ ước ngàn đời
của hầu hết người Việt Nam, và họ đã vùng lên lật đổ
chế độ thực dân, phong kiến năm 1945 dưới sự lãnh đạo
của Đảng CS Việt Nam và các lực lượng yêu nước khác.

Nhân dân Việt Nam mà hầu hết là nông dân hiểu rằng, đường
lối "người cày có ruộng" mà Đảng CS Việt Nam đưa ra,
bản chất là người cày được cày trên đất đai thuộc sở
hữu của mình, chứ không phải cày thuê, cuốc mướn cho
người khác, như cày thuê cho địa chủ, tư sản thời thực
dân, phong kiến.

Đảng CS Việt Nam đã thực hiện được điều này. Ngay khi còn
đánh Pháp và tiếp sau đánh Pháp, ĐCS Việt Nam đã thực hiện
Cải cách ruộng đất, lấy đất của địa chủ, phong kiến,
đế quốc chia cho dân cày. Người nông dân từ chỗ đi cày
thuê cuốc mướn đã thực sự trở thành những chủ nhân của
đất đai, ruộng vườn. Việc tước đoạt tư liệu sản xuất
đặc biệt quan trọng này, ĐCS Việt Nam đã làm rất kiên
quyết, dù máu có đổ, dù có oan sai, nhưng nó nhất định là
việc phải làm, đã đem lại niềm tin cho hầu hết nhân dân,
đặc biệt là những người lao động cần lao.

Nay, sau 65 năm Đảng CS Việt Nam lãnh đạo toàn diện và triệt
để dân tộc và đất nước Việt Nam, đường lối "người
cày có ruộng" có trở thành hiện thực? Tất nhiên là nó đã
trở thành hiện thực, nhưng chỉ hiện thực từ năm 1953 cho
đến hết năm 1960, khi miền Bắc hoàn thành việc xây dựng
hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Kể từ đó, đất đai –
niềm mơ ước muôn đời của nông dân – trở thành tài sản
thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý. Thực chất là
nằm gọn trong tay ông Nhà nước. Trong đó, quyền của nông dân
chỉ được đi cày trên đất đó như một người làm thuê,
cuốc mướn, gần giống như đi cày thuê cuốc mướn cho địa
chủ, tư sản thời thực dân, phong kiến trước đây. Người
sở hữu đích thực thuộc về ông Nhà nước. Chỉ có ông Nhà
nước mới là ông chủ đích thực, có toàn quyền định
đoạt, dùng làm gì, bao nhiêu, giá cả thế nào… Nó là quyền
độc tôn của "ông Nhà nước", không phụ thuộc vào quyền
của người cày. Người CS Việt Nam, dù đã có bao nhiêu văn
bản, chỉ thị hoặc là có Luật Đất đai, qua bao lần sửa
đổi, bổ sung, cái bản chất này cho đến đại hội lần thứ
X Đảng CS Việt Nam vẫn không thay đổi. Có thể lấy hàng
trăm, hàng ngàn ví dụ về sự thật này trên báo chí "lề
phải" đã xuất bản của Đảng CS Việt Nam.

Như vậy, lịch sử dân tộc Việt Nam qua 65 năm chép:

<em><strong>Đường lối "Người cày có ruộng", tức quyền
sở hữu ruộng đất của người cày mà người CS Việt Nam
đưa ra và trở thành động lực làm nên thành công của Cách
mạng tháng Tám năm 1945, lật đổ chế độ thực dân, phong
kiến, đã không còn. Quyền đó đã bị những người Cộng
sản Việt Nam tước đoạt trở lại từ năm 1960 dưới cái vỏ
bọc là hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.</strong></em>

<h2>3. MƠ VỀ MỘT NGÀY XÃ HỘI KHÔNG CÒN NGƯỜI BÓC LỘT
NGƯỜI; AI CŨNG CÓ CƠM ĂN, ÁO MẶC; AI CŨNG ĐƯỢC HỌC
HÀNH.</h2>

Cùng với giấc mơ độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ,
Đảng CS Việt Nam cũng đưa ra đường lối xây dựng một xã
hội công bằng, không còn người bóc lột người; ai cũng có
cơm ăn, áo mặc; ai cũng được học hành.

Dưới chế độ Pháp - Nguyễn, ai là người bóc lột? Đương
nhiên, đó là tư sản, địa chủ, quan lại. Vậy thì, để có
một xã hội không còn người bóc lột người, trước hết,
những kẻ bóc lột phải bị cải tạo hoặc là bị tiêu diệt.
Công việc này được bắt đầu từ năm 1953 ở miền Bắc và
năm 1975 ở miền Nam. Với lợi thế về lực lượng, những
người CS Việt Nam đã nhanh chóng tổ chức thực hiện việc
"xoá sổ" lực lượng bóc lột này. Ở Nông thôn, ruộng
đất bị tịch thu để phân chia lại. Ở thành thị, nhà máy,
công xưởng, tài sản bị trưng thu, tịch thu, để quốc hữu
hóa. Trong cuộc cách mạng vĩ đại này, có máu chảy, có oan
sai, nhưng đấy là việc phải làm, nó đáp ứng nguyện vọng
của nhân dân, rằng kẻ bóc lột phải bị tước đoạt lại,
bị trừng trị, tiêu diệt, quyền làm ăn sinh sống, sung sướng
là quyền bình đẳng của mỗi con người trong chế độ mới
mang tên Thời đại Hồ Chí Minh.

Kể từ Đảng CS Việt Nam thực hiện Cải cách ruộng đất ở
nông thôn và Cải tạo tư sản ở thành thị thuộc miền Bắc
(1953 – 1960) và thực hiện ở miền Nam từ năm 1975 đến nay,
ít nhất cũng đã qua 35 năm, liệu trong xã hội ta còn có
người bóc lột người? Thưa rằng, nhiều vô thiên lủng. Lớp
cường hào, tư sản mới (tư bản đỏ) xuất hiện trở lại
ở nước ta từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, ngày
càng nhiều, ngày càng vơ vét khốc liệt và tàn bạo. Sự phân
hóa giàu nghèo ngày càng rộng ra. Xã hội bây giờ nhan nhản
"người ăn không hết, người lần không ra".

Những người giàu là ai, những người nghèo khó là ai? Nhắm
mắt lại cũng nhận ra, người nghèo khó là nhân dân lao động.
Người giàu có là những người có chức có quyền, và "đau
lòng" nhất, trong số người giàu này, phần nhiều là những
người CS thuộc loại 5C: con cháu các cụ cả. Đó là những
người mà cha anh họ đã luôn hô hào, vạch ra đường lối
tiêu diệt tư sản, địa chủ để xây dựng một xã hội không
còn người bóc lột người. Thực tế họ đã phạm sai lầm
quá tả khi thực hiện chủ trương này và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã phải bổ cứu bằng chính sách sửa sai. Thế mà hiện
nay, mỗi năm nước ta lại xuất hiện thêm hàng chục, hàng
trăm tỷ phú nhà giàu, cũng tỷ lệ thuận với việc tăng thêm
hàng ngàn, hàng vạn người nghèo. Trên báo chí "lề phải"
năm nào cũng thống kê "đội ngũ" này và bên cạnh sự giàu
lên đó, cũng xuất hiện hàng trăm, hàng ngàn cuộc đình công
đòi tăng lương, đòi thu nhập, đòi quyền sống của hàng
ngàn, hàng vạn người lao động.

Họ làm gì mà giàu lớn và nhanh thế, nếu không phải là từ
cướp đoạt tài nguyên của đất nước, cướp đoạt ruộng
đất của nông dân (cưỡng chế với giá rẻ mạt rồi xây
dựng công trình, nhà nghỉ, sân golf... hoặc phân lô bán lại
với giá cắt cổ; đây là một cách đầu cơ trắng trợn nhất
và gây đổ vỡ lớn nhất trong tâm lý xã hội, trong khối
đoàn kết dân tộc) và bóc lột không thương tiếc sức của
người lao động?

Như vậy, lịch sử dân tộc Việt Nam qua 65 năm chép:

<em><strong>Nhân dân Việt Nam mơ về một xã hội không còn
người bóc lột người, ai cũng có cơm ăn, áo mặc; ai cũng
được học hành. Giấc mơ đó của những năm làm cách mạng
trước đây, nay đang ngày một xa vời, và chắc chắc rằng đã
trật gốc.</strong></em>

<h2>4. MƠ VỀ MỘT NGÀY DÂN GIÀU, NƯỚC MẠNH, LÀM THEO NĂNG
LỰC, HƯỞNG THEO NHU CẦU.</h2>

Nó không chỉ là giấc mơ của những người cần lao mà là
giấc mơ vĩ đại không tiền khoáng hậu của những lý thuyết
gia Cộng sản. Ở nước ta, lý thuyết này không những được
phổ cập trong các trường học, từ tiểu học cho đến đại
học mà các phương tiện truyền thông đại chúng của những
người Cộng sản Việt Nam còn suốt ngày tuyên truyền rôm rả.
Nói không ngoa, phàm là người dân, biết chữ hay không biết
chữ, già hay trẻ, gái hay trai, miền núi hay miền biển đều
biết đến đường lối xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa
này. Và, để thực hiện nó, ở nông thôn, ruộng đất và các
tư liệu sản xuất khác tập trung vào hợp tác xã nông nghiệp
để làm chung, hưởng chung. Hợp tác xã nông nghiệp trở thành
"ngôi nhà chung", nông dân biến thành xã viên và là "ông
chủ" của cái "nhà" đó. Ở thành thị, nhà máy, công
xưởng bị quốc hữu hóa. Nhà máy, xí nghiệp, công xưởng
cũng trở thành "nhà" của công nhân và ông chủ của nó
cũng là những công nhân.

Tuy nhiên, nhiệm vụ của những "ông chủ mới" này được
phân công là làm, còn làm như thế nào, làm ra cái gì, phân chia
sản phẩm ra sao thuộc quyền của bộ tham mưu lãnh đạo là
những người Cộng sản.

Để cho tinh thần làm chủ phát huy hết năng lực, ông Lê
Duẩn, một lãnh tụ của Cộng sản Việt Nam (sau ông Hồ Chí
Minh), đã đưa ra học thuyết "Làm chủ tập thể". Học
thuyết này, như là một khẳng định khoa học của việc nghiên
cứu và tổng kết về con người, còn có tham vọng bổ sung vào
học thuyết Mác- Lênin về thiên đường của Chủ nghĩa Cộng
sản.

Những nhà lãnh đạo và tham mưu Cộng sản thiết kế mô hình
này, tin rằng đất đai có nhiều "ông chủ" và với tinh
thần làm chủ tập thể cao nhất, để "nhà nhà thi đua;
người người thi đua / Thi đua là yêu nước, yêu nước thì
phải thi đua" (Hồ Chí Minh) sẽ làm ra được nhiều lúa, ngô,
khoai sắn… trên đồng ruộng và sản phẩm hàng hóa công
nghiệp nơi nhà máy, xí nghiệp. Từ tinh thần làm chủ ấy mà
của cải làm ra như nước, không những đáp ứng nhu cầu ai ai
cũng có cơm ăn, áo mặc, mà còn hứa hẹn: ai có năng lực
đến đâu thì làm đến đó, còn hưởng thụ thì, người bụng
to, người bụng nhỏ thỏa sức mà dùng – hưởng theo nhu cầu.

Nhưng, thực tế lại không như đường lối và biện pháp đề
ra của những người CS Việt Nam. Nông dân trong hợp tác xã
nông nghiệp, công nhân trong nhà máy, xí nghiệp đã trở thành
những chủ nhân ông mà tinh thần và ý thức trách nhiệm với
công việc của họ như là nhà có "cha chung không ai khóc". Do
vậy, ở nông thôn, đất đai bị nghèo kiệt dần, bị bỏ hoang
hóa dần, năng suất lao động giảm dần, của cải làm ra ít
dần; ở nhà máy, xí nghiệp lấy lãn công làm trọng, sản
phẩm làm ra, được chăng hay chớ, số lượng giảm mà chất
lượng thì còn kém hơn cả hàng giả. Từ đó mà đời sống
nông dân, công nhân ngày càng khó khăn, eo hẹp. Đến cuối
những năm 80, nếu ĐCS Việt Nam không có nghị quyết về khoán
quản sản phẩm cho nhà máy, xí nghiệp và "khoán 10" cho nông
thôn thì hàng triệu nông dân, hàng nghìn công nhân đã đi theo
Bác Hồ và các vị tiền bối cách mạng rồi. Rõ ràng, kể từ
khi khoán ruộng đất cho nông dân, khoán sản phẩm cho công
nhân, tức là theo cách "làm đấu, ăn khoán, phát canh thu tô"
của bọn tư sản và địa chủ trước đây, đời sống nông
dân, công nhân mới vượt qua được cửa ải mà ở đó thần
chết luôn lè cái lưỡi xanh ra rình rập.

Vậy, hôm nay thì sao? Đướng lối phát triển kinh tế - xã hội
của Đảng Cộng sản Việt Nam là kinh tế thị trường, định
hướng xã hội chủ nghĩa. Đó được xem là bước đổi mới
quan trọng của Đảng CS Việt Nam. Sau hơn 20 năm đi theo con
đường này, quả tình, có một bộ phận người, phần nhiều
là có chức có quyền và là cộng sản đích thực, không những
đã có "cơm ăn, áo mặc, được học hành " mà một bộ
phận không nhỏ đã thực hiện được mục tiêu "làm theo
năng lực, hưởng theo nhu cầu". Lực lượng này, không những
có lắm nhà lầu, xe hơi, tiền nhiều như quân Nguyên mà còn
thể hiện một bản lĩnh ăn chơi trác táng không hổ với cái
mục tiêu "hưởng theo nhu cầu" mà các lý thuyết gia Cộng
sản hằng mơ ước. Tuy nhiên, so với trên 80 triệu dân Việt
Nam, số này là số ít, nhưng thu nhập lại nhiều; phần còn
lại là công nhân, nông dân, người thì đông nhưng thu nhập
lại ít, chỉ "tay làm, hàm nhai" may mắn mới đủ ăn, và
một bộ phận nông dân và công nhân khác luôn ở cảnh: có làm
nhưng đói nghèo vẫn thường trực, quanh năm lần hồi rau cháo
qua ngày.

Cái quy luật "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu" cũng
đã bị quên lãng, nó không còn trong đường lối và tuyên
truyền ngày ngày của những người CS nữa. Nó đã trở thành
kỷ niệm về một thời. Nhớ đến nó là nhớ đến một cái
bánh chưa có thực mà người CS giàu tưởng tượng đã phác ra
hình ảnh và đưa lên để làm mục tiêu cho mình và thu hút
quần chúng, đặc biệt là những người cần lao. Nó vĩnh viễn
không bao giờ là hiện thực cho số đông. Dân Việt Nam, dù
muốn hay không, cũng đã gặm cay đắng và cũng đã quên cái
giấc mơ này từ nhiều năm nay rồi.

Như vậy, lịch sử dân tộc Việt Nam qua 65 năm chép:

<em><strong>Ước mơ về một ngày "làm theo năng lực, hưởng
theo nhu cầu" là ước mơ đẹp của những người cộng sản
và của nhân dân Việt Nam. Sau hơn nửa thế kỷ tâm huyết gây
dựng, nó trở thành hiện thực cho một nhóm nhỏ người, không
bao giờ là hiện thực cho số đông. Số đông dân Việt Nam
hiện đang đánh vật với mơ ước: "ai cũng có cơm ăn, áo
mặc; ai cũng được học hành", y chang niềm mơ ước của
lãnh tụ Hồ Chi Minh nói trong những năm nước ta vừa thoát ách
nô lệ của Pháp, Nhật và triều Nguyễn.</strong></em>

<h2>5. MƠ VỀ MỘT NGÀY TỰ DO, DÂN CHỦ, CHÍNH QUYỀN CỦA DÂN,
DO DÂN, VÌ DÂN, KHÔNG BỊT MỒM DÂN.</h2>

Một chính quyền cúa dân, do dân, vì dân là một nét mới, khác
hoàn toàn về chất so với phần còn lại của các chính quyền
đã và đang tồn tại của thế giới, cả xưa và nay. Cái chính
quyền này, có, không phải để áp bức dân, hành dân, bịt
mồm dân mà là đại diện cho ý chí và nguyện vọng của dân,
thay dân lo mọi việc cho dân; vì vậy, cán bộ chỉ là người
đầy tớ trung thành của dân, công bộc của dân. Một lý
thuyết chính quyền hay mọi nhẽ và cũng thuộc loại vô tiền
khoáng hậu, chẳng ai có thể bác bỏ được tính ưu việt của
nó. Cũng từ những lý thuyết hay mọi nhẽ này được bộ máy
tuyên truyền của Đảng CS Việt Nam tuyên truyền ngày đêm
dưới mọi hình thức mà dân Việt Nam ta đã tin theo và một
lòng bảo vệ nó. Dân hoan hô và tin rằng, những người Cộng
sản Việt Nam, đội quân tiên phong của giai cấp công nhân,
nông dân và dân tộc, sẽ thực hiện đúng những gì mình nói.

Vì lòng tin đó mà dân tộc ta đã không tiếc máu xương và
của cải đi theo Đảng CS Việt Nam để đánh Pháp, đuổi
Nhật, rồi đánh Mỹ trong suốt 30 năm trường kỳ và đã làm
nên chiến thắng vĩ đại vào mùa xuân năm 1975.

Sau chiến thắng năm 1975, một chính quyền của dân, do dân, vì
dân, không hành dân, không bịt mồm dân đã thực sự hiện
hữu?

Không thể nói là nó đã và đang hiện hữu.

Một chính quyền của dân, do dân, vì dân trước hết và tối
thiểu phải do người dân trực tiếp bầu lên. Ở nước ta, 65
năm qua, chưa từng xảy ra điều này. Chỉ mới "đặt vấn
đề" ở điểm khởi đầu này thôi, bất kỳ ai cũng nhận ra
rằng nói hiện nay, chính quyền của ta đã là chính quyền của
dân, do dân và vì dân, chỉ là cách nói nặng tính chất diễn
dịch mà không phải quy nạp.

Bên cạnh đó, người dân hiện vẫn chưa được hưởng các
quyền tự do về biểu tình, về trình bày tư tưởng, về tự
do lập hội, tự do ngôn luận, báo chí, tự do tôn giáo, tin
ngưỡng… Cả nước ta hiện không có một tờ báo tư nhân
nào. Việc lập hội còn phải xin phép. Nay có internet, những
công dân nào viết không đúng ý Đảng, sẽ từ bị gây khó
dễ đến vào trại cải tạo, nó là chuyện cũng đã xưa như:
"Đỏ như màu máu của mình em ơi". Tôn giáo, tín ngưỡng
nhất nhất phải trở thành một bộ phận thuộc sự quản lý
của Đảng CS…

Năm 1946, chúng ta còn có Quốc hội đa nguyên, tức gồm nhiều
đảng phái tham gia ở cơ quan quyền lực cao nhất này, nhân dân
ta còn được tự do lựa chọn, ông này ở đảng này, ông kia
ở đảng kia để bầu, nay Quốc hội chỉ có một đảng duy
nhất, nhân dân dù có 100% cử tri đi bầu, cứ nhắm mắt lại,
lấy "râu ông nọ cắm vào cằm bà kia", cũng không làm thay
đổi cái bản chất của tổng số lượng đại biểu trúng
cử.

Hơn nữa, thời Pháp - Nguyễn, tuy là chế độ thực dân, phong
kiến, nhưng dân ta còn được biểu tình, được tự do ra báo
chí, tự do lập hội phường, tự do tôn giáo, tín ngưỡng….

Nhận thức chung về chính trị của thời đại ngày nay đã
chỉ rõ, đa nguyên là cơ sở của một xã hội dân chủ. Mà
chỉ có dân chủ người dân mới được hưởng các quyền cơ
bản của con người. Một xã hội độc trị, xã hội đó không
thể có dân chủ. Điều đó cũng giống như về kinh tế, không
có cạnh tranh thì cũng không có phát triển. Một xã hội không
có dân chủ là một xã hội quân chủ. Chính quyền đó, dù có
ban hành hàng trăm, hàng ngàn văn bản, chỉ thị, nghị quyết
và luật pháp thì trước tiên nó cũng chỉ nhằm bảo vệ lợi
ích của hệ thống cán bộ, công nhân viên đang làm việc cho
guồng máy đó, từ to xuống nhỏ, mà thôi. Quyền của người
dân cơ bản là quyền được bị hành. Chỉ lược trên các báo
chí "lề phải" hôm nay cũng thống kê được hàng trăm, hàng
nghìn các thủ tục mà chính quyền đẻ ra để hành dân là
chính. Việc hành dân diễn ra hằng ngày và ngày một tràn lan.
Càng chống càng phức tạp, càng lún sâu, năm sau mức độ hành
lại cao hơn năm trước. Đến một cái giấy khai sinh, khai tử
người dân cũng phải chạy tiền lo lót mới xong. Có thể nói,
dân cần cái gì ở chính quyền, không lo lót là không xong,
không chịu bị hành là không được việc.

Như vậy, lịch sử dân tộc Việt Nam qua 65 năm chép:

<em><strong>Một chính quyền của dân, do dân, vì dân, không hành
dân, không bịt mồm dân, chỉ có trên lý thuyết, không có trên
thực tế. Không những thế, nền dân chủ trong chế độ ta
lại đang tụt hậu dần, tụt quá thời điểm Cách mạng tháng
Tám năm 1945. Dân ta hiện không có những quyền làm người tối
thiểu mà nói dân ta đã có tự do, dân chủ là nói lấy
được.</strong></em>

<h2>6. MẦM HỌA CỦA TIÊU CỰC, THAM NHŨNG VÀ RỐI LOẠN XÃ
HỘI!</h2>

Đường lối phát triển kinh tế-xã hội của Đảng CS Việt Nam
hiện nay là: "cơ chế kinh tế thị trường, định hướng xã
hội chủ nghĩa". Đây là một khái niệm mới do những người
Cộng sản Việt Nam tạo ra. Vậy, nội dung của nó là gì? Đến
nay, kể cả trong nước và nước ngoài, vẫn chưa có công trình
khoa học nào nghiên cứu để lý giải một cách khoa học về
cái xã hội "kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ
nghĩa" này.

Một mô hình kinh tế-xã hội không có lý luận khoa học làm cơ
sở, mô hình đó không có cơ sở tồn tại, và đương nhiên là
mảnh đất tươi tốt cho tiêu cực, tham nhũng phát triển; và
cũng là nền tảng dẫn đến rối loạn xã hội; và con đường
tất yếu của nó e sẽ là đổ bể. Bởi vì, ai cũng biết cái
xã hội kết hợp hai phạm trù trái ngược đó là không thể
có, và vì nó không thể có, nên chẳng ai có thể tin; vì chẳng
ai có thể tin, nên chẳng ai lại hoài công xây dựng và vun
đắp cho nó. Việc bộ tham mưu của đất nước cứ bắt mọi
người dân Việt Nam phải tin và làm theo, đã là một nghịch
lý, và đương nhiên kết quả của nó, giống như việc "bắt
cóc bỏ đĩa" là điều không thể tránh khỏi. Đi lên xã hội
xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa là hai con đường
hoạch định xây dựng khác nhau. Lý thuyết kinh điển về xây
dựng xã hôi xã hội chủ nghĩa và xây dựng xã hội tư bản,
nó như nước và lửa, nó là chuyện "đấu tranh giữa hai con
đường"; là "đấu tranh này trận cuối cùng" đã được
Mác-Lênin khẳng định và là khẩu hiệu treo nhan nhản trên
mọi nẻo đường của đất Việt một thời.

Cơ sở của nó là, kinh tế xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế
kế hoạch, kinh tế tập trung, tư liệu sản xuất là của chung,
sản phẩm làm ra được tập trung lại và Nhà nước đứng ra
phân phối. Cái mô hình này đã thất bại thảm hại trên quy
mô toàn thế giới, nay chẳng còn dân tộc nào làm theo. Còn kinh
tế thị trường là nền kinh tế tự do, vận hành theo nguyên
tắc lợi nhuận.

Ở các nước tư bản, để có công bằng xã hội, về thế
chế thì cần phải tam quyền phân lập nhằm chống lại bất
kỳ một cá nhân hay một thế lực nào muốn độc quyền cai
trị và độc quyền hưởng lợi.

Giá như đường lối xây dựng kinh tế-xã hội của nước chỉ
theo cơ chế kinh tế thị trường không thôi, thì việc thiết
chế bộ máy, xây dựng luật pháp buộc phải xây dựng theo cơ
chế kinh tế thị trường để bảo đảm tính công bằng cho
mọi tầng lớp nhân dân; về thể chế cũng phải tam quyền
phân lập, nhằm chống độc quyền cai trị và độc quyền
hưởng lợi của một cá nhân hay một nhóm lợi ích nào đó.
Đó là quy luật phát triển xã hội từ thấp đến cao mà bao
nhiêu cuộc cách mạng, bao nhiêu máu xương của nhân dân yêu
chuộng công bằng đã đổ xuống mới có được. Nhưng, Đảng
CS Việt Nam hiện nay lại không hiểu như vậy hoặc cố tình
bỏ qua sự thật này, khăng khăng giữ cái đuôi "xã hội chủ
nghĩa" với rất nhiều những giấc mơ đẹp mà thực tế thì
giấc mơ đã bị "lay tỉnh" để thấy một sự phũ phàng là
sự cáo chung của nhiều quốc gia cộng sản từ 20 năm trước.

Trong cái đường lối này, ai cũng biết rằng kinh tế thị
trường là nền tảng hạ tầng; xã hội chủ nghĩa đứng ở
phía sau là cái ngọn, cái kiến trúc thượng tầng. Luận
thuyết của Mác-Ănghen đã chỉ ra rằng, chỉ có "hạ tầng
cơ sở" mới "đẻ" ra "thượng tầng kiến trúc", chứ
không có chiều ngược. Vì vậy, hy vọng về cái "đuôi"
"xã hội chủ nghĩa" sẽ là cái bánh lái để dẫn cơ chế
thị trường đi theo xã hội chủ nghĩa là một lô gích ngược,
nó giống như bắt người ta phải đi bằng đầu vậy. Có lẽ,
những người Cộng sản Việt Nam, người nào cũng thuộc "bài
học đầu tiên" này khi tiếp cận với chủ nghĩa Mác-Lênin.
Cho nên, cán bộ, ai ai cũng chỉ hành xử theo cái "nền tảng
kinh tế thị trường", nghĩa là nền kinh tế vận hành theo
nguyên tắc lợi nhuận, hành động theo trật tự "cá lớn
nuốt cá bé", nghề nghiệp là cướp đoạt tài nguyên và bóc
lột sức lao động mà lại không bị cái tam quyền phân lập
khống chế, và phần "định hướng xã hội chủ nghĩa"
đương nhiên trở thành lá chắn che chở cho sự cướp đoạt
với những lời hoa mỹ "vì dân, vì nước" ở trên môi.

Tại sao Đảng CS Việt Nam không muốn mạch lạc, tư bản ra tư
bản, chủ nghĩa xã hội ra chủ nghĩa xã hội? Và tại sao họ
cứ cổ vũ cho cái không thể tồn tại? Tôi xin được nói
thẳng, đó là vì quyền và lợi của riêng của các nhóm lợi
ích, sân sau của những người đương chức đương quyền.
Người đương chức đương quyền bây giờ là chủ nhân ông
của mấy chục triệu sức lao động Việt Nam, chủ nhân ông
của tài nguyên thiên nhiên Việt Nam và là người "đại
diện" ký kết làm ăn, ký kết nhận tiền của nước ngoài
rồi phân phát lại ở trong nước. Bản chất là không muốn
chia quyền và lợi cho bất kỳ thành phần nào và họ quyết
tâm duy trì một xã hội chẳng ra ngô ra khoai như vậy càng làm
lợi cho nhiều "nhóm lợi ích" có cơ "đục nước béo
cò". Thực tế, từ khi Đảng CS Việt Nam áp dụng đường
lối "thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa" đến
nay, một thiểu số những người cộng sản và lực lượng 5C
– con cháu các cụ cả – đã giàu lên một cách nhanh chóng và
trở thành một phong trào ngày một lan rộng, ngày một quyết
liệt và nó đang đẩy công cuộc chống tiêu cực, tham nhũng ở
Việt Nam, cũng do chính những người CS đề ra, đi vào ngõ cụt
với sự thật: càng chống lại càng lún sâu hơn. Nguyên nhân
vì sao, ai cũng biết, ai cũng hiểu và người hiểu sâu sắc và
đầy đủ nhất, không phải ai khác, chính là người cộng
sản, người vừa nhận vai trò là người đá bóng đồng thời
cũng là người thổi còi trong trận chiến ú tim này. Anh vừa
đá bóng, lại vừa thổi còi, làm sao anh có thể phạt, bắt
giam và tiêu diệt được đá láo, vì cầu thủ là anh mà trọng
tài cũng là anh.

Cho nên, nói rằng tiêu cực tham nhũng đang đe dọa sự sống
còn của chế độ, là nói đến lực lượng này. Lực lượng
này sẽ tự diễn biến và tạo áp lực mạnh mẽ và quyết
định làm tiêu vong cái đuôi "định hướng xã hội chủ
nghĩa", và băm nát những giường mối tốt đẹp và tiến bộ
của "cơ chế kinh tế thị trường", chứ nhất định không
phải là các lực lượng thù địch đang "đêm ngày thực
hiện âm mưu diễn biến" như các phương tiện truyền thống
đại chúng của Đảng CS Việt Nam hiện đang ngày đêm rao
giảng.

Do đó, "cơ chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội
chủ nghĩa" đã và đang là biện pháp tổng hợp nhằm lần
cuối cùng "nốc ao" những giấc mơ Việt Nam xã hội chủ
nghĩa mang tên Thời đại Hồ Chí Minh và đưa dân tộc ta trở
về điểm xuất phát. Chưa thể nói trước điểm xuất phát
ấy nằm ở đâu nhưng nếu nó nằm ở "Giao Chỉ quận" thì
thực là đáng sợ mà bản lĩnh kiên cường của dân tộc này
dứt khoát không bao giờ chấp nhận.

Vì vậy, lịch sử dân tộc Việt Nam qua 65 năm chép:

<em><strong>Đường lối "kinh tế thị trường, định hướng
xã hội chủ nghĩa" suy xét một cách khoa học là một đường
lối không có cơ sở để trở thành hiện thực; vì vậy nó
đã và đang trở thành nền tảng, trở thành mảnh đất tươi
tốt bậc nhất phát sinh tiêu cực, tham nhũng và rối rắm xã
hội, để cho "cò" ngày một béo tốt. ĐCS Việt Nam càng hô
hào chống nó, nó lại càng phát triển với tính chất ngày
một trắng trợn, tàn bạo hơn, quy mô ngày một lớn hơn. Nó
đích thị là con bệnh đang đau bụng, và để chữa đau bụng,
các thầy lang đã kê đơn "thị trường, định hướng xã
hội chủ nghĩa" những mong cứu gỡ cho nó bằng thuốc cực
bổ, song như một nghịch lý, sợ rằng khát vọng lấy bổ trị
độc không được thực tế chấp nhận sẽ lại cũng chỉ
giống như các vị lang băm Việt Nam thời xưa kê đơn "đau
bụng uống nhân sâm… tắc tử".</strong></em>

Tháng 4.2010

P.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

HD-HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6477), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét