Wolfgang Goethe (1749-1832), rằng Kinh Qur'an là <em>một tấm thảm
ngôn từ được dệt bằng những sợi tơ vĩ tuyệt bất tử
với thời gian</em>. Những năm cuối của thế kỷ trước và
mấy năm đầu của thế kỷ này còn buộc sự trăn trở của
tôi đi xa hơn nữa khi một bộ phận của làn sóng cuồng tín
của Hồi Giáo ngày càng cực đoan, tàn nhẫn. Để hiểu rõ
điều đó, tôi tin rằng khi đọc Kinh Qur'an (KQR), hẳn là lời
giải cho sự không dễ "ngộ" có thể sẽ minh sáng ra phần
nào…
KQR có tất cả 114 chương. Chương (Surah-viết tắt khi dẫn là
S.) dài nhất là chương "Con bò cái tơ" (Al-Baqarah) có 286 câu
– hay còn được coi là "dấu hiệu, phép lạ, bằng chứng,
lời mặc khải" (Âyah-viết tắt khi trích dẫn là A.). Chương
ngắn nhất có 3 câu: "Thời gian" (Al-A'sr); "Một con sông
nơi Thiên Đường" (Al-Kawthar) và chương "Sự giúp đỡ"
(An-Nasr). Tổng cộng 114 Suwar (số nhiều của Surah), 6.232 Âyât
(số nhiều của Âyah).
1. Nếu như Kinh Thánh mong muốn cho các tín đồ <em>adorer</em>
(một từ đa nghĩa: sùng phục, yêu thương, tôn kính, quý
trọng, ngưỡng mộ, tôn thờ…) Đức Chúa Jésuse; thì gần như
ngược lại, Kinh Qur'ân chỉ đòi hỏi các tín đồ một
điều duy nhất: Phải là một Al-Muttaqũn (người ngay thẳng và
nhất thiết phải biết <em>sợ</em> Allah). Đây là điều cơ
bản. KQR khẳng định một tín đồ tốt là tín đồ có taqwa:
Biết <em>sợ</em> Allah; biết giữ mồm, giữ miệng và ngay
thẳng. "Hỡi bầy tôi của TA, hãy sợ TA" (S.39, A.16, tr.951).
"Do đó phải sợ TA" (S.23, A.52, tr.688), "Thiên đường vĩnh
cửu được hứa cấp cho Al-Muttaqũn (S.25, A.15, tr.721). Từ
"sợ" được nhắc lại không ít hơn 500 lần(!)
Tất nhiên, Ngày Phán Xét cuối cùng và Lửa Hoả ngục do Kinh
Thánh đưa ra đầu tiên cũng bao hàm nghĩa đe doạ. Nhưng hai
khái niệm <em>adorer Chúa</em> và <em>sợ Địa ngục</em> được
tách biệt gần như hoàn toàn. Có thể cách hy sinh tuẫn tiết bi
tráng của Jésuse, tự nó đã đủ để thu hút Đức Tin của
các tín đồ. Trong khi ấy, Muhammad có vô khối vợ, nên KQR
không thể không đem nỗi sợ ra để thay thế cho những điều
quá ư trần tục về tình cảm và tinh thần. Đối với vua chúa
hay thủ lĩnh, quan niệm cần dân sợ chứ không cần lắm tình
thương của dân, trở thành một nguyên tắc phổ biến xuyên
suốt nhiều giai đoạn lịch sử ở phương Đông cổ xưa.
2. Trong lịch sử loài người, không thể có một ai có nhiều
danh xưng như Allah. Trong KQR, ngoại trừ Alllah là tên riêng của
Rabb (Thượng Đế), Allah còn có 78 danh xưng khác: Đấng Rất
Mực Độ Lượng(Ar-Rahmân), Đấng Rất Mực Khoan Dung(Ar-Rahim),
Đấng Chủ Tể, Đấng Tuyệt Đối, Đấng Hằng Sống, Đấng
Tự Hữu và Nuôi Dưỡng, Đấng Hằng Quay Lại Tha Thứ, Đấng
Toàn Tri Toàn Năng(Qadir), Đấng Trông Chừng, Đấng Không Ăn -
Không Uống, Đấng Độc Lập, Đấng Cung Dưỡng, Đấng Rất
Đáng Ca Ngợi, Đấng Rất mạnh(Al-Qawi), Đấng Toàn
Năng(Al-Aziz), Đấng Hằng Chịu Đựng, Đấng Thượng Đế Chân
Thật, Đấng Tốt Nhất, Đấng Dẫn Dắt, Đấng Cung Cấp Ưu
Việt, Đấng Hằng Biết, Đấng Hằng Chịu Đựng, Đấng Tối
cao(Al-A'Lâ), Đấng Vĩ Đại, Đấng Hằng Nghe - Hằng Thấy,
Đấng Rất Mực Tinh Tế, Đấng Rất Mực Am Tường, Đấng Rất
Mực Giàu Có, Đấng Che Chở Ưu Việt, Đấng Toàn Lực, Đấng
Tạo Hoá Siêu Việt, Đấng Hoạch Định Siêu Việt, Đấng Chúa
Tể Của Chiếc Ngai Vương Vĩ Đại, Đấng Vô Cùng Sáng
Suốt(Al-Hakim), Đấng Rộng Rãi Bao La, Đấng Hằng Sống, Đấng
Chứng Giám, Đấng Thừa Kế, Đấng Tự Đầy Đủ, Đấng Thọ
Lãnh, Đấng Giám Sát Mọi Việc, Đấng Đại Thẩm Phán Toàn
Năng, Đấng Hằng Ghi Công, Đấng Vô Hình, Đấng Ban Bố,
Đấng Duy Nhất, Đấng Tha Thứ(Gâfir), Đấng Duy Trì Nền Công
Lý, Đấng Duy Nhất Được Khấn Vái, Đấng Tối
Thượng(Al-Qahhâr), Đấng Trông Chừng(Hafiz), Đấng Bảo
Hộ(Awliyâ'), Đấng Che Chở(Wali), Đấng Ban Kinh Sách, Đấng
Rất Mực Nhân Từ(Lalif), Đấng Hằng Cảnh Cáo, Đấng Hằng
Gởi, Đấng Cứu Tinh(Mawlâ), Đấng Quyền Lực Vô Song, Đấng
Đầu Tiên, Đấng Cuối Cùng, Đấng Biểu Hiện, Đấng Ẩn
Tàng, Đấng Thông Thái Khôn Ngoan(Hikmah), Đấng Ban Sự Bằng An,
Đấng Ban Đức Tin, Đấng Bảo Vệ An Ninh, Đấng Toàn năng,
Đấng Không Cưỡng Lại Được, Đấng Tự Hào, Đấng Khởi
Sự, Đấng Hoàn Thiện, Đấng Quyết Định Siêu Việt, Đấng
Hằng Yêu Thương(Al-Wadud), Đấng Chủ Nhân Của Thiên Ân Vĩ
Đại, Đấng Rất Mực Sáng Suốt, Đấng Ban Sự Sống Và Ban
Sự Chết, Đấng Tính Sổ và Đức Vua.
Như vậy, Allah có tất cả 79 tên gọi khác nhau. Chỉ riêng ở
Surah 59, trong 2 Âyât 23 và 24, KQR nhắc đến 9 cái tên khác nhau
của Allah(tr. 1160).
3. Gần như tất cả những nhân vật, địa danh có trong Kinh
Thánh (The Bible) của Thiên Chúa Giáo đều xuất hiện trong KQR
(tất nhiên được phiên âm theo tiếng Arab)như: Ibrâhim là
Abraham, Ya'qub là Jacob, 'Isa là Jésuse, Maryam là Đức Mẹ
Maria, Dáwud là David, Jâlut là Goliath, Nuh là Noé (hay Noah), Musa
là Moise, Fir'aun là Thánh Phéro, Adn là Eden (Vườn Địa
Đàng)…
Nói như thế có nghĩa là KQR có không dưới 80% nội dung giống
với Tân ước và Cựu ước. Cái lấp lánh đáng kể của
Muhammad là dù không biết chữ như chính ông đã thừa nhận:
"<em>Hãy tin nơi Ngài và Sứ giả của Ngài, một Vị Đưa Tin
không biết chữ (Nabi Ummi)</em>" (S.7, A.158, tr. 326); những
điều được ông nói lại thật sự là rất hay. Nhìn từ một
góc độ khác, Allah được đồng nhất, "tuy hai mà một" hay
hai trong một, với The God. Do đó, KQR và The Bible cũng là một!
Sự "nâng cấp" đáng kể của KQR là thừa nhận Jésuse hay
Moise đều là những Sứ giả (Rasũl), hoặc Vị Đưa Tin (Nabi)
của Allah. Tuy nhiên, Muhammad là Vị Tiên Tri và Vị Đưa Tin
cuối cùng (Khâtam an Nabiyyĩn).
4. KQR giới tửu: "<em>Uống rượu và cờ bạc… là những
điều khả ố</em>" (S.5,A.90, tr. 231). Thế nhưng KQR đã tự
mâu thuẫn khi có đến 7 lần mô tả Thiên Đường như là nơi
cho phép uống rượu thoải mái: "<em>Trong những Ngôi vườn
hạnh phúc của Thiên Đàng. Một cốc rượu trong sẽ được
chuyển vòng cho từng người. Trong vắt như pha lê. Ngọt lịm.
Bên cạnh họ là những trinh nữ (Hũri) với mắt to xinh đẹp, e
lệ nhìn chồng. Xinh đẹp như những quả trứng non được giữ
kỹ</em>" (S.37,A.43-49, tr.916). "<em>…có những dòng sông rượu
mà người uống cảm thấy sảng khoái…</em>" (S.46,A.15, tr.
1058). Thậm chí, cụ thể hơn nữa, KQR dường như đã chấp
nhận chuyện uống rượu trong đoạn sau: "<em>Hỡi những ai có
niềm tin! Chớ đến gần việc lễ nguyện (Salâh) khi các
người bị choáng váng (say rượu) trừ phi (tỉnh táo trở lại)
và biết điều ngươi đang nói ra;…</em>"(S.4,A.43, tr.164).
Về nguyên tắc, KQR tuyên bố người đàn ông được lấy 4 vợ
nhưng riêng với Muhammad thì có biệt lệ: "<em>Ngươi hãy
cưới phụ nữ có Đức Tin nào tự hiến mình làm vợ
ngươi…; Điều khoản này đặc biệt dành cho ngươi</em>"
(S.33,A.50, tr.863). Ân sủng đáng kể đó của Allah dành cho
Muhammad có kèm theo lời nhắc nhở rằng "<em>Và nói năng với
họ (đàn bà) lời lẽ nhã nhặn. Bởi việc các người hưởng
lạc từ họ, hãy tặng họ phần tiền…</em>(S.4, A.8-24, tr.153,
158).
5. KQR khuyên mọi người "<em>hãy cùng nhau nắm vững sợi dây
(Islâm)</em>" (S3,A103, tr.124) nhiều nghĩa, xem ra có vẻ rất
giống với quan niệm của Phật Giáo. Kinh Phật nói nhiều đến
Ngũ Uẩn (Rupasaka), mà "uẩn", theo cách hiểu nguyên xưa của
nó là "<em>sợi dây được tết thành bó</em>". Lời cầu
nguyện đầu tiên (thường xuyên) của các tín đồ ngân nga như
một câu thơ: "Sallallahu 'Alayhi Wa Sallam' " – "<em>Xin
Allah ban cho con Phúc lành và sự Bằng an</em>".
Tuy vậy, nếu cố tìm những âyât nhiều tính triết lý thì có
lẽ chúng ta khó có thể có được nhiều sự hài lòng vì chúng
rất ít, mặc dầu rất độc đáo. "<em>Âm thanh khó chịu và
đáng ghét nhất là tiếng hí của một con lừa</em>" (S.31,A.
19, tr.838). "<em>Những lá buồm cày sóng, vượt trùng dương đi
tìm thiên lộc của Ngài</em>" (S.35,A.12, tr.887). "<em>Những
kẻ không tin Ngài không thể kiểm soát nổi ngay cả cái vỏ
của một quả chà là</em>" (S.35,A.13, tr.888). "<em>Há phần
thưởng để thưởng cái tốt không phải là cái tốt hay
sao?</em>" (S.55,A.60,tr.1124). "<em>Họ (những người không có
đức tin) là những kẻ mua đời này với giá của đời
sau</em>" (S.2,A.86, tr.29). "<em>Quả thật, con người được
tạo ra vốn nóng tính và yếu đuối. Hay than van khi gặp điều
dữ. Và keo kiệt khi may mắn, giàu có</em>" (S.70,A.19-21,
tr.1213). "<em>Không một người khuân vác nào sẽ vác giùm gánh
nặng của người khác</em>" (S.39,A.7,tr.949).
6. Cách nhìn nhận về người Do Thái và Kinh Tawrâh (của Đạo
Do Thái) trong KQR là khá khách quan và có không ít những mỹ
từ. Chẳng hạn, KQR khẳng định "<em>Và trước Nó (Qur'ân)
là Kinh sách của Musa (Tawrâh)</em>"(S.46,A.12,tr.1048), "<em>Ánh
sáng quang minh</em>" (S.21,A.48,tr. 648)."<em>Và chắc chắn TA đã
cứu con cháu Isrâ-il khỏi một sự trừng phạt…TA đã chọn
họ trội hơn thiên hạ về kiến thức</em>"
(S,44,A.30-32,tr.1032)."<em>Và TA ban cho Người (Nuh) tin mừng về
Ishâq</em> (tức Isaac) - (sau này thành) <em>một Nabi từ trong
những người đức hạnh</em> (Sâlihun - S.37,A.112,tr.923).
"<em>Và hãy nhớ Nàng Maryam (Đức Mẹ Maria trong Kinh Thánh) là
người đã giữ trọn tiết trinh</em>"(S.21,A.91,tr.655). Thậm
chí, những kẻ cuồng tín nhân danh Allah quên mất rằng, chính
KQR đã đồng ý cho người Do Thái ở vùng Đất Hứa (Éxodus)
ngày nay: "<em>Và sau đó TA phán cho con cháu của Isrâ-il như
sau: Hãy định cư thanh bình trên Đất Hứa. Và khi lời hứa sau
cùng xảy đến, TA sẽ tập trung các ngươi lại, trộn lẫn
với nhau</em>" (S.17,A.104,tr.569).
Về những tội lỗi của những kẻ thiếu đức tin (Do Thái),
không ít lần KQR khuyên nhủ các tín đồ cần phải biết khoan
dung: "<em>Lời nói tử tế và sự tha thứ tốt hơn của bố
thí</em>" (S.1, A.263, tr.88). Tuy vậy, tính mâu thuẫn cũng là
một trong những điều không phải là không phổ biến của KQR.
Trong một đoạn khác viết: "<em>Chớ kết thân với người Do
Thái và tín đồ Thiên Chúa giáo</em>" (S.5,A.51,tr.220).
7. KQR nói không dưới 30 lần về chuyện "ăn nằm" của vợ
chồng, quy định chi tiết ngay cả việc sau khi hai vợ chồng
giận nhau, muốn ăn nằm trở lại thì phải nộp phạt, tẩy
uế như thế nào. Về việc sáng tạo ra con người (Âdam, tức
Adams), ngoài truyền thuyết như Kinh Thánh đã viết ra trước
đó hàng ngàn năm, KQR còn nhấn mạnh đến việc Allah đã thực
hiện cụ thể ra sao. "<em>Ngài đã tạo ra con người từ một
giọt tinh dịch - nutfah</em>" (S.16,A.4, tr.519). Vì nó quá trần
tục nên chúng tôi không muốn dẫn và phân tích thêm vấn đề
đặc biệt nhạy cảm này.
8. Giống như Cựu ước và Tân ước, KQR theo đuổi chủ nghĩa
thực tiễn (thực dụng) một cách tối đa. Sự đền bù hư ảo
như lẽ thường của các tôn giáo là chuyện không phải bàn.
Đoạn trích sau cho biết khá nhiều: "<em>Nếu các ngươi cho
Allah mượn một phần mượn tốt (để đóng góp cho cuộc Thánh
chiến) thì Ngài sẽ gia tăng nó gấp đôi (vào trương mục tín
dụng)…</em>" (S64, A17, tr. 1182). Cuộc Thánh chiến (Jihad) mà
KQR phát động nói rất rõ rằng nếu ai tham gia sẽ có quyền
lấy làm vợ tất cả nữ tù binh "<em>đứng dưới tay
phải</em>" của người đó: "<em>Cấm lấy những phụ nữ
đã có chồng ngoại trừ những nữ tù binh</em>" (không giới
hạn số lượng - HVT - S.4, A.24, tr.159). Trong 4 loại người
được ân sủng của Allah, người tử vì đạo (Shuhadã) được
xếp ở vị trí số một. "<em>Ta sẽ kết hôn họ với những
tiên nữ có đôi mắt to, đẹp, trữ tình… xinh như ngọc trai
được giữ kỹ</em>" (S.52, A.20-24, tr.1096).
Ngay cả điều cấm cũng có thể vi phạm nếu có lý do để
biện minh: "<em>Những ai vì nhu cầu mà bắt buộc phải dùng
những món (thức ăn) cấm đó ngoài ý muốn và không quá độ
thì sẽ không bị tội</em>" (S.2,A.173,tr.55). Việc cho vay lấy
lãi bị nghiêm cấm nhưng nếu lấy lãi ít hơn thì vẫn có
thể(?): "<em>Hỡi những ai có niềm tin! Chớ cho vay ăn lãi
gấp đôi hoặc nhiều hơn</em>" (S.3,A.130,tr.131).
9. Cuộc chiến tranh để phổ biến Đức tin chiếm một phần
lớn câu chữ trong KQR. Con đường duy nhất của những người
có "<em>lòng ngay thẳng và phải biết sợ Allah</em>" (Taqwâh)
chỉ duy nhất có một: Tiến về phía trước. Bởi "<em>Và ai
quay lưng về phía địch…thì chắc chắn rước sự giận dữ
của Allah vào mình và chỗ ngụ của người đó sẽ là Hoả
ngục, một trạm đến cuối cùng rất tệ hại. Bởi thế,
không phải ngươi giết chúng mà chính Allah đã giết</em>"
(S.8,A.16-17,tr.341-342). Chiến đấu để được tử vì đạo là
nguyên tắc bắt buộc: "<em>Trừ phi các người ra đi chiến
đấu, nếu không thì Ngài sẽ phạt các ngươi đau đớn</em>"
(S.9,A.39,tr.368). Hoả ngục được mô tả thật rùng rợn:
"<em>Và không có thức ăn nào khác ngoài chất mủ hôi tanh
được rửa từ vết thương ra…</em>" (S69, A36, tr. 1209).
Kẻ thù của các chiến sĩ tử vì đạo được khu biệt rất
rõ ràng: "<em>Do Thái và những kẻ thờ đa thần (Mushriqũn) là
những người thù hằn người có đức tin dữ dằn nhất…
Hình phạt dùng trừng trị những kẻ tạo chiến tranh chống
lại Allah và Sứ giả của Ngài… chỉ có việc hoặc xử tử,
hoặc đóng đinh trên thập tự giá hoặc chặt tay này và chân
kia hoặc trục xuất ra khỏi lãnh thổ</em>" (S.8,A82,tr.229 và
S.5,A.33,tr.214).
10. KQR không giải thích rõ lý do vì sao Trăng Lưỡi Liềm
được coi là biểu tượng của Hồi giáo. Nhưng ở S.36, A.39,
tr.904 có viết: "<em>Và mặt trăng. Ta quy định cho nó những
giai đoạn mặt nguyệt cho đến khi nó trở lại tình trạng
(lưỡi liềm) cũ giống như "Urijũn" (phần dưới của cây chà
là)</em>". Nếu suy luận thì rất dễ trở thành võ đoán nhưng
chúng tôi mạnh dạn cho rằng việc đồng nhất "phần dưới
của cây chà là" với trăng lưỡi liềm vừa có giá trị
biểu tượng hoá cái cây điển hình của vùng Trung Đông,
đồng thời rất dễ gợi nhớ đến lưỡi gươm cong đặc
trưng của các chiến binh Arab. KQR đã nhắc đến truyền thuyết
Biển Đỏ bị xẻ làm đôi và cũng không ít lần nhắc đến
ngày cuối cùng của loài người là ngày mà trái đất bị chẻ
làm đôi, cũng là "<em>Ngày mà bầu trời sẽ bị chẻ
đôi</em>" (S73, A18, tr.1229). Rõ ràng, trăng lưỡi liềm ẩn dụ
rất rõ hàm ý về hình ảnh khủng khiếp của Ngày Phán Xét
Cuối Cùng!
Mặc Khải (Qur'ân) của Allah nói rằng "<em>Ta không phải là
một bid'a</em>" (Người bịa đặt ra điều mới - S.46, A. 9,
tr.1047). Phải chăng KQR đã không làm thay đổi trật tự cũ? Nó
cũng không đưa đến sự xáo trộn sâu sắc thế giới? KQR tự
cho rằng Nó được sinh ra để ngăn ngừa và trừng phạt tội
ác. "<em>Tội ác xuất hiện trên trái đất và trên biển cả
là vì những hành vi thối nát mà bàn tay của con người đã
làm ra, cho nên (Allah) cho họ nếm (hậu quả) của những điều
mà họ đã làm để may ra họ còn có dịp tỉnh ngộ và quay
về với nẻo chánh</em>" (S.30,A.41,tr.829).
Lời cảnh báo thật đáng sợ. Thực tế lịch sử suốt 1.400
năm qua cho thấy chiến tranh và các loại tội ác vẫn tiếp
tục hoành hành dữ dội trên mặt đất này. "<em>Và chắc
chắn Ta đã tàn phá những thị trấn xung quanh các
người…</em>" (S46, A27, tr. 1052).
Huế, 9.9.2010.
Tel:0914.079.210 & 054.846.623
Email: hathinh@gmail.com
____________________
Dẫn theo: Kinh Qur'an. Người dịch: Hassan Abdul Karim, nxb Tôn
Giáo, Hà Nội, 2001. 1.329 trang.
Chú thích: Shuhadâ: người tử vì đạo. Barzakh: thế giới vô
hình. Al-Ghayb: Đấng Vô Hình. Sujũd: Quỳ mọp xuống đất (lễ
Salâh). Kufr: Phủ nhận Allah. Shaytân: Kẻ thù của loài người.
Tattaqũn: Sợ Allah. Adh: Thoả ước. Malak: Thiên thần (nhiều:
Malâ-Ikah). Jĩbril: Thiên sứ. Izra-ĩl: Thần chết. Khalifah: Uỷ
viên, Người đại diện. (Adâm, Muhammad…). Sajada: Mọp đầu
phủ phục, phụng mệnh. Jinn: tạo ra từ lửa. Iblis: tượng
trưng cho sự tự cao, tự đại; Shaytân: tượng trưng cho dối
trá, cám dỗ. Tâba, Tawbah: Sám hối. Isra-ĩl: Chiến sĩ hay bầy
tôi của Allah. Salâh và Zakâh: lễ nguyện và nộp thuế; hai
điều cơ bản nhất của Qu'ran. Đền Ka'bah. Sabr: Kiên
định lập trường. Hajj: Lế Hadji. Birr Đạo đức. Qisâs: Trả
thù. Az-Zalimân: Kẻ làm điều sai quấy. Tágũt: Tà thần.
Sadaqah: Bố thí. Furqũn: Chuẩn mực. Dĩn: Chính đạo. Âlamĩn:
Giỏi hơn thiên hạ. Hasũr: Người trong sạch.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6422), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét