</h2>
Các tư tưởng lập hiến hiện đại đều coi Hiến pháp như
một văn bản có sứ mệnh xác lập chế độ mới thay thế
chế độ cũ và coi nó như là một bản khế ước xã hội của
nhân dân.
<div class="boxright300"><img
src="http://img716.imageshack.us/img716/2382/danluanorg003.jpg" /></div>
Hiến pháp của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ năm 1787 được coi là
bản Hiến pháp thành văn đầu tiên trong lịch sử lập hiến
hiện đại. Trước khi có Hiến pháp, Hoa Kỳ đã có các bản
kiến ước của một số tiểu bang và đặc biệt là Tuyên ngôn
Độc lập ngày 4/7/1776. Chính vì vậy mà từ đó người ta
thường gắn Hiến pháp với sự kiện lập quốc và coi Hiến
pháp là biểu tượng của nền độc lập. Đó cũng là cách
hiểu về Hiến pháp của người sáng lập ra Nhà nước Việt
Nam Dân chủ cộng hoà, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên
ở Đông Nam Á - Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
<em>"Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai
trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế,
nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được
hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp
dân chủ"</em>[1]. Việc ban hành Hiến pháp của nước Việt Nam
Dân chủ cộng hòa vào ngày 9/11/1946 không lâu sau ngày Tuyên
ngôn độc lập ngày 2/9/1945 là sự khẳng định mạnh mẽ về
mặt pháp lý chủ quyền quốc gia của nhân dân Việt Nam, sự
độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam Dân chủ
cộng hoà.
Xét về bản chất, Hiến pháp vừa là văn bản pháp lý của
Nhà nước, vừa là bản khế ước mang trong mình nó ý chí chung
của xã hội. Vì vậy, khi nói đến Hiến pháp, chúng ta phải
nhìn nhận ở cả hai mặt - bản chất pháp lý và bản chất xã
hội của nó.
<strong><em>Bản chất pháp lý của Hiến pháp được thể hiện
ở vị trí của nó với tính cách là Luật cơ bản của Nhà
nước</em></strong>
<em>Tính cơ bản của Hiến pháp</em> trước hết thể hiện ở
chỗ, Hiến pháp không điều chỉnh mọi loại quan hệ xã hội
hiện hữu mà chỉ điều chỉnh những quan hệ chủ đạo nhất,
chính yếu nhất, có tính nguyên tắc và tính nền tảng nhất.
Nói khác đi, Hiến pháp phải phản ánh, bảo đảm và bảo vệ
những lợi ích sống còn của các lực lượng xã hội làm nền
tảng pháp lý cho đường lối chính trị chủ đạo nhằm phát
triển đất nước và xã hội.
Xem xét Hiến pháp của các nước trên thế giới cho thấy, các
quan hệ xã hội chủ đạo mà Hiến pháp điều chỉnh bao gồm:
chế độ xã hội và chế độ nhà nước, vị trí pháp lý của
con người, của công dân, vị trí của quốc gia trong cộng
đồng quốc tế.
Ngoài những điểm chung và phổ biến nhất, mỗi một quốc gia
sẽ xác định cho mình quan hệ xã hội nào là quan hệ mang tính
nền tảng và cơ bản. Có thể, một loại quan hệ được coi
là nền tảng, là cơ bản và trở thành đối tượng điều
chỉnh của Hiến pháp ở một quốc gia này, lại không được
coi là cơ bản và nền tảng ở một quốc gia khác.
Tính cơ bản của Hiến pháp cũng có ý nghĩa rằng,
<strong><em>Hiến pháp là nền tảng pháp lý, căn cứ chủ đạo
đối với việc ban hành toàn bộ các văn bản pháp lý
khác</em></strong> của Nhà nước, là cơ sở định hướng hoạt
động của tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính
trị - xã hội cũng như hành vi và ý thức pháp luật của công
dân. Vì vậy, Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao
nhất, tất cả các văn bản khác đều phải phù hợp với
Hiến pháp. Do tính chất pháp lý đặc biệt đó mà Hiến pháp
có <em>tính ổn định cao nhất</em> so với tất cả các văn
bản pháp lý khác. Việc ban hành, sửa đổi Hiến pháp luôn
luôn đòi hỏi những <em>thủ tục chặt chẽ nhất</em>, bảo
đảm <em>sự thận trọng nhất</em>.
<em><strong>Bản chất xã hội của Hiến pháp</strong></em>
Chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm về bản chất của pháp luật
nói chung cũng như của Hiến pháp nói riêng trên cơ sở nhìn
nhận bản chất giai cấp của nó: Hiến pháp là của ai? Phục
vụ cho lợi ích của giai cấp (hoặc các giai cấp) nào? Hiến
pháp được tạo ra vì một trật tự xã hội theo định hướng
giai cấp nào? Đó chính là quan điểm phương pháp luận kinh
điển của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin mà các vị
ấy đã sử dụng khi đánh giá về các bản Hiến pháp đương
thời. Theo đó, mọi Hiến pháp đều là sản phẩm của đấu
tranh giai cấp, đều là công cụ mà giai cấp hoặc liên minh
chính trị sử dụng để khẳng định và duy trì sự thống
trị của mình[2].
Quan điểm giai cấp về Hiến pháp của C.Mác và Ăng-ghen được
Ph.Lassal, nhà cách mạng xã hội Đức (1825-1864) tiếp thu trên
cơ sở đối chiếu giữa bản tính pháp lý và bản tính xã
hội thực tế của Hiến pháp. Theo ông, bản chất xã hội của
Hiến pháp là ở cái bản tính thực tế của nó, nói cách
khác, đó là sự phản ánh sự tương quan của các lực lượng
xã hội. Một bản Hiến pháp thành văn chỉ có sự vững chắc
và có ý nghĩa khi nó là sự phản ánh chính xác mối tương quan
thực tế của các lực lượng xã hội[3].
Cùng quan điểm với Ph.Lassal nhưng trực diện hơn, V.I.Lênin đã
viết: <em>"Bản chất của Hiến pháp là ở chỗ các đạo
luật cơ bản của nhà nước nói chung và các đạo luật về
quyền bầu cử các cơ quan đại diện, về chức năng của các
cơ quan đó v.v.. đều thể hiện mối tương quan thực tế của
các lực lượng trong đấu tranh giai cấp"</em>[4]. Quan điểm
giai cấp của C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.I.Lênin và của các nhà cách
mạng xã hội châu Âu đã phản ánh đúng thực chất sự ra
đời của các Hiến pháp đương thời. Và trên cơ sở quan
điểm tiếp cận mang tính giai cấp đó, các nhà sáng lập chủ
nghĩa Mác cũng đã thấy rõ giá trị to lớn của những bản
Hiến pháp dân chủ lúc bấy giờ trong quá trình đấu tranh
chống chế độ chuyên chế, đề cao phẩm giá con nguời, các
quyền về tự do cá nhân. Hiến pháp năm 1787 của Hoa Kỳ là
sự ghi nhận việc giành chính quyền của giai cấp tư sản và
các dân tộc ở một thuộc địa từ chế độ quân chủ Anh
quốc. Hiến pháp năm 1789 của nước Pháp đã phản án sự cáo
chung của các đặc quyền thuộc về tầng lớp quý tộc và nhà
thờ. Hiến pháp năm 1918 của nước Nga Xô viết đã lập nên
<em>"nền chuyên chính của giai cấp vô sản"</em>. Những bản
Hiến pháp về sau này cũng là kết quả của những cuộc đấu
tranh cách mạng chống lại ách áp bức của chủ nghĩa thực
dân và ách thống trị phong kiến. Chính Hiến pháp năm 1946 của
Việt Nam trong Lời nói đầu đã nói rất rõ điều đó:
<em>"Sau 80 năm tranh đấu, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi
vòng áp bức của chính sách thực dân, đồng thời đã gạt
bỏ chế độ vua quan. Nước nhà đã bước sang một quãng
đường mới"</em>; <em>"Quốc hội nhận thấy rằng Hiến
pháp Việt Nam phải ghi lấy những thành tích vẻ vang của cách
mạng"</em>.
Tuy nhiên, nhìn vào thực tiễn của lịch sử lập hiến trên
thế giới có thể nhận thấy rằng, việc xác nhận bản chất
của Hiến pháp chỉ từ góc độ lợi ích giai cấp là rất
đúng đắn, nhưng chưa đủ. Hiến pháp ghi nhận và thể hiện
những lợi ích cơ bản và sống còn của giai cấp thống trị
hoặc của một tầng lớp xã hội nổi trội nhất trong xã
hội. Nhưng Hiến pháp, cũng như bản thân quyền lực nhà
nước, cũng luôn luôn là cơ sở pháp lý của toàn xã hội
<em>nhằm ghi nhận và thể hiện những lợi ích tương hợp của
các tầng lớp xã hội, lợi ích chung của nhân dân, của dân
tộc</em>, đương nhiên ở đó luôn luôn có tính đến và trên
thực tế phải tính đến lợi ích và ý chí của tầng lớp,
của giai cấp là lực lượng xã hội chủ đạo trong từng
thời kỳ lịch sử nhất định. Cũng vì thế mà những khái
niệm "nhân dân", "dân tộc" luôn luôn là những khái
niệm mở đầu cho các bản Hiến pháp.
Bản chất xã hội của các Hiến pháp ngày nay phản ánh một
giai đoạn mới của chủ nghĩa lập hiến hiện đại. Theo đó,
các quốc gia cố gắng tìm kiếm những phương thức thể hiện
lợi ích vì một sự <em>đồng thuận xã hội</em> để phát
triển, nhất là trong bối cảnh xung đột sắc tộc, tôn giáo,
chính trị, kinh tế, đang có chiều hướng gia tăng ở nhiều
khu vực trên thế giới. Vì vậy, Hiến pháp đã được trao
trở lại sứ mệnh của một bản khế ước về mặt pháp lý
của các lực lượng xã hội mà đối tượng điều chỉnh
trọng tâm là sự thoả hiệp lợi ích giữa các giai tầng xã
hội, các lực lượng xã hội. Mức độ của sự tương hợp
lợi ích có thể rất khác nhau và đó là cơ sở để mỗi bản
Hiến pháp xác định cho mình phương pháp điều chỉnh hợp lý.
Các mức độ đó có rất nhiều loại. Đó có thể là sự liên
minh của các lực lượng tuy có khuynh hướng chính trị và lợi
ích khác nhau nhưng thân thiện và hợp tác hữu nghị; cũng có
thể đó là sự thoả hiệp ở những lợi ích nhất định của
các lực lượng đối lập nhau và vì vậy, sự thoả hiệp xã
hội được Hiến pháp ghi nhận là kết quả của quá trình
vừa đấu tranh, vừa hợp tác giữa các lực lượng xã hội.
Lẽ đương nhiên, phản ánh mối quan hệ như vậy, Hiến pháp
không thể chỉ đứng về phía lợi ích của một lực lượng
mà luôn phải tìm thế cân bằng về lợi ích, mặc dù trên
thực tế ở bất kỳ quốc gia và dân tộc nào thì trong xã
hội luôn luôn có những lực lượng, những lợi ích giữ vị
trí ưu thế.
Bản chất xã hội của Hiến pháp thể hiện ở chỗ nó chính
là <em>sự ghi nhận và thể hiện những giá trị xã hội</em>
được toàn xã hội và nhân dân chấp nhận và chia sẻ. Đó là
các giá trị như Tự do, Công bằng, Bình đẳng, Dân chủ, Nhân
quyền, Chủ nghĩa cá nhân, Chủ nghĩa tập thể, Chủ nghĩa dân
tộc v.v.. Sự phát triển của văn minh nhân loại đã góp phần
chuẩn hoá và kết tinh các giá trị xã hội giúp các quốc gia
lựa chọn các giá trị ưu tiên trên con đường phát triển
của mình. Chẳng hạn, trong những năm 60 - 70, kế đó là thời
kỳ năm 80 - 90 của thế kỷ XX, cộng đồng quốc tế, thông qua
các văn kiện của Liên hợp quốc, đã đặc biệt nhấn mạnh
đến giá trị ưu tiên hàng đầu là quyền con người, nâng nó
lên thành quan điểm: <em>"Con người, các quyền tự do của con
người là giá trị cao quý nhất"</em>[5]. Quan điểm đó đã
được phản ánh trong hầu hết các bản Hiến pháp ra đời
hoặc được sửa đổi trong thời kỳ đó và các thời kỳ
tiếp theo.
Ở Việt Nam, Hiến pháp cũng đã phát triển theo hướng phản
ánh những giá trị cao quý của dân tộc, của nhân dân. Đó là
truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng
để dựng nước và giữ nước, truyền thống đoàn kết, nhân
nghĩa, kiên cường bất khuất (Lời nói đầu, Hiến pháp năm
1992); <em>"dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh", "ấm no, tự do, hạnh phúc", con người "có
điều kiện phát triển toàn diện"</em> (Điều 3 Hiến pháp
năm 1992)
<h2>2. Đặc trưng và chức năng của Hiến pháp</h2>
<strong><em>2.1 Đặc trưng của Hiến pháp</em></strong>
Nói đến các đặc trưng của Hiến pháp, người ta phân biệt
các đặc trưng về pháp lý, về chính trị, về tư tưởng.
<em>Đặc trưng về mặt pháp lý</em>, như đã nói ở trên, Hiến
pháp được coi là Luật cơ bản của Nhà nước, có giá trị
và vị trí pháp lý cao nhất, việc ban hành và sửa đổi phải
tuân theo một trình tự đặc biệt.
Khi nói đến Hiến pháp, một trong những tố chất thường
được nhắc đến là tính ổn định cao của nó. Tuy nhiên,
đặc trưng này cũng đã cho thấy những ngoại lệ. Chẳng hạn,
từ năm 1811 đến nay, Venezuela đã lần lượt có 40 lần ban
hành Hiến pháp, tức là cứ 5 - 6 năm thì có một Hiến pháp
mới, thường là khi có Tổng thống mới, mặc dù nội dung
Hiến pháp ít có gì mới. Thái Lan cũng là nước hay sửa đổi
Hiến pháp. Ở Liên Xô trước đây, bản Hiến pháp năm 1977
cũng đã có hàng trăm sửa đổi. Hiến pháp năm 1958 của Cộng
hòa Pháp, Hiến pháp năm 1949 của Cộng hòa Liên bang Đức cũng
tương tự. Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 trong khoảng 220 năm tồn
tại đã có 27 lần bổ sung và điều khoản thay thế. Chỉ có
Hiến pháp năm 1946 của Nhật Bản là chưa có sự sửa đổi,
bổ sung nào.
<em>Đặc trưng về chính trị</em> của Hiến pháp phản ánh tính
chất của những quan hệ được Hiến pháp điều chỉnh. Tính
chất chính trị của Hiến pháp phụ thuộc trước hết vào
đặc điểm của đường lối chính trị của đất nước,
đặc điểm của hệ thống chính trị, tổ chức của quyền
lực nhà nước. Ở các quốc gia khác nhau, tính chất chính trị
của Hiến pháp thường phụ thuộc nhiều vào vai trò của các
đảng chính trị trong xã hội cũng như của các chế định dân
chủ trực tiếp quan trọng như chế độ bầu cử, trưng cầu ý
dân, vị trí, vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong
cơ cấu xã hội.
<em>Đặc trưng tư tưởng</em> của Hiến pháp thể hiện ở chỗ
hầu hết đều mang trong nội dung của nó một hệ tư tưởng
nhất định. Tính tư tưởng hệ đó được thể hiện thông qua
các nguyên tắc được Hiến pháp ghi nhận, trong những quy phạm
mang tính định hướng mục tiêu và cương lĩnh hoặc thậm chí
Hiến pháp xác định một cách rõ ràng một hệ tư tưởng chủ
đạo. Tuy nhiên, phần lớn nội dung và định hướng tư tưởng
của Hiến pháp chỉ có thể thấy được trên cơ sở phân tích
những ý niệm được cài đặt vào các nguyên tắc, quy phạm
của Hiến pháp. Khi nói về Hiến pháp Hoa Kỳ, nhiều tác giả
thường gọi đó là một bản Hiến pháp "phi tư tưởng điển
hình". Thế nhưng, tính chất tư tưởng hệ của nó được
bộc lộ trong các tuyên bố về chủ quyền của nhân dân và
chế độ cộng hoà (mà không phải là quân chủ), việc duy trì
chế độ nô lệ đối với người da đen[6] v.v..
Có thể nói, bất kỳ một bản Hiến pháp nào cũng đều có
vị trí dẫn dắt quan trọng đối với nhận thức của những
người lãnh đạo quốc gia và đối với công dân. Đó chính là
giá trị tư tưởng của nó.
<strong><em>2.2 Chức năng của Hiến pháp</em></strong>
Chức năng chung nhất của Hiến pháp là hợp pháp hoá ở mức
cao nhất cơ sở tồn tại của một chế độ xã hội, chế
độ nhà nước, một trật tự các quan hệ xã hội. Hiến pháp
nào cũng vậy, dù đó là Hiến pháp tốt hay Hiến pháp xấu,
dân chủ hay phi dân chủ, đều có chức năng bảo đảm tính
hợp pháp cao nhất cho chế độ xã hội và chế độ nhà
nước, xác định địa vị pháp lý chung nhất của cá nhân,
của tập thể.
Chức năng thứ hai của Hiến pháp là quy định cơ sở xuất
phát điểm và định hướng cho quá trình phát triển và hoàn
chỉnh các chế định pháp lý, tạo khuôn khổ pháp lý chung cho
toàn bộ hệ thống pháp lý. Có thể gọi đó là chức năng
sáng tạo và phát triển của Hiến pháp. Những quy định của
Hiến pháp về mục tiêu phát triển đất nước, những bảo
đảm pháp lý cho quyền và tự do của con người và của công
dân có khả năng định hướng cho hoạt động của Nhà nước
và hành vi của cá nhân, làm cơ sở chung cho việc bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của cá nhân và
tập thể.
Chức năng thứ ba của Hiến pháp là chức năng ổn định hoá
các quan hệ xã hội. Bản thân Hiến pháp là văn bản có tính
ổn định cao, do vậy khả năng của nó trong việc bảo đảm
sự ổn định của các quan hệ xã hội, các thiết chế chính
trị và Nhà nước cũng như các định chế xã hội và sự an
toàn pháp lý cho cá nhân, cho xã hội là rất lớn.
<h2>3. Các mô hình Hiến pháp</h2>
Sự hiện diện của một Hiến pháp luôn luôn là hiện thân
của những tư tưởng lập hiến nhất định, là kết quả của
sự phát triển những tư tưởng đó. Đó là những tư tưởng
về dân chủ, về quyền con người, về tính chất của quyền
lực và giới hạn của quyền lực, về cách thức tổ chức
quyền lực hợp lý, về vai trò và mối liên hệ giữa nhà
nước và xã hội, nhà nước và cá nhân, về vị trí của
quốc gia trong cộng đồng quốc tế.
Chủ nghĩa lập hiến đòi hỏi sự hiện diện của Hiến pháp
và vai trò điều chỉnh của Hiến pháp đối với các quá trình
và quan hệ xã hội.
Theo đó, Hiến pháp chỉ cần thiết và phải "có mặt" trong
những bước ngoặt của quá trình phát triển xã hội nhằm
khẳng định, hợp pháp hoá một giai đoạn mới của sự phát
triển đó. Đồng thời, sự ra đời của Hiến pháp cũng phản
ánh một thế giới quan hay một mức độ khác hơn của ý thức
chính trị và pháp lý về tiến trình phát triển đất nước.
Nó tạo ra những định hướng cho tương lai, "vẽ" nên sơ
đồ của các định hướng phát triển mới.
Ra đời trong những bước ngoặt như vậy, <em>Hiến pháp không
thể đóng vai trò một văn bản của bất kỳ sự thay đổi nào
đơn lẻ hay ở một hay một số lĩnh vực nào của đời sống
xã hội mà là của một quá trình thay đổi lớn lao, có ý
nghĩa quan trọng đối với nhân dân, đối với dân tộc, đối
với đất nước</em> và giai đoạn ổn định hoá của nó đã
đến, đã đặt ra nhu cầu về một bản văn có giá trị sự
ổn định hoá cao là Hiến pháp.
Trong phạm vi toàn thế giới, với nhận thức như trên về
thời điểm lịch sử của Hiến pháp và sứ mệnh lịch sử
của nó, chúng ta có thể chứng kiến một hành trình phát
triển của các mô hình hiến pháp.
<strong><em>Mô hình thứ nhất</em></strong> ra đời trong kết quả
của bão táp cách mạng tư sản chống cường quyền và giành
chính quyền từ tay giai cấp phong kiến. Nền tảng chủ đạo
của nó là tư tưởng đấu tranh chống chế độ chuyên chế
chà đạp con người và các quyền cơ bản của con người, đòi
hỏi thực hiện các quyền và tự do mang bản chất tự nhiên
và không thể tước đoạt của con người; đòi hỏi về một
chế độ cai trị dân chủ dưới hình thức chính thể cộng
hoà, chế độ đại nghị, thực hiện quyền bầu cử hạn
chế. Cốt lõi của tư tưởng lập hiến chủ đạo lúc bấy
giờ là mối liên hệ quyền lực - quyền con người - nền dân
chủ hạn chế. Bên cạnh đó là những đòi hỏi về giới hạn
của quyền lực trong việc can thiệp vào đời sống của xã
hội dân sự, ghi nhận những giá trị được khẳng định là
tự do, bình đẳng, quyền tư hữu, quyền tự nhiên của con
người. Những văn kiện có tính hiến ước của cách mạng
Pháp lúc đó còn có khái niệm "tình hữu ái của mọi người
trong cuộc đấu tranh chung chống chế độ chuyên chế". Mô
hình Hiến pháp của thời kỳ này có thể được coi là mô
hình Hiến pháp tư sản tự do, tập trung chủ yếu vào việc
chế định các quyền con người, hạn chế quyền lực thông qua
việc quy định về tổ chức quyền lực nhà nước. Các quy
định mang màu sắc dân chủ về mặt chính trị chiếm vị trí
rõ nét và chủ đạo. Chưa có bóng dáng của lĩnh vực dân chủ
về xã hội cũng như các quyền và tự do về kinh tế - xã hội
như quyền về lao động, nghỉ ngơi, hưu trí, trợ cấp, giáo
dục, y tế, văn hoá v.v..
<strong><em>Mô hình thứ hai</em></strong> của Hiến pháp ra đời
sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 với sự
thành lập Nhà nước Xô viết. Dưới ảnh hưởng của các tư
tưởng xã hội ở châu Âu và Mỹ - Latin đã xuất hiện trào
lưu của một chủ nghĩa lập hiến xã hội. Theo đó, Hiến pháp
của nhiều quốc gia đã quan tâm đặt ra mục tiêu nâng cao
đời sống về kinh tế, xã hội và văn hoá cho nhân dân, xác
định những đòi hỏi về công bằng xã hội, về chức năng
xã hội của chế độ tư hữu. Do vậy, có thể gọi đây là
mô hình Hiến pháp dân chủ theo định hướng xã hội.
<strong><em>Mô hình thứ ba</em></strong> của Hiến pháp là mô hình
của giai đoạn phát triển hiện nay của chủ nghĩa lập hiến
hiện đại. Mô hình đó phản ánh đặc điểm chủ yếu của
một thời đại mới: thời kỳ hậu công nghiệp, thời đại
thông tin với những đòi hỏi về một xã hội cởi mở, dân
chủ và tiến bộ, công bằng hơn. Những đòi hỏi đó không
chỉ phản ánh bước tiến mới của nhân loại, cách nhìn nhận
mới của các dân tộc mà còn nhằm tạo ra những khả năng và
những bảo đảm chắc chắn hơn trước những thách thức mới
của thời đại với những "căn bệnh" mới của xã hội
hiện đại như sự phân hoá giàu nghèo, tệ quan liêu, nạn tham
nhũng và tội phạm.
Đứng trước tình hình đó, Hiến pháp đóng vai trò khẳng
định những giá trị bất biến và tiến bộ mà các thế hệ
con người đã khó khăn lắm mới giành và tạo được như chế
độ đa sở hữu, tự do kinh doanh, dân chủ và quyền lực của
nhân dân, các quyền kinh tế - xã hội, đặc biệt là quyền
của các nhóm xã hội yếu thế và thiểu số; nguyên tắc phân
quyền và sự kiểm soát đối với quyền lực, khả năng tiếp
cận thông tin và tiếp cận công lý, sự độc lập và vai trò
nổi trội của Toà án; chế độ tự quản địa phương v.v..
<h2>4. Mức độ và phương pháp điều chỉnh của Hiến pháp</h2>
Có thể nói rằng, mức độ điều chỉnh của các Hiến pháp
trước hết do mô hình Hiến pháp quyết định. Nói cách khác,
quan niệm về sứ mệnh của Hiến pháp ở mỗi thời kỳ là
yếu tố quyết định phạm vi đối tượng điều chỉnh của
nó.
Hiến pháp là Luật cơ bản - điều đó không có ai tranh luận
và có ý kiến khác. Tuy nhiên, trong các hệ thống pháp luật
khác nhau thì không phải mọi quan hệ xã hội mang tính cơ bản,
nền tảng đều chỉ do Hiến pháp điều chỉnh. Như vậy có
nghĩa rằng, bên cạnh Hiến pháp và cùng với Hiến pháp còn có
thể có những văn bản khác điều chỉnh các quan hệ mang tính
hiến ước. Ở đây dường như có một sự "phân công"
điều chỉnh giữa các đạo luật lớn. Tất nhiên sự "phân
công" ấy chắc chắn là do điều kiện lịch sử cụ thể
của thời điểm ra đời của Hiến pháp quyết định và, như
đã nói ở trên, nó được quyết định bởi những quan niệm
về sứ mệnh và chức năng của Hiến pháp trong đời sống xã
hội và nhà nước.
Do đó, các bản Hiến pháp có thể được chia thành hai loại:
Hiến pháp có phạm vi điều chỉnh hẹp và Hiến pháp có phạm
vi điều chỉnh rộng. Loại thứ nhất đặc trưng cho các Hiến
pháp lâu đời như Hiến pháp Hoa Kỳ, Hiến pháp Na Uy. Chẳng
hạn, Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 cùng với 27 bản tu chính án
cũng chỉ hạn chế trong phạm vi điều chỉnh các vấn đề về
tổ chức nhà nước (hình thức chính thể, chế độ liên bang,
tổ chức, hoạt động và chức năng, thẩm quyền của các cơ
quan nhà nước) và các quyền con người, quyền công dân. Các
nhà hiến pháp học gọi đó là loại "Hiến pháp công cụ"
(Instrumental constitution). Trong những trường hợp đó, bên cạnh
Hiến pháp còn có khá nhiều đạo luật chủ yếu khác điều
chỉnh các vấn đề quan trọng của đời sống xã hội.
Trong khi đó, loại Hiến pháp thứ hai có phạm vi rộng nhằm
điều chỉnh không chỉ các vấn đề tổ chức nhà nước,
quyền con người, quyền công dân mà cả các vấn đề kinh tế
- xã hội. Người ta gọi đó là các "Hiến pháp xã hội".
Những bản Hiến pháp này ra đời từ sau Thế chiến lần thứ
nhất và đặc biệt là sau Thế chiến lần thứ hai. Khởi đầu
là Hiến pháp Mexico năm 1917, sau đó là Hiến pháp Weima của
Cộng hòa Liên bang Đức năm 1919, điều chỉnh các vấn đề
kinh tế - xã hội, như đất đai, vấn đề độc quyền, lao
động, các thiết chế như nhà thờ, trường học v.v.. Sự
điều chỉnh ở một phạm vi rộng như vậy xuất phát từ đòi
hỏi ghi nhận và củng cố những thành quả của cách mạng mang
màu sắc chống phong kiến và đế quốc ngoại bang.
Sau Thế chiến lần thứ hai, các bản Hiến pháp, trước hết
là Hiến pháp của các nước xã hội chủ nghĩa hầu hết có
phạm vi điều chỉnh rộng. Cách tiếp cận ấy thoả mãn đòi
hỏi và mong muốn của quảng đại các tầng lớp nhân dân.
Bởi vì trên thực tế, người dân ít quan tâm hơn đến các
vấn đề tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước
so với các vấn đề xã hội, các vấn đề dân sinh của họ.
<em>Phương pháp điều chỉnh của Hiến pháp</em> cũng là dấu
hiệu đặc thù, qua đó ta có thể thấy được rõ hơn tính
chất đặc biệt của Hiến pháp với tính cách là Luật cơ
bản của nhà nước. Để điều chỉnh các quan hệ xã hội ở
đúng tầm của nó, Hiến pháp thường sử dụng các quy phạm
có tính khái quát cao phản ánh mối quan hệ chung giữa cá nhân,
tập thể, nhà nước và xã hội, xử lý mối quan hệ ấy bằng
các quy phạm nguyên tắc vì thực chất của những mối liên
hệ ấy là những mối liên hệ mang tính nguyên tắc. Chẳng
hạn, Điều 2 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1992 là một quy phạm mang tính nguyên tắc
nói lên mối quan hệ giữa nhân dân và nhà nước, theo đó nhân
dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Điều 2 của Hiến
pháp cũng đưa ra một nguyên tắc cho việc tổ chức quyền lực
nhà nước: <em>"Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự
phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp"</em>.
Ở một mức độ khái quát gần với quy phạm nguyên tắc là
các quy phạm mục tiêu cũng được sử dụng khá phổ biến
trong các Hiến pháp. Chẳng hạn, Hiến pháp Nhật Bản năm 1946
xác định: <em>"Chúng tôi muốn có một vị trí xứng đáng
trong cộng đồng quốc tế"</em>. Lời nói đầu của Hiến
pháp Cộng hoà nhân dân Trung Hoa khẳng định mục tiêu đưa
đất nước <em>"thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa có
trình độ văn minh và dân chủ cao"</em>. Hiến pháp năm 1992
của Việt Nam tại Điều 3 đã đưa ra cam kết "không ngừng
phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc,
có điều kiện phát triển toàn diện".
Tuyệt đại đa số các quy phạm được sử dụng trong Hiến
pháp là các quy phạm mang tính quy tắc. Đó là quy tắc về mối
quan hệ về quyền con người, về quyền và nghĩa vụ của công
dân; quy tắc về thẩm quyền của các cơ quan và cá nhân như
Tổng thống, Nghị viện, Chính phủ, v.v.. Có hai loại quy tắc:
quy tắc vật chất và quy tắc thủ tục. Quy tắc vật chất có
vị trí chủ yếu, bao gồm quy tắc về thẩm quyền hoặc về
trách nhiệm như quyền phủ quyết của Tổng thống, quyền
chất vấn của Nghị viện, trách nhiệm của Tổng thống ký và
công bố luật khi quyền phủ quyết của mình đã không được
Quốc hội chấp thuận v.v.. Các quy tắc thủ tục thường
được quy định đối với các trường hợp quan trọng như
thủ tục luận tội, thủ tục chất vấn, điều trần trước
Quốc hội; các thủ tục khác thường do Quy chế làm việc
điều chỉnh.
<em>Quy phạm định nghĩa</em> cũng là quy phạm đặc trưng của
Hiến pháp. Chẳng hạn, tất cả các điều đầu tiên của các
quy phạm về các cơ quan quyền lực nhà nước đều phải sử
dụng định nghĩa. Ví dụ, Điều 109 Hiến pháp Việt Nam hiện
hành xác định: "Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc
hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam"
Có thể nói rằng, về số lượng, các quy phạm định nghĩa,
quy phạm quy tắc luôn chiếm đa số các quy phạm của Hiến
pháp. Nhưng về mặt vai trò và ý nghĩa thì trước hết thuộc
về các quy phạm nguyên tắc, quy phạm mục tiêu. Đấy chính là
các quy phạm có khả năng nêu bật được tính chất và ý
nghĩa của Hiến pháp, bởi vì đại đa số dân chúng cần đến
Hiến pháp bởi những quy định đó nhiều hơn so với những
điều cần biết về cơ cấu của Nghị viện, thời hạn ký và
ban bố luật v.v.. Tuy nhiên, xử lý mức độ cần và đủ của
các loại quy phạm là rất cần thiết để một mặt bảo đảm
Hiến pháp là văn bản chính trị, pháp lý cơ bản nhất, khái
quát nhất; mặt khác, không biến nó thành một bản cương lĩnh
với những quy định mang tính tuyên ngôn mà vẫn là một đạo
luật của nhà nước.
Việc sử dụng đúng mức các quy phạm nói trên của Hiến pháp
còn được lý giải bởi nhu cầu áp dụng Hiến pháp và giải
thích Hiến pháp. Đòi hỏi của nền dân chủ, mong muốn của
dân chúng và nói chung là nguyên tắc pháp quyền đặt ra nhu
cầu Hiến pháp cần phải được áp dụng trực tiếp. Chính vì
vậy, các quy định của nó phải đáp ứng được yêu cầu cho
việc áp dụng trực tiếp và bảo đảm để sự giải thích
được chính xác.
Xét từ phương diện tính chất của các quy phạm, Hiến pháp,
với tính cách là một đạo luật tổng quát mang đầy đủ
trong mình nó những phương pháp điều chỉnh của pháp luật:
phương pháp khuyến khích, phương pháp cho phép, phương pháp
bảo vệ, phương pháp buộc thực hiện, phương pháp yêu cầu,
phương pháp cấm, phương pháp truy cứu trách nhiệm.
<em>Phương pháp khuyến khích</em> được sử dụng nhằm khuyến
khích phát triển một loại quan hệ hay hoạt động nhất định
mà nhà lập hiến mong muốn thông qua việc đặt ra những điều
kiện có lợi cho người áp dụng. Chẳng hạn, Điều 38 Hiến
pháp Việt Nam năm 1992 quy định: <em>"Nhà nước đầu tư và
khuyến khích tài trợ cho khoa học bằng nhiều nguồn vốn khác
nhau, ưu tiên cho những hướng khoa học, công nghệ mũi
nhọn"</em>.
<em>Phương pháp cho phép</em> cũng có tính chất khuyến khích,
nhưng ở một mức độ không cao như phương pháp khuyến khích.
Mục đích của việc đưa ra các quy phạm này là tạo những
điều kiện cho cá nhân và tổ chức tự thực hiện các quy
định của Hiến pháp và pháp luật. Các quy định thường
được áp dụng là thông qua các khái niệm: "có thể", "có
quyền", "được"... làm một điều gì đó, chẳng hạn,
công dân có quyền tự do lập hội, tự do ngôn luận.
<em>Phương pháp bảo vệ</em> nhằm mục đích thể hiện chức
năng bảo vệ của nhà nước đối với những lĩnh vực cụ
thể. Các quy phạm bảo vệ thường được bắt đầu từ các
từ "bảo vệ", "bảo đảm", "bảo hộ". Chẳng hạn,
Điều 51 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 ghi: "Nhà nước bảo
đảm các quyền của công dân"; Điều 64: "Nhà nước bảo
vệ hôn nhân và gia đình".
<em>Phương pháp bắt buộc</em> được thực hiện khi Hiến pháp
đặt ra trách nhiệm cho cá nhân, cơ quan, tổ chức phải hành
động theo cách này hay cách khác trong những điều kiện nhất
định. Chẳng hạn, quy định bậc tiểu học là bắt buộc
đối với công dân; công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao
động công ích; người nước ngoài cư trú ở nước sở tại
phải tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật của nước đó
v.v..
<em>Phương pháp yêu cầu</em> thể hiện qua các quy phạm quy
định rất cụ thể yêu cầu của Nhà nước đòi hỏi phải có
những hành vi nhất định và nếu không thực hiện thì phải
chịu những chế tài pháp lý. Khác với quy phạm bắt buộc, quy
phạm yêu cầu có mức độ gay gắt hơn, thể hiện sự đòi
hỏi cao hơn đối với đối tượng thực hiện Hiến pháp.
Chẳng hạn, Điều 54 Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam quy
định: "Bộ trưởng nào không được Nghị viện tín nhiệm
thì phải từ chức". Sau cuộc biểu quyết tại lần thảo
luận thứ hai về việc Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm
thì Nội các mất tín nhiệm phải từ chức. Trong những
trường hợp như vậy, các thuật ngữ dùng trong Hiến pháp
phải rất rõ ràng, dễ hiểu để tránh những cách hiểu khác
nhau.
<em>Phương pháp cấm</em> là phương pháp được sử dụng rất
hạn hữu trong các Hiến pháp. Hiến pháp thường phải sử
dụng đến phương pháp này sau khi đã xác định rõ không úp
mở thái độ đối với những hành vi và hiện tượng được
coi là nguy hại cho xã hội. Chẳng hạn, Hiến pháp cấm không
được giải tán Nghị viện trong những thời kỳ nhất định
(Ví dụ: trong năm đầu tiên sau bầu cử); cấm việc trả thù
nguời khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại,
tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.
<h2>
5. Phương pháp soạn thảo và sửa đổi Hiến pháp</h2>
Yêu cầu phổ biến và được thừa nhận rộng rãi đối với
việc soạn thảo và sửa đổi Hiến pháp là sự tham gia của
nhân dân.
Tuy nhiên, mức độ và hình thức tham gia lại rất khác nhau ở
các nước. Nhiều nước xem Quốc hội hoặc Quốc hội lập
hiến chính là nhân dân. Nhưng quy trình tương đối phổ biến
ở đa số các nước, là Hiến pháp do Quốc hội tổ chức rồi
sau đó đưa ra toàn dân thảo luận để rồi bản dự thảo
được tiếp thu, chỉnh lý và thông qua tại Quốc hội hoặc
đưa ra trưng cầu ý dân (phúc quyết).
Như vậy, toàn dân thảo luận dự thảo Hiến pháp là khâu
không thể thiếu được, kể cả trong trường hợp sau đó cần
đến sự phúc quyết của nhân dân theo thủ tục trưng cầu ý
dân. Đối với Hiến pháp, việc đưa ra thảo luận toàn dân là
điều hết sức quan trọng. Thứ nhất, nếu việc thảo luận
có chất lượng, nó sẽ bảo đảm để Hiến pháp ghi nhận và
phản ánh được ý chí chung của các giai tầng và nhóm xã
hội. Thứ hai, thảo luận toàn dân là yếu tố tâm lý tạo nên
ý thức về sự gắn bó của dân chúng với Hiến pháp sau khi
Hiến pháp được ban hành.
Để soạn thảo và ban hành Hiến pháp có thể có hai hình thức
tổ chức thực hiện là: a) Thành lập Quốc hội lập hiến hay
Hội nghị lập hiến; b) giao cho Quốc hội (Nghị viện) đương
nhiệm.
Quốc hội lập hiến hay Hội nghị lập hiến là một cơ quan
dân bầu với thời hạn và mục đích rất cụ thể và được
xác định là soạn thảo và ban hành Hiến pháp. Hình thức này
được tổ chức đầu tiên ở Hoa Kỳ dưới tên gọi là Hội
đồng lập hiến Philadenphia để soạn thảo Hiến pháp năm 1787
của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Hiến pháp Italia năm 1947, Hiến
pháp Bồ Đào Nha năm 1976, Hiến pháp Rumani 1991, Hiến pháp
Estonia năm 1992, Hiến pháp Campuchia... đều được soạn thảo
và ban hành theo cách đó.
Giữa Quốc hội lập hiến và Hội nghị lập hiến có nhiều
điểm giống nhau, nhưng cũng có một số nét khác nhau. Nếu như
Quốc hội lập hiến chỉ bao gồm những người được cử tri
bầu, thì Hội nghị lập hiến có thể có những thành viên
được bầu là chủ yếu cộng với những thành viên theo cơ
cấu quyền lực, cơ cấu xã hội hoặc các chuyên gia lớn trong
lĩnh vực Hiến pháp (Italia, Nga, Brazil, Ấn Độ, Ucraina, Campuchia
v.v..).
Quốc hội lập hiến hoặc Hội nghị lập hiến ở các nước
trên thế giới có phạm vi thẩm quyền không giống nhau theo hai
mức độ của trình tự soạn thảo và ban hành Hiến pháp.
Ở mức độ thứ nhất, Quốc hội lập hiến vừa là cơ quan
soạn thảo, vừa là cơ quan ban hành Hiến pháp. Trong trường
hợp đó, Quốc hội lập hiến là cơ quan có toàn quyền lập
hiến.
Ở mức độ thứ hai, Quốc hội lập hiến có chức năng soạn
thảo Hiến pháp, còn việc ban hành Hiến pháp sẽ do một Quốc
hội khác hoặc do kết quả trưng cầu ý dân quyết định. Ở
trường hợp này Quốc hội lập hiến có thẩm quyền hạn
chế.
Hình thức thứ hai của việc soạn thảo và ban hành Hiến pháp
thường thấy là hình thức do Quốc hội đương nhiệm thực
hiện. Trong những trường hợp như vậy, người ta thường lập
ra Uỷ ban soạn thảo Hiến pháp gồm các thành phần hết sức
đa dạng, từ đại diện của cơ quan lập pháp, hành pháp, tư
pháp cho đến đại diện của tổ chức, đảng phái, các chuyên
gia có tên tuổi, Uỷ ban này do Quốc hội chỉ đạo. Ban soạn
thảo Hiến pháp có tính lâm thời, hoạt động có mục đích
và giải tán sau khi trình được dự thảo Hiến pháp. Kế đó
là thủ tục thảo luận và thông qua ở Quốc hội. Việc thảo
luận bao giờ cũng gồm hai vòng. Vòng thứ nhất được tổ
chức và thực hiện để thảo luận về dự thảo của Ban
soạn thảo, quyết định đưa dự thảo Hiến pháp ra thảo
luận toàn dân. Vòng thức hai là trên cơ sở kết quả thảo
luận toàn dân, Quốc hội tiếp tục thảo luận và quyết
định thông qua Hiến pháp, hoặc, nếu Hiến pháp quy định,
đưa kết quả ra để cử tri phúc quyết.
Để đánh giá về hiệu quả và tính ưu việt của các hình
thức, thủ tục soạn thảo và ban hành Hiến pháp vừa nêu
trên, cần có các tiêu chí. Tiêu chí khách quan đầu tiên là
phải dựa vào điều kiện lịch sử cụ thể của việc áp
dụng hình thức này hay hình thức khác ở mỗi nước. Những
tiêu chí chung nhất có thể kể đến là tính dân chủ của
thủ tục, mức độ hợp pháp và chính đáng của phương pháp
thực hiện, tính hoàn chỉnh, mức độ phức tạp và thời gian
của việc áp dụng các hình thức và thủ tục. Trong số đó,
đáng chú ý nhất phải là các yếu tố về tính dân chủ của
thủ tục, làm sao để thu hút được nhân dân tham gia, khả
năng bảo đảm tính hợp pháp của các thủ tục. Hiệu lực
của Hiến pháp một phần lớn phụ thuộc vào chính quá trình
và các thủ tục ban hành, sửa đổi này.
_________________________________________________________
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984,
tr. 6.
(2) Xem:
<em>1/ Đấu tranh giai cấp ở Pháp, C.Mác - Ph.Ăng-ghen toàn tập,
tập 7, tr. 95-119. Maxcơva, 1995; </em>
<em>2/ Hiến pháp Anh. C.Mác - Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 11, tr.
99-102, Maxcơva, 1995;</em>
<em>3/Ph.Ăng-ghen: Thư gửi I.Bloch ngày 21, 22/9/1890 C.Mác -
Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 37. tr. 393-397, Maxcơva, 1998;</em>
<em>4/V.I.Lênin: Các nhà cách mạng xã hội sẽ tổng kết cuộc
các mạng như thế nào và cuộc cách mạng đã chỉ ra những
bài học gì cho các nhà cách mạng xã hội? Lênin toàn tập,
tập 3, Maxcơva, tr. 204, 1882</em>.
(3) Trích trong cuốn: "Ten years of Democratic Constitutionalism in
Central and Easten Europe. Budapesht, 2001, p. 33.
(4) V.I.Lênin: Các nhà cách mạng xã hội sẽ tổng kết cuộc
các mạng như thế nào và cuộc cách mạng đã chỉ ra những
bài học gì cho các nhà cách mạng xã hội? V.I.Lênin toàn tập,
tập 3, tr. 204, Maxcơva, 1882.
(5) Công ước năm 1966 của Liên hợp quốc về các quyền dân
sự và chính trị.
(6) Sau này, chế độ nô lệ đối với người da đen không còn
tồn tại (BBT).
<strong>GS,TSKH. Đào Trí Úc</strong> - Chủ tịch Hội đồng Khoa
học và Đào tạo Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội; Uỷ viên Hội đồng
lý luận TW Đảng.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6505), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét