Tìm hiểu thêm tư tưởng Dân Chủ Hồ Chí Minh

<strong>1.</strong> Ở Việt Nam trước khi có sự ra đời của nhà
nước Dân chủ Cộng hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập,
chưa có một thể chế dân chủ nào tồn tại trong lịch sử.
Có chăng chỉ tồn tại những giá trị dân chủ mang tính thoả
thuận của cộng đồng như "lệ làng", "hương ước" v.v...

<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Chủ tịch Hồ Chí Minh
không chỉ coi dân chủ có ý nghĩa như một giá trị chung, là
sản phẩm của văn minh nhân loại, xem dân chủ như lý tưởng
phấn đấu của các dân tộc. Người cũng không chỉ coi dân
chủ với tư cách như một thiết chế xã hội của một quốc
gia mà khái niệm này được mở rộng ra biểu hiện mối quan
hệ của đời sống quốc tế - một thiết chế quốc tế cần
được xây dựng cho nhân loại.<img class="quoright"
src="/misc/quoright.png"/> <br class="quoteclear"></div></div>

Nguyễn Ái Quốc đã tiếp cận và tiếp thu tinh thần tiến bộ
của các nhà tư tưởng dân chủ Pháp như Môngtetxkiơ, G. Rutxô,
V. Huygô v.v... Những giá trị tiến bộ của tư tưởng dân chủ
tư sản đã trở thành căn cứ pháp lý để Người đấu tranh
chống lại chủ nghĩa thực dân.

Khi dân tộc đã giành được độc lập, nhân dân Việt Nam từ
thân phận nô lệ trở thành công dân của nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa. Đây là cuộc đổi đời của cả một dân tộc
cũng là cuộc đổi đời của từng con người Việt Nam. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã phản ánh sự đổi thay cơ bản ấy bằng
phạm trù làm chủ; là người chủ. Người khẳng định địa
vị làm chủ của nhân dân, coi đó là nội dung cơ bản của
nền dân chủ mới. Phạm trù làm chủ; là người chủ là nội
dung trung tâm trong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh. Nhân
dân có quyền làm chủ, là người chủ của xã hội là tiêu
chí quan trọng xác định bản chất của chế độ dân chủ
nhân dân.

Cho đến những năm 20 của thế kỷ XX, nhân loại mới chỉ
được biết đến hai hình thức chính quyền nhà nước dân
chủ của thời đại mới. Đó là công xã Pari và chính quyền
Xô Viết. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã khái quát được
những gì tinh túy, tiến bộ và khoa học của những hình thức
này, kết hợp hài hoà với những truyền thống nhân văn của
dân tộc và xây dựng cho mình những quan điểm về dân chủ:

<div class="special_quote">.."<em>Chính phủ cộng hoà dân chủ là
gì? Là đầy tớ chung của dân, từ chủ tịch toàn quốc đến
làng. Dân là chủ thì chính phủ phải là đầy tớ. Làm việc
ngày nay không phải để thăng quan phát tài - Nếu chính phủ
làm hại dân thì dân dân có quyền đuổi chính phủ. Nhưng khi
dân dùng đầy tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ chính
phủ... Xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ, giám sát chính
phủ</em>".

"<em>Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là
người chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền
hạn đều của dân, quyền hành, lực lượng đều ở nơi
dân</em>".

"<em>Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi
của dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm.
Việc gì có hại cho dân thì phải tránh</em>"...</div>

Cũng có thể thấy rõ hơn quan niệm của Hồ Chí Minh về dân
chủ với một sự lý giải cô đọng sau đây:

<div class="special_quote">"<em>Nước ta là một nước dân chủ</em>
<em>Bao nhiêu lợi ích đều vì dân</em>
<em>Bao nhiêu quyền hạn đều của dân</em>
<em>Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân</em>
<em>Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của
dân</em>
<em>Chính quyền từ xã đến chính phủ đều do dân cử ra</em>
<em>Đoàn thể từ Trưng ương đến xã do dân tổ chức nên</em>
<em>Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở nơi
dân</em>".</div>

Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, trong khái niệm về dân chủ,
vấn đề nhất quán và sáng tỏ nhất là sự khẳng định ngay
chế độ dân chủ của nước ta là phải thể hiện "bao nhiêu
lợi ích đều vì dân", "quyền hành", "trách nhiệm, lực
lượng" là "của dân", "đều ở nơi dân". Định nghĩa đó cũng
chỉ ra phương thức tổ chức, vận hành của một xã hội mang
tính dân chủ là chế độ đại diện, ủy quyền, trong đó
chính quyền và đoàn thể đều "do dân cử ra" và "do dân tổ
chức nên".

Định nghĩa tổng quát nhất mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra: Dân
chủ tức là: dân là chủ và dân làm chủ trong đó "<em>mọi
quyền hành và lực lượng là ở nơi dân</em>" (thuộc về
nhân dân). Quan niệm đó đã làm sáng tỏ quan điểm Hồ Chí
Minh coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng khi Người cho
rằng "công việc đổi mới, xây dựng, kháng chiến kiến
quốc là trách nhiệm và công việc của dân". Đồng thời quan
điểm này còn làm nổi bật và thể hiện rõ tư tưởng của
Người về nền dân chủ XHCN - nền dân chủ lấy mục tiêu cao
nhất là vì con người và giải phóng triệt để con người.

<strong>2.</strong> Hồ Chí Minh không dùng những lý luận cao xa
để diễn giải về phạm trù dân chủ nhưng chúng ta vẫn thấy
sự nhất quán và có hệ thống qua các bài nói và viết của
Người về địa vị và quyền làm chủ của nhân dân. Người
thường nhắc đến vai trò "người chủ đất nước" của
mọi người dân trong các ngành, các giới: công nhân, nông dân,
trí thức, thanh niên, phụ nữ, các dân tộc, cả các cháu
thiếu niên nhi đồng... Nền dân chủ mà chúng ta xây dựng là
nền dân chủ nhân dân, nền dân chủ XHCN, là nền dân chủ
triệt để: "<em>Các tầng lớp nhân dân ta - công nhân, nông
dân, lao động trí óc, các nhà công thương, đồng bào thiểu
số - ai nấy hãy làm tròn nghĩa vụ của người công dân,
người chủ nước nhà</em>".

Hồ Chí Minh đã nêu một mệnh đề cô đọng, xúc tích:
"<em>Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là
người chủ</em>". Trong mệnh đề này chứa đựng đầy đủ
nội dung "<em>dân chủ là của con người, do con người và vì
con người</em>". Con người là chủ thể của nền dân chủ và
nền dân chủ - với tư cách như một thể chế chính trị -
phải lấy con người làm nhân tố chủ đạo, con người ở vị
trí trung tâm.

Quan điểm "<em>Chế độ ta là chế độ dân chủ</em>" của
Hồ Chí Minh còn xem dân chủ như một phương thức tổ chức xã
hội hiện đại - nhà nước không bao trùm lên tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó chỉ rõ, trong khi
hoàn thiện chế độ nhà nước thì đồng thời cũng phải mở
rộng và hoàn thiện quan hệ dân chủ trong các lĩnh vực khác
của xã hội, mở rộng phạm vi tự quản của nhân dân, thúc
đẩy sự phát triển của nền dân chủ. Quan niệm đó nêu rõ
đặc tính dân chủ phải được thấm nhuần trong tất cả các
lĩnh vực quan hệ, giữa các cá nhân, cộng đồng, giữa các
nhóm và tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị... để
hướng tới một xã hội đảm bảo sự phát triển tự do của
mỗi thành viên và là điều kiện cho sự phát triển tự do
của tất cả mọi người trong xã hội.

Khái niệm dân chủ của Hồ Chí Minh giúp cho việc nhận thức
được đúng yêu cầu của dân chủ trong các quan hệ xã hội
không thuộc về chính trị mà ở đó dân chủ biểu hiện các
giá trị thuộc về đạo lý con người như quan hệ trong gia
đình, trong trường học... ở đây vấn đề dân chủ biểu
hiện đạo lý và tính người.

Hồ Chí Minh trong khi khẳng định dân chủ là thành quả to lớn
mà cách mạng đem lại cho mỗi người dân cũng luôn đề cập
đến trách nhiệm của mỗi người dân trong việc xây dựng
nền dân chủ. Việc thực hiện dân chủ và xây dựng nền dân
chủ, hiện thực hoá những lý tuởng dân chủ trong đời sống
xã hội vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của mỗi công
dân: "Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ
làm tròn bổn phận công dân". Bổn phận công dân được
nhắc đến ở đây là bổn phận công dân của một thể chế
dân chủ nhân dân, bổn phận công dân trong một xã hội do nhân
dân làm chủ.

Những vấn đề dân chủ Hồ Chí Minh đề cập là những nội
dung hết sức thiết thực với cả cộng đồng cũng như với
từng cá nhân. Nền dân chủ mà chúng ta hướng tới - theo lý
tưởng của Hồ Chí Minh - là nền dân chủ thực sự, nền dân
chủ trong thực tiễn, trong đó nhân dân giữ địa vị cao
nhất, chứ không phải nền dân chủ trên giấy tờ sách vở.
Mọi hoạt động của Nhà nước, Đảng, các đoàn thể quần
chúng... đều nhằm để "<em>Thực hiện những cải cách xã
hội để nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân
chủ thực sự</em>".

Khi chỉ ra những yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể đối với từng
đối tượng là những giai cấp, thành phần xã hội khác nhau
để thực hành dân chủ một cách thiết thực và hiệu quả,
Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến quyền dân chủ theo từng địa
vị xã hội của họ. Hồ Chí Minh không phải là nhà dân chủ
theo lối kinh viện mà trước hết Người là một nhà cách
mạng. Hồ Chí Minh luôn đấu tranh, luôn đòi hỏi sự phấn
đấu của mọi người để đạt đến một nền dân chủ thực
sự chứ không phải một nền dân chủ giả hiệu, hình thức.
Nền dân chủ mà Người đã dành cả cuộc đời đấu tranh
để giành lấy và vun đắp cho nhân dân là một nền dân chủ
hiện thực từ những biểu hiện nhỏ nhất, gần gũi với con
người nhất. Trong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh thấm
đậm chủ nghĩa nhân văn cao cả.

<strong>3.</strong> Ngay từ khi ra đời, ĐCS Việt Nam đã gánh vác
trách nhiệm lãnh đạo cuộc đấu tranh gìành độc lập cho dân
tộc, giành tự do cho nhân dân, xây dựng một xã hội tốt
đẹp cho con người, vì con người. Tất cả những chủ trương,
đường lối. chiến lược, sách lược, mọi hành động của
Đảng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền của Đảng
đều nhằm thực hiện khát vọng cháy bỏng nhất của toàn
thể nhân dân: Độc lập dân tộc.

Khi đã giành được chính quyền, Đảng trở thành Đảng cầm
quyền, lãnh đạo nhân dân xây dựng và bảo vệ đất nước.
Mục đích lý tưởng của Đảng - lý do tồn tại và đấu tranh
của Đảng - là giải phóng nhân dân khỏi áp bức bóc lột,
xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân hoàn toàn
không thay đổi nhưng có sự thay đổi về yêu cầu, nhiệm vụ
cách mạng cụ thể; thay đổi trong hệ thống chính trị do
Đảng lãnh đạo; thay đổi về phương pháp lãnh đạo của
Đảng...

Khi đã trở thành Đảng cầm quyền, đối tượng lãnh đạo
của Đảng không thay đổi nhưng điều kiện hoạt động của
Đảng đã thay đổi về cơ bản. Điều này đặt ra vấn đề
trong công tác xây dựng Đảng để Đảng không bị tha hoá bởi
quyền lực, cán bộ đảng viên không bị biến chất khi đã
nắm giữ những cương vị quyền lực, Đảng không thể đứng
trên xã hội, đứng ngoài quần chúng... Hồ Chí Minh nhấn mạnh
tới việc phải đấu tranh loại trừ sự mất dân chủ, độc
đoán chuyên quyền; đặc quyền đặc lợi... của những ông
"quan cách mạng"... Điều này đòi hỏi Đảng phải thường
xuyên chỉnh đốn tổ chức, rèn luyện cả về phẩm chất và
năng lực cuả toàn Đảng cũng như của từng đảng viên. Một
điều cũng không kém phần quan trọng là Đảng phải thường
xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của mình để ngày
càng gắn bó với dân hơn, tuân thủ tuyệt đối nguyên tắc:
<div class="special_quote"><em>Đảng lãnh đạo nhưng dân là
chủ</em>
<em>Đảng cầm quyền nhưng mọi quyền lực đều thuộc về
nhân dân</em></div>
Hồ Chí Minh diễn đạt điều này một cách khác: Đảng là
người lãnh đạo nhưng đồng thời cũng là người đày tớ
thật trung thành của nhân dân.

Đây là một nguyên tắc lớn không bao giờ thay đổi trong tư
tưởng Hồ Chí Minh. Đây cũng là điều phân biệt rõ nét sự
cầm quyền của một đảng cộng sản chân chính. Đảng là
một bộ phận của nhân dân, phân biệt với bộ phận còn lại
ở tính cách mạng, tính tiên phong, tính tổ chức của mình.
Đảng là người lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành lấy
những quyền lợi của mình và là người bảo vệ kiên quyết
nhất những lợi ích của nhân dân. Khi được nhân dân trao cho
trách nhiệm, chức quyền, mọi cán bộ, đảng viên chỉ là
người đại diện cho nhân dân, phải "như người lính vâng
lệnh quốc dân ra mặt trận". Vì lẽ đó, Đảng chính là
"người đày tớ" trung thành nhất của nhân dân.

Đảng có quyền lực chính trị nhưng không nắm giữ quyền
lực hành chính. Đảng lãnh đạo không phải là "Đảng
trị". Đảng lãnh đạo thông qua bộ máy nhà nước do nhân
dân bầu ra và hoạt động tuân theo ý nguyện của nhân dân,
trong sự giám sát của nhân dân.

Đảng không xác định cho mình một khu vực lợi quyền riêng
mà mọi hành động của Đảng đều tuân theo và nhằm thực
hiện những ý nguyện của toàn dân. "<em>Đảng không phải là
một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm
vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng
bào sung sướng</em>".

Những quan điểm này đã được Đảng ta và Hồ Chí Minh nhấn
mạnh ngay từ những ngày đầu lãnh đạo nhân dân xây dựng
chính quyền sau khi giành được độc lập; vừa kháng chiến,
vừa kiến quốc trong kháng chiến chống Pháp, trong kháng chiến
chống Mỹ, và sau khi đất nước hoà bình thống nhất đã
được nâng lên một tấm cao mới. Những quan điểm đó đã
được thể hiện trong Hiến pháp, pháp luật; trong nhiều chỉ
thị, nghị quyết và trong hiện thực cách mạng; cả trong lý
luận và trong thực tế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định "<em>Nước ta là một
nước dân chủ và là dân chủ mới để tiến đến chủ nghĩa
xã hội</em>". Tư tưởng đó của Người đã được ghi thành
tiêu chí của đất nước ở cả thời kỳ của nước Việt
NamDCCH và CHXHCN Việt Nam. Từ mục tiêu phấn đấu xây dựng
nước "<em>Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú
cường</em>" mà Hồ Chí Minh nêu lên từ Đại hội II của
Đảng (năm 1951) đến mục tiêu "Việt Nam hoà bình, độc
lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh" được Người chỉ
rõ sau năm 1954 và được ghi nhận như điều mong muốn cuối
cùng để lại cho Đảng và nhân dân ta trong Di chúc, dân chủ
luôn là mục tiêu phấn đấu không ngừng của cách mạng nước
ta. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đem lại độc lập cho
Tổ quốc và đáp ứng mơ ước ngàn đời của đa số cư dân
Việt Nam là nông dân về ruộng đất đã đem lại nguồn nội
lực cho thắng lợi của hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân
tộc là minh chứng sáng tỏ nhất vai trò động lực của dân
chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thành công của công cuộc Đổi mới ngày nay cũng được khởi
đầu bằng quá trình dân chủ hoá trong các lĩnh vực đã tạo
nên động lực mạnh mẽ đưa đất nước ta vượt qua thời
kỳ khủng hoảng kinh tế xã hội là một hiện thực sinh động
nữa về sự vững bền của động lực dân chủ đối với sự
phát triển xã hội. Điều đó làm sáng tỏ hơn nữa khái niệm
dân chủ của Hồ Chí Minh khi Người coi nguồn gốc của
"quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân".

Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là một sự nghiệp có tính
nhân văn cao, đòi hỏi một lực lượng tiên phong đại diện
cho những gì tốt đẹp nhất của xã hội, một lực lượng xã
hội có đầy đủ lương tâm và trí tuệ lãnh đạo. Sự lãnh
đạo của Đảng là bảo đảm cho Nhà nước hoạt động đúng
như một Nhà nước dân chủ và pháp quyền, đúng định hướng
XHCN.

Những bài học nóng bỏng và đắt giá từ việc bộ máy chính
quyền ở một số địa phương không còn do dân, của dân và
vì dân đã làm mất lòng tin của nhân dân, gây ra những hậu
quả nghiêm trọng, càng khẳng định chúng ta không được xa
rời những quan điểm đúng đắn của Đảng ta và Hồ Chí Minh

Khi khẳng định: "<em>Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ;
Đảng lãnh đạo nhưng mọi quyền lực đều thuộc về nhân
dân</em>", Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đồng thời khẳng
định lý tưởng cao đẹp của mình khi đảm nhận sứ mệnh
lịch sử lãnh đạo nhân dân xây dựng một xã hội tốt đẹp
công bằng, dân chủ, văn minh với nhân dân là chủ thể của
mọi họat động xã hội. Bằng và thông qua công cụ hữu hiệu
là Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, những
lý tưởng đó từng bước được hiện thực hoá trong đời
sông xã hội. Tuy rằng đó là một quá trình còn nhiều gian nan
thử thách trước những biến động của tình hình quốc tế,
những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, song
quyết tâm của ĐCS Việt Nam và nhân dân Việt Nam là kiên
định.

<strong>4.</strong> Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ coi dân chủ
có ý nghĩa như một giá trị chung, là sản phẩm của văn minh
nhân loại, xem dân chủ như lý tưởng phấn đấu của các dân
tộc. Người cũng không chỉ coi dân chủ với tư cách như một
thiết chế xã hội của một quốc gia mà khái niệm này được
mở rộng ra biểu hiện mối quan hệ của đời sống quốc tế
- một thiết chế quốc tế cần được xây dựng cho nhân
loại. Hồ Chí Minh xem xét dân chủ, bình đẳng là cho tất cả
các quốc gia - dân tộc trong mối quan hệ quốc tế và xem đó
là lối ứng xử văn minh giữa tất cả các quốc gia - dân
tộc. Tư tưởng đó là cơ sở cho sự hình thành nên một văn
hoá - văn hoá hoà bình của nhân loại. Hồ Chí Minh đã nêu lên
công thức đảm bảo cho việc thiết lập một nền hoà bình
thế giới dựa trên nền tảng dân chủ và bình đẳng giữa
các dân tộc khi Người nói: "<em>Hoà bình, một nền hoà bình
chân chính xây dựng trên công bình và lý tưởng dân chủ phải
thay cho chiến tranh, rằng tự do, bình đẳng bác ái phải thực
hiện trên khắp các nước không phân biệt chủng tộc, màu
da</em>". Nói một cách khác, một thiết chế dân chủ phải
được thiết lập dựa trên cơ sở bình đẳng và chủ quyền
của mỗi quốc gia-dân tộc thì hoà bình cho toàn nhân loại
mới được đảm bảo. Trong trường hợp này, dân chủ biểu
thị mối quan hệ giữa các dân tộc. Trong thế kỷ XXI,
"thiết chế dân chủ" trong các mối quan hệ quốc tế - như
quan điểm của Hồ Chí Minh - vẫn còn được nhân loại phấn
đấu xây dựng.

<center>* * *</center>

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà tư tưởng, người
sáng lập nền dân chủ mới mà còn là người lãnh đạo thực
hiện quá trình dân chủ hoá xã hội ở Việt Nam. Gần sáu
thập kỷ tranh đấu, sáng lập và hiện thực hoá nền dân chủ
mới ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng
ta một di sản tư tưởng vô giá - tư tưởng dân chủ Hồ Chí
Minh. Giá trị thực tiễn và sự trường tồn của tư tưởng
dân chủ Hồ Chí Minh là ở chỗ, nó không chỉ nêu lên những
vấn đề có tính lý luận mà còn để lại những kinh nghiệm
thực tiễn phong phú trong quá trình xác lập và hoàn chỉnh
từng bước nền dân chủ mới ở nước ta dưới sự lãnh
đạo của ĐCS Việt Nam.

P.V.K - N.V.A

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6111), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét