Trước khi bàn về các kiểu phân tích hay mô hình hoá xã hội,
tôi xin lấy một vài ví dụ thật đơn giản.
<em><strong>Ví dụ 1:</strong></em>
Giả sử ta có một lớp học gồm 30 nam và 30 nữ. Ta có rất
nhiều cách phân chia lớp học:
- Theo giới tính nam và nữ, mỗi giới 30 người
- Chia tổ, gồm 4 tổ, mỗi tổ 15 người
- Xếp theo học lực: Giỏi, khá, trung bình, kém
- Phân loại đạo đức: Tốt, trung bình, kém
- Phân loại lý lịch: Con nhà giàu, con em trong ngành gửi gắm,
con nhà nghèo, v.v...
- Phân loại sức khoẻ: Tốt, trung bình, kém
Và rất nhiều cách phân loại khác nữa: Theo năng khiếu, theo
sở thích, theo tính tình, theo sắc đẹp…
Việc chọn kiểu phân loại nào là phụ thuộc vào mục đích
đánh giá đối tượng.
<em><strong>Ví dụ 2:</strong></em>
- Bác sỹ chụp X quang bệnh nhân, ông ta có thể thấy xương
gãy, phổi nám, dạ dày loét… nhưng tuyệt nhiên không thể
"nhìn thấy" các dây thần kinh và càng không thể nhìn thấy
hệ kinh lạc theo lý thuyết Đông y.
- Bác sỹ siêu âm màu không gian ba chiều có thể thấy rõ
nhiều thứ hơn ông soi X quang: sỏi thận, bùn mật, viêm loét
tử cung, các u. Nhưng không thấy được là u lành hay u dữ.
- Bác sỹ chiếu cắt lớp "nhìn" được cơ thể con người
ở độ phân giải cao hơn.
Nhưng ông siêu âm và ông cắt lớp vẫn không nhìn thấy được
hệ kinh lạc.
Vậy kết quả xem xét đối tượng phụ thuộc vào công cụ
được dùng để xem xét. Mỗi công cụ đều có những ưu
điểm và hạn chế.
<em><strong>Ví dụ 3:</strong></em>
Để điều trị bệnh nhân, tuỳ trường hợp, thầy thuốc có
thể chỉ định cho dùng thuốc hoặc phải can thiệp ngoại khoa.
Một trăm năm trước, mổ xẻ gắn liền với dao kéo, chỉ
khâu. Ông bác sỹ giỏi nhất ở thế kỷ 19 cũng không thể có
một chút khái niệm nào về mổ nội soi, về dùng tia la de thay
cho dao mổ.
<h2>II. Khái niệm giai cấp</h2>
<div class="special_quote">Trong tác phẩm Sáng kiến vĩ đại, Lênin
định nghĩa: "<em>Người ta gọi là giai cấp những tập đoàn to
lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong
một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử,
khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan
hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với
những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức
lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức
hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà
họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người, mà
tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn
khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một
chế độ kinh tế xã hội nhất định</em>".
Như vậy, sự ra đời, tồn tại của giai cấp gắn với những
hệ thống sản xuất xã hội nhất định. Sự khác nhau về
địa vị của giai cấp trong hệ thống sản xuất là do:
Thứ nhất, khác nhau về quan hệ của họ đối với việc sở
hữu những tư liệu sản xuất của xã hội.
Thứ hai, khác nhau về vai trò của họ trong tổ chức quản lý
sản xuất, tổ chức quản lý lao động xã hội.
Thứ ba, khác nhau về phương thức và quy mô thu nhập những
sản phẩm lao động của xã hội.
Trong những sự khác nhau trên đây, sự khác nhau của họ về
sở hữu đối với tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết
định. Tập đoàn người nào nắm tư liệu sản xuất sẽ trở
thành giai cấp thống trị xã hội và tất yếu sẽ chiếm
đoạt những sản phẩm lao động của các tập đoàn khác. Đó
là bản chất của những xung đột giai cấp trong các xã hội
có giai cấp đối kháng.
Trong các xã hội có giai cấp, ngoài giai cấp thống trị và giai
cấp bị trị, còn có các giai cấp và tầng lớp trung gian khác.
Bộ phận này không có vị trí cơ bản trong phương thức sản
xuất, nó thường xuyên bị phân hóa. Nhân tố chi phối sự
phân hóa của các tầng lớp trung gian là lợi ích. Các giai cấp
và tầng lớp trung gian ngả về phía giai cấp thống trị hay
bị trị là tùy thuộc vào vị trí lợi ích của họ.
Giai cấp thực chất là một phạm trù kinh tế - xã hội có
tính lịch sử. Nó luôn luôn vận động biến đổi cùng với
sự biến đổi của lịch sử.</div>
Trên đây là trích bài giảng về giai cấp hiện đang áp dụng
ở các cơ sở đào tạo của Việt nam.
III. Không nên chỉ dùng một cách phân chia giai cấp
Cách phân chia xã hội ra thành giai cấp thống trị và giai cấp
bị trị, giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột là một
cách phân chia đúng, nhưng không phải là duy nhất. Giống như
các ví dụ nêu trong phần I, nó là một trong nhiều cách xem xét
nhìn nhận xã hội.
Cách phân chia này mang tính cơ học, nó bỏ qua các mối quan hệ
hữu cơ khác quyết định đến sự tồn tại và phát triển
của xã hội.
A là người sử dụng lao động, là ông chủ, là kẻ bóc lột.
B là người lao động, là người làm thuê, là người bị bóc
lột. Để phân tích tiếp, ta chấp nhận khái niệm "bóc
lột" như chúng ta thường dùng, mặc dù nội hàm của khái
niệm "bóc lột" có nhiều thay đổi theo sự tiến hoá của
lịch sử loài người.
A bóc lột, B bị bóc lột – đó là xét trên quan hệ lao
động, trong phạm trù kinh tế hẹp. Nhưng khi B đi mua bánh mì,
mua máy vi tính, mua quần áo, mua xe hơi… thì B lại là
"thượng đế" của những ông chủ - kẻ bóc lột - sản
xuất và tiêu thụ những thứ hàng hoá đó? Quy luật kinh tế
thị trường đòi hỏi nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ
phải ngày càng phải có sản phẩm tốt hơn, đẹp hơn, rẻ hơn
để phục vụ thượng đế?
Nghĩa là trong quan hệ lao động thì A là ông chủ và B là
người làm thuê (bị bóc lột), nhưng trong quan hệ thị trường
thì B lại là ông chủ còn A lại là người phục vụ?
Vậy là phạm trù kinh tế - xã hội phải được hiểu theo
nghĩa rộng chứ không nên hiểu theo nghĩa hẹp.
Lịch sử phát triển của Chủ nghĩa Tư bản cho thấy ở thời
kỳ đầu của nó, để tích tụ tư bản đã bóc lột thặng dư
giá trị chủ yếu là nhờ bóc lột người lao động, khi giá
trị nhân công của lao động sống còn chiếm tỷ trọng cao
trong giá thành sản phẩm do mức độ cơ giới hoá, tự động
hoá, chuyên môn hoá chưa cao.
Nhằm mở rộng thì trường nhân lực, khai thác tài nguyên,
những kẻ thực dân thi nhau đánh chiếm thuộc địa. Cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc đã xoá bỏ Chủ nghĩa thực dân cũ
trên phạm vi toàn cầu. Xuất hiện Chủ nghĩa thực dân mới:
Không chiếm lãnh thổ, chỉ chiếm thị trường.
Ngày nay Chủ nghĩa thực dân mới đã lộ rõ bản chất thực
dân của mình. Xuất hiện toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế
về sản xuất và lưu thông hàng hoá. Các nước chậm phát
triển và đang phát triển dù muốn hay không cũng phải tham gia
vào quá trình này, vì họ vẫn tìm thấy lợi ích sống còn
trong đó.
Như vậy là Chủ nghĩa Tư bản liên tục phát triển. Trong bộ
Tư bản luận K. Marx đã có công rất lớn khi chỉ ra những
mặt yếu kém của Chủ nghĩa Tư bản. Với tính năng động
vốn có của mình, Chủ nghĩa Tư bản đã tự điều chỉnh rất
nhanh.
Hiện nay ở nhiều nước tư bản phát triển người ta vẫn
tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa Marx, vẫn có các viện bảo
tàng về Marx. Không như một số người, khi thì tuyệt đối
hoá sự đúng đắn của chủ nghĩa Marx, nhưng khi hệ thống Xã
hội Chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ thì lại phủ định hoàn
toàn nó.
<h2>IV. Sự thô thiển trong cách hiểu về giai cấp và đấu tranh
giai cấp</h2>
Khái niệm đấu tranh giai cấp:
<div class="special_quote">Trong xã hội có giai cấp tất yếu nảy
sinh đấu tranh giai cấp. V.I.Lênin định nghĩa đấu tranh giai
cấp là "cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết
quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền,
đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của
những người công nhân làm thuê hay những người vô sản
chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản".
Thực chất của đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giải
quyết mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa quần chúng bị áp
bức, vô sản đi làm thuê chống lại giai cấp thống trị,
chống lại bọn đặc quyền, đặc lợi, những kẻ đi áp bức
và bóc lột.
Đấu tranh giai cấp có nguyên nhân khách quan từ sự phát triển
mang tính xã hội hóa ngày càng sâu rộng của lực lượng sản
xuất với quan hệ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
Biểu hiện của mâu thuẫn này về phương diện xã hội: Mâu
thuẫn giữa một bên là giai cấp cách mạng, tiến bộ, đại
diện cho phương thức sản xuất mới, với một bên là giai
cấp thống trị, bóc lột, đại biểu cho những lợi ích gắn
với quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu.
Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực phát triển
của xã hội có giai cấp.
Đỉnh cao của cuộc đấu tranh giai cấp tất yếu sẽ dẫn
đến cách mạng xã hội, thay thế phương thức sản xuất cũ
bằng một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn. Phương
thức sản xuất mới ra đời mở ra địa bàn mới cho sự phát
triển của sản xuất xã hội. Sản xuất phát triển sẽ là
động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ đời sống
xã hội. Dựa vào tiến trình phát triển của lịch sử, C. Mác
và Ph. Ăngghen đã chứng minh rằng, đỉnh cao của đấu tranh
giai cấp là cách mạng xã hội. Cách mạng xã hội như là đòn
bẩy thay đổi các hình thái kinh tế - xã hội.</div>
Trên cơ sở lý luận này, trong gần suốt thế kỷ 20 đã diễn
ra rất quyết liệt cuộc đấu tranh giai cấp thông qua cuộc
đụng đầu giữa hai phe Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ
nghĩa.
Vì sao khối Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ? Có phải là
do sai lầm cá nhân của một vài nhà lãnh đạo đảng, sự
đánh phá của hệ thống Tư bản Chủ nghĩa, hay lý do ở chỗ
khác?
Chúng ta đã mặc nhiên coi giai cấp vô sản muốn và cần tiêu
diệt giai cấp tư sản thì giai cấp tư sản cũng muốn và cần
tiêu diệt giai cấp vô sản. Sai lầm là ở chỗ đó.
Quyền lợi của giai cấp bóc lột là phải có ai đó để bóc
lột? Nếu tiêu diệt giai cấp bị bóc lột thì chính là tiêu
diệt mình?
Thật trớ trêu là giai cấp tư sản hiện đại, để bóc lột
được nhiều hơn, lại phải chăm lo đời sống vật chất tinh
thần ngày càng tốt hơn cho người lao động. Đơn giản là vì
nó phải lo tái sản xuất sức lao động.
Với sự tiến bộ khoa học công nghệ, ngày nay chất xám cũng
được coi là sức sản xuất. Ở các nước phát triển, chi phí
sản xuất cho chất xám, công nghệ cao, máy móc thiết bị tinh
vi hiện đại chiếm phần lớn giá thành sản phẩm. Phần nhân
công lao động giản đơn chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Nếu nói
giai cấp tư sản tiếp tục bóc lột thì nó bóc lột máy móc
thiết bị, knowhow hiều hơn là bóc lột con người.
Các nhà lý luận của chủ nghĩa Marx chỉ ra rằng giai cấp vô
sản là giai cấp tiên tiến, đại diện cho phương thức sản
xuất mới.
Trong thực tế, người ta áp dụng điều này một cách ấu trĩ.
Cứ xuất thân thành phần cơ bản (công nhân hoặc nông dân) là
phải tốt, phải đáng tin hơn anh trí thức tiểu tư sản, vì
họ đại diện cho giai cấp tiên phong mà! Thậm chí tồi tệ
hơn nữa là văn hoá hành xử và ứng xử mang tính nông dân
thiển cận, bảo thủ, tục tĩu lại bị ngộ nhận là ưu việt
hơn văn hoá ứng xử kiểu trí thức truyền thống cũng như
những ảnh hưởng văn hoá tốt đẹp từ các nước văn minh
khác.
Nền giáo dục Việt nam xuống cấp thê thảm là vì một thời
gian dài chúng ta coi trọng "giáo dục tư tưởng của giai cấp
công nhân" một cách chung chung, mơ hồ, mà coi nhẹ giáo dục
kỹ năng sống và làm việc.
<h2>V. Thay lời kết </h2>
Dịch học, môn triết học phương Đông dẫu đã tồn tại mấy
ngàn năm, nay vẫn cho thấy nó là một công cụ hữu hiệu khi
tiếp cận các vấn đề về xã hội và giai cấp.
Dịch nói luôn tồn tại Âm và Dương. Có dương ắt có âm và
ngược lại. Âm và dương vừa mâu thuẫn vừa thống nhất.
Trong âm có dương và trong dương có âm.
Các nhà tư sản Việt nam hầu hết là yêu nước, ghét Chủ
nghĩa Thực dân Pháp. Nhiều người trong số họ từng ủng hộ,
giúp đỡ, che dấu các chiến sĩ cách mạng trong thời kỳ hoạt
động bí mật là những người sau này giữ các cương vị cao
trong Chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hoà.
Bản thân nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp của Nhà nước
Việt nam sau năm 1945 là xuất thân từ các gia đình trí thức,
tiểu tư sản, thậm chí quan lại của chế độ cũ.
Vậy là trong âm có dương.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tinh thông Dịch học. Chủ
tịch thường phân biệt người tốt với người xấu, người
có ích và người vô ích, người thiện với người ác, người
trung với kẻ nịnh…
Chủ tịch rất ít khi phân biệt giai cấp. Nhờ thế Chủ tịch
đã đoàn kết được dân tộc. Đã có nhiều trí thức xuất
thân từ giai cấp bóc lột tình nguyện tham gia phục vụ chính
quyền Cách mạng.
Áp dụng Âm dương ngũ hành trong xem xét xã hội hiện đại, ta
thấy rõ mối quan hệ tương sinh tương khắc rất thú vị: Chủ
tư bản bóc lột người lao động (Chủ tư bản tương khắc
người lao động), nhưng người lao động lại là chỗ để
tiêu thụ sản phẩm (Người lao động tương sinh thị trường),
thị trường là cái mà chủ tư bản rất cần, không có nó thì
chủ tư bản tiêu vong nên chủ tư bản phải luôn tìm cách
giảm giá để bán được hàng (thị trường tương khắc chủ
tư bản).
Sinh sinh khắc khắc như vậy nên xã hội tồn tại và phát
triển trong những nhóm mẫu thuẫn và thống nhất rất biện
chứng.
Nếu ta chỉ tách riêng ra một nhánh mâu thuẫn giai cấp để xem
xét và giải quyết thì chính là đã đi ngược lại chủ nghĩa
duy vật biện chứng.
Trên đây là một vài suy nghĩ bước đầu, do trình độ có
hạn, chắc chắn còn nhiều điểm sai sót. Rất mong các vị cao
nhân chỉ giáo thêm.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6051), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét