Nguyễn Đăng Hưng - Bút ký của một nhà khoa học Việt Kiều

<em><strong>Lời dẫn của GS Nguyễn Đăng Hưng:</strong> Bài này
xuất hiện dưới hình thức một bài tham luận đọc tại Hội
Thảo mùa hè Franfurt tháng 8 năm 1989 nếu tôi nhớ không nhầm.
Hội thảo này là tiền thân của Hội Thảo mùa hè mới vừa
được tổ chức về « Tranh chấp Biển Đông Nam Á và vấn
đề an ninh con người », Philadelphia, Mỹ tháng 7, 2010 vừa qua.
Sau đó anh Trần Hải Hạc chủ bút báo Đoàn Kết yêu cầu tôi
gởi đăng trên cơ quan ngôn luận của Liên Hiệp Việt kiều
tại Pháp, bộ mới số 418 phát hành trong tháng 11 năm 1989.</em>

<em>Sau khi PTT Nguyễn Thiện Nhân đến nhà ân cần thăm hỏi và
đề nghị tặng quà nhà toán học Ngô Bảo Châu tôi thấy vấn
đề chiêu mộ nhân tài, tạo điều kiện để các nhà khoa học
Việt kiều về nước đóng góp vẫn là một vấn đề nóng
bỏng thời sự mà sau 35 năm vẫn còn bề bộn phía trước.</em>

<em>Nay gởi cho Blog Nguyễn Xuân Diện đăng lại nguyên văn,
biết đâu cũng là một ý kiến nhỏ gợi ý cho giới chức
trách đương quyền, giúp cho đông những nhà khoa học trẻ
Việt Nam suy ngẫm thêm về sinh hoạt khoa học trước 1989 tại
Việt Nam.</em>

<em>Cũng xin lưu ý là sau năm 1979, tác giả bài này đã quyết
định ngưng về Việt Nam trong 10 năm cho đến 1989 khi công cuộc
đổi mới kinh tế và tư duy bắt đầu rõ nét. Hiện nay tác
giả đã hưu trí và sinh sống chính tại Việt nam. </em>

<h2>Bối cảnh 1</h2>

<div class="boxleft220"><img
src="http://danluan.org/files/u1/20762260_images1475269_gshung1.jpg"
width="225" height="314" alt="20762260_images1475269_gshung1.jpg" /><div
class="textholder">Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng</div></div>Hà Nội,
Tết Bính Thìn, Tết hòa bình đầu tiên sau ba mươi năm chiến
tranh. Tôi theo phái đoàn người Việt yêu nước tại Bỉ về
thăm đất nước. Anh chị em Việt kiều đã tham gia những phong
trào đấu tranh yêu nước ở hải ngoại kéo về hẹn gặp nhau
ở Hà Nội. Năm ấy rất đông đủ Việt kiều đi về từ
khắp năm châu, bốn biển, từ Canađa, từ Pháp, Tây Đức,
Thụy Sĩ, Nhật, Úc, Bỉ, và có cả Tân Đảo nữa. Đã liên
lạc qua thư từ, qua những bức kiến nghị, những tờ thông tin
từ nhiều năm qua, bây giờ gặp lại nhau, tay bắt mặt mừng,
giây phút ấy không bao giờ quên được. Đảng, chánh phủ,
Mặt trận, Ban Việt kiều trung ương đã giành cho chúng tôi
những buổi tiếp đón ân cần, niềm nở, những lời thăm hỏi
thân mật, ưu ái. Không khí hồ hởi ấy thật là khó tả ! Xin
mượn ở đây câu đối của Đồ Phồn viết ra vào dịp đó:

<em>Trăm năm đạt tới ngày này, diệt họa xâm lăng,</em>
<em>cả nước chung vui Xuân giải phóng</em>
<em>Vạn nẻo thu về gốc cũ, rửa hờn chia cắt,</em>
<em>toàn dân cùng hưởng Tết đoàn viên</em>

Đêm 29 Tết, Việt kiều đổ xô đi xem chợ hoa Hà Nội. Trong
các phái đoàn Việt kiều có người để tóc dài, mặc quần
jean ống loa, thời trang trẻ bên Tây lúc ấy. Một tiểu đội
đoàn viên Đoàn thanh niên thủ đô đứng túc trực. Họ mời
các Việt kiều tóc dài vào trạm, phê phán gay gắt cách ăn
mặc ấy, xong khuyên bảo những cá nhân này nên cắt tóc ngắn,
ăn mặc gọn ghẽ hơn để theo kịp nếp sống lành mạnh, văn
minh xã hội chủ nghĩa. Ừ thì cũng đúng thôi! Mấy anh em có
vấn đề phàn nàn đôi chút, nhưng cái vui quá lớn, xâm lấn
cả tâm hồn, trí não, hơi đâu để ý đến những chuyện cỏn
con! Cũng như ngày mới về, chúng tôi tổng số khoảng 80
người, nhà nước huy động gần 20 nhân viên ngân hàng đến
tận khách sạn giúp chúng tôi đổi tiền. Vị chi một người
phục vụ cho bốn người, thế mà từ 9 giờ sáng đến 6 giờ
chiều chúng tôi mới có được tiền Việt Nam! Có gì đâu, cán
bộ ngân hàng chưa quen việc, thế thôi! Ai cũng bằng lòng ngay
qua lời giải thích ấy!

<h2>Bối cảnh 2</h2>

Đoàn Việt kiều lên máy bay vào Sài Gòn sáng 29 Tết, ngủ một
đêm tại khách sạn Cửu Long, hôm sau ai nấy tự do về thăm gia
đình.

Đêm 30 Tết, tôi đi chợ hoa Sài Gòn cùng với người cháu.
Mười bảy năm trời xa cách, nay mới thấy lại thành phố thân
yêu hôm nay mang tên Hồ Chí Minh chói lọi, còn gì xúc động
bằng! Có máy ảnh trong tay, tôi chụp hình lia lịa. Cái gì cũng
đẹp, cũng vui, cũng đầy ý nghĩa! Chẳng may chụp chợ hoa mà
có một anh công an đứng bối cảnh dính trong hình! Bị gọi
về ty công an ngay, đòi tịch thu máy, tịch thu phim! Ủa sao lạ
vậy! Anh em Việt kiều đã hỏi rõ và thủ tướng đã nói là
đất nước đã được giải phóng, Việt kiều muốn chụp gì
cũng được, chỉ trừ những địa điểm bí mật quân sự
thôi. Chợ hoa Sài Gòn mà có gì là bí mật! Tôi phản đối dài
dài…

Thời gian qua, giao thừa gần đến, tôi sốt ruột vô cùng! Gia
đình đang chờ tôi về chung đón giao thừa, đông đủ bà con
cô bác. Bao nhiêu niềm vui, bao nhiêu tình cảm ưu ái ruột thịt
đang chờ tôi! Tôi cố trầm tĩnh giải thích: «Các anh công an
bây giờ đi ngờ ngờ giữa thành phố đã được giải phóng,
còn gì là bí mật, cần gì phải giấu giếm! Chụp hình công an
đẹp trai, bên cành hoa lộng gió, trong khung cảnh tráng lệ thanh
lịch của thành phố, có gì là quấy, có gì phải cấm!». Mấy
ông công an lạnh lùng, không trả lời, không cho phép tôi điện
thoại về Ban Việt kiều thành phố đến lãnh tôi ra, không cho
phép cháu tôi về nhà báo tin cho gia đình hay! Cậu cháu tôi
phải ngồi chờ, ban thường trực công an đang họp, thảo luận
dây dưa, hội ý tập thể về việc tôi chụp hình. Tôi nhìn
máy điện thoại để trên bàn, ngay trước mặt, bực tức bị
bó tay, không được phép sử dụng.

Tôi miên man nghĩ đến mấy hôm trước ở Hà Nội tôi đã dùng
máy điện thoại đặt ở bàn tiếp tân khách sạn Dân Chủ.
Tôi muốn bắt liên lạc với một ông chú họ, đi kháng chiến
đã hai mươi mấy năm nay, hiện đang công tác tại Bộ kế
hoạch kinh tế. «A-lô, tôi muốn được nói chuyện với chú
tôi tên Hiệp, Lê Thành Hiệp, đang công tác ở đây». Một
giọng nói gắt gỏng bên kia tạt lại: «Hiệp đi rồi, vào Nam
rồi, mà đồng chí là ai, ở đâu lại điện thoại thế?».
Tôi lẽ phép đáp lại: «Tôi là Việt kiều tại Bỉ, điện
thoại từ khách sạn Dân Chủ đây». «Không được điện
thoại hỏi han lôi thôi nghe không». Giọng nạt sừng sộ làm
tôi cụt hứng, tay gác ống nói, lòng bớt vui…

Sau bốn tiếng đồng hồ hội đàm nghiêm chỉnh, ban thường
trực công an hạ quyết định thả tôi về, chả mất chi, chỉ
mất ăn giao thừa với gia đình thôi. Mấy ông công an nói nhỏ
theo: «Mong đồng chí đừng báo cáo với cấp trên nghe, nguy cho
chúng em lắm đó!». Sau này tôi cũng chẳng nói với ai chi tiết
không vui nhỏ này. Tôi chỉ nhớ lời cháu tôi bảo trên
đường về: «Mình được thả là nhờ cậu không sợ đó,
nếu cậu sợ chắc mút mùa quá».

<h2>Bối cảnh 3</h2>

Hè 77, một năm sau, tôi lại trở về Việt Nam. Lần này đi
công tác giảng dạy ngành chuyên môn của tôi, có chuẩn bị
trước, có giới thiệu của Đại học Liège, có công văn của
Ủy ban khoa học kỹ thuật nhà nước… Chuyên môn của tôi là
phát triển và sử dụng các chương trình tính độ bền kết
cấu cơ bằng phương pháp phần tử hữu hạn. Dạy lý thuyết
cho nghiên cứu sinh ở Hà Nội mười lăm ngày, xong cùng sinh
viên lấy máy bay vào Sài Gòn thực tập trên máy IBM của Mỹ
để lại tại Tân Sơn Nhất.

Tôi được tiếp rước rất ân cần, nhà nước lo cho ăn ở
rất đầy đủ, tiêu chuẩn của chuyên viên rất cao, ngang với
tiêu chuẩn của thứ trưởng (theo lời các bạn đồng nghiệp):
khách sạn tiện nghi, xe Volga có tài xế nhà nước, sử dụng
tùy hỉ, đi đâu cũng được ngay cả chủ nhật, bữa ăn bốn
năm món, gói thuốc thơm mỗi ngày! Tôi có dịp đi làm khoa học
nhiều nơi ở Âu – Mỹ nhưng phải nói chưa lần nào sướng
như vậy! Ở nước Việt Nam nghèo nàn của chúng ta, nhất là
ở Hà Nội, có tiêu chuẩn là sướng lắm, hơn cả ở Tây
phương! Chính sự nghịch lý này làm tôi bắt đầu đặt câu
hỏi và tỉnh táo hơn trong quan sát:

- Ơ hay! Sao không để anh tài xế ngồi bàn ăn chung với chúng
ta, tôi mời anh ấy đấy!

- Sao lạ! Đem theo ít tiền muốn mua chút quà về Sài Gòn cho gia
đình mà hỏi đồ gì cũng không có, chỉ có đồ chưng làm
kiểng, ngắm cho vui qua cửa kính thôi!

- Quái đản! Sao ông giám đốc Trường đại học xây dựng có
vẻ không biết gì về chuyên môn trong khi các đồng nghiệp
thứ dưới lại rất thành thạo từ sinh ngữ đến chuyên môn!

Khẩu hiệu căng ngoài phố Hà Nội không giống ai! «Thanh niên
thủ đô lập công dâng Đảng». Lập công vì dân, vì tổ
quốc, vì Đảng còn nghe được, sao lại phải dâng một mình
Đảng, chữ dâng có gì thiếu dân chủ!

Có buổi rảnh tôi đi thăm Thư viện trung ương Hà Nội. Ông
giám đốc thư viện hướng dẫn tôi tham quan. Tôi chú trọng
đến khu sách khoa học, kỹ thuật. Kệ sách nào cũng bắt đầu
bằng những cuốn kinh điển của Mác, của Lênin, của Stalin,
của Bác Hồ, của đồng chí tổng bí thư Lê Duẩn, của đồng
chí Trường Chinh, của thủ tướng Phạm Văn Đồng, của các
nhà lãnh đạo rồi mới vào chuyên môn. Đồng chí giám đốc
thư viện giải thích:

- Khoa học kỹ thuật của chúng tôi là khoa học kỹ thuật phát
suất từ chân lý Mác – LêNin, khoa học kỹ thuật xã hội
chủ nghĩa, áp dụng qua điều kiện cụ thể Việt Nam soi sáng
bởi tư tưởng và lý luận của các nhà lãnh đạo Đảng và
nhà nước! Không có chân lý Mác – Lênin thì không có khoa học
kỹ thuật xã hội chủ nghĩa, không có khoa học chân chính. Cái
ưu việt của khoa học xã hội chủ nghĩa phát xuất từ quan
điểm cơ bản ấy. Các nước xã hội chủ nghĩa phát triển
nhanh và vượt qua các nước tư bản cũng nhờ nắm được
nguyên lý ấy! Vân vân …

Phải nói lời giải thích của đồng chí giám đốc làm tôi
lạnh cả người hôm ấy! Có một cái gì rất là trầm trọng
đã bị va chạm ở tôi đến mức cao độ. Tôi bắt đầu thấy
sợ. Còn gì đáng ngại hơn sự trói buộc của tri thức, của
khoa học, của kỹ thuật, của chuyên môn, trói chặt bằng
những sợi dây vô hình nhưng cứng như thép, hồng như máu!

Tôi nghĩ đến tương lai Việt Nam, nghĩ đến sự phát triển
kinh tế, đến sự vận dụng khoa học kỹ thuật vào công cuộc
kiến thiết đất nước, và đêm ấy thao thức trằn trọc
không ngủ được…

Cuối tuần mệt mỏi, nóng bức, tôi bảo tài xế chở đi Hạ
Long chơi. Cảnh trí thiên nhiên đẹp vô ngần, nhưng tôi vẫn
thấy day dứt, xót xa. Bãi tắm vắng bóng người dân Việt Nam,
chỉ một ít Việt kiều, vài người cán bộ, năm ba chuyên gia
Đông Âu… Hỏi ra mới biết, vì lý do an ninh, đã từ lâu dân
thường không được bén mảng đến bãi tắm sang trọng này!

<h2>Bối cảnh 4</h2>

Sau hai tuần, tôi cùng đoàn nghiên cứu sinh bay về Sài Gòn
thực tập trên máy tính. Nguyên tôi có mang về một chương
trình tính lớn, chương trình vạn năng SAMCEF được thiết kế
và tạo dựng tại Đại học Liège từ những năm lục niên.
Máy IBM ở Tân Sơn Nhất không chịu chấp nhận chương trình
này vì hệ thống điều động chuyên về quản lý máy bay quân
sự Mỹ chứ không chuyên về tính toán khoa học. Chương trình
của tôi chất chứa nhiều chương trình con quá! Thông thường
tôi quen cần một chuyên gia biết sử dụng máy bên cạnh khi có
vấn đề. Đồng chí giám đốc cơ sở lần lượt gọi ra ba
bốn chuyên gia, trung úy này, đại úy nọ trực thuộc quân
đội, tốt nghiệp từ Liên Xô, Tiệp Khắc. Cả ngày họ lục
đục giải quyết vẫn không xong, máy không chịu chạy. Tôi
đề nghị:

- Máy này có từ trước giải phóng, như vậy chắc có chuyên
gia Sài Gòn cũ, sao không thử gọi một người đến giúp tôi.

Ai nấy đều đứng đờ ra, không phản ứng. Tôi tìm cách năn
nỉ:

- Chuyến đi của tôi mất bao nhiêu công quỹ nhà nước đôi
bên, chương trình đem về có giá trị thương mại và khoa học
lớn, chạy không được té ra hoài công, mất của, chả đâu
vào đâu…

Sáng hôm sau, tôi rất mừng thấy một anh kỹ thuật gia Sài Gòn
cũ được gọi đến. Anh rất lễ phép đến độ khúm núm, tự
giới thiệu tên tuổi rành mạch. Sau một giờ làm việc, sửa
chữa, máy chấp nhận chương trình và chạy thông suốt. Chương
trình quá dài không đủ giấy in, phải cho ngưng lại về Sài
Gòn xin thêm giấy mới in ra được hết! Tôi mừng vô hạn,
rối rít cám ơn anh chuyên gia ''ngụy'' và đề nghị ngay:

- Đánh dấu buổi vui hôm nay, tôi xin mời toàn bộ ban phụ
trách máy tính, các đồng nghiệp tháp tùng từ Hà Nội một
buổi tiệc tối mai tại nhà hàng Caravelle.

Tôi nói thêm:

- Tôi mời hết thảy mọi người, ngay cả anh chuyên gia giúp
tôi hôm nay và nhất là anh ấy vì anh đã cứu nguy cho tôi vào
giờ chót…

Tối hôm sau, tại tầng lầu cao nhất khách sạn Caravelle, buổi
tiệc được đông đủ mọi người đến dự: đại tá giám
đốc, đại úy tổ trưởng, trung úy máy tính, các vị đồng
nghiệp, ngay cả gia đình tôi. Duy có anh chuyên gia Sài Gòn cũ
thì không thấy. Hỏi ra chẳng ai biết lý do. Tôi buồn năm
phút…

<h2>Bối cảnh 5</h2>

Hè năm 79, tôi lại về Việt Nam nối tiếp công tác cũ. Lần
này tôi quyết định thâu ngắn chương trình giảng dạy, đặt
trọng tâm giúp gia đình giải quyết những vấn đề sinh nhai
hóc búa hàng ngày, cùng gặp gỡ trao đổi sâu hơn với các
bạn bè khoa học trong nước. Sự băng hoại của xã hội, sự
thiếu thốn của đời sống người dân đã đi đến mức trầm
trọng rõ rệt. Tôi thấy đặt ra những vấn đề khoa học tính
toán cao siêu như không đâu vào đâu nữa. Khoa học đã trở
thành một thứ xa xí phẩm vô vị trong một khung cảnh xã hội
chưa giải quyết được miếng ăn, manh áo…

Tôi tâm sự với các bậc khoa học đàn anh đứng tuổi trong
những buổi đi ăn thịt cầy ở ngoại ô Hà Nội :

- Chắc chúng tôi phải làm gì các anh à, chắc phải vận động
Việt kiều hải ngoại gửi kiến nghị, thảo điều trần về
cho Đảng và chánh phủ mong họ sửa đổi. Nếu tiếp tục như
vầy thì nguy quá, họa đến không xa, họa đói, họa mất
nước, họa diệt vong… Việt Nam ngày nay là ốc đảo nghèo
đói trong khung cảnh Đông Á – Thái bình dương phát triển
nhảy vọt trên con đường thịnh vượng giàu sang !

- Không được, Hưng ơi! Vô ích. Cậu không phải là một Trần
Đức Thảo, một Nguyễn Mạnh Tường, một Hoàng Xuân Nhị.
Rồi kiến nghị chắc tới tay lãnh đạo không? Rồi kiến nghị
đòi hỏi gì? Đòi nhà nước mở cửa, đòi Đảng coi trọng
chất xám ư? Như vậy có gì là mới mẻ. Nguyễn Trường Tộ
thời Nguyễn đã làm rồi. Cái khác là ngày nay chế độ ở
Việt Nam là chế độ xã hội chủ nghĩa, đỉnh cao của trí
tuệ loài người. Kiến nghị như vậy là bị coi chống Đảng
ngay, bị xé bỏ ngay. Tội nặng lắm, tội dám so sánh chủ
nghĩa xã hội với chủ nghĩa phong kiến!

- Kiến nghị đòi tự do, dân chủ, dân quyền ư? Hữu khuynh
hạng nặng, tư sản chủ nghĩa cùng mình, chế độ xã hội
chủ nghĩa có tự do, dân chủ cả ngàn, cả triệu lần hơn
chế độ tư bản chủ nghĩa mà còn phải đòi hỏi gì nữa…

Tôi trở vào Sài Gòn ở thêm một tuần với gia đình trước
khi chuẩn bị lên đường trở lại Âu châu. Thỉnh thoảng lấy
xích-lô đi dạo phố giải khuây. Nhìn anh xích-lô, gương mặt
sáng sủa, ăn nói lời lẽ rành mạch, tầm hiểu biết khá sâu
và cao, tôi lấy làm lạ. Chú ý nhìn mãi mới nhớ ra:

- Trời! Có phải anh là Cẩn không? Cẩn học trường Pants bên
Paris về nước năm 67?

- Vâng, phải Hưng không? Hưng đi Bỉ năm 59 phải không?

Thành ra anh bạn học xuất sắc tôi từng thán phục ngày nào
bây giờ phải đạp xích-lô để kiếm ăn qua ngày…

Lên sân bay Tân Sơn Nhất, tôi nhìn lại gia đình, bè bạn đi
đưa, nhìn những ánh mắt đăm chiêu, những gương mặt hốc
hác, lòng tôi như có gì ảm đạm, xót xa hơn những chuyến
trước. Tôi thấy tôi càng ngày càng xa ra. Một giới tuyến vô
hình nhưng vô cùng kiên cố đã được dựng lên giữa họ và
tôi, và phải qua thời gian tôi mới nhận diện ra nó một cách
chắc chắn. Kỹ thuật đông lạnh tinh vi nào đã hình thành
những khối băng khổng lồ vĩnh cửu, co cứng lại ngay trong
vùng nhiệt đới! Tôi cố bào chữa, nghĩ đến chiến tranh tàn
phá, cán bộ tiêu hao, nhưng vẫn thấy toát ra những điều
nghịch lý của một cơn ác mộng. Sự thật đã vượt quá sức
tưởng tượng của tôi. Có một cái gì tuyệt đối, triệt
để, một chiều đến độ khó tin được. Có một cái gì thô
bạo, quá khích, giáo điều và gian trá đã trở nên nề nếp
bình thường, bình thường đến mức không mường tượng ra
nổi!

Tôi chỉ thấy tôi chỉ là một người tình nhân có lòng tin
yêu tha thiết nhưng ý trung nhân của tôi đã đặt tôi vào
chuyện đã rồi, vào hoàn cảnh không trở lại được nữa.
Những năm tháng dài đằng đẳng sau này phải cố sống trong
khổ đau, trong yên lặng, âu cũng là phản ứng yếu đuối của
lòng tự trọng còn sót lại…

<h2>Bối cảnh 6</h2>

Trở sang Bỉ, tôi quyết định đưa đơn xin vào quốc tịch nơi
cư ngụ. Tôi vốn rất thích đi đó đi đây, và nghề nghiệp
cho phép thường xuyên đi tham dự hội nghị, hội thảo khoa
học khắp năm châu. Tờ hộ chiếu Việt Nam đặt cho tôi bao
nhiêu vấn đề mỗi chuyến đi. Tôi lại quyết định chấp
nhận được đề cử thuyên chuyển đi dạy ở Kinshasa, Zaðre,
Phi châu, trong thời gian dài năm năm.

Zaire (nay là Công - gô) là một nước dân trí còn kém. Lúc thu
hồi độc lập (1960), tri thức có cấp bậc đại học đếm
trên đầu mấy ngón tay. Đất nước được thiên nhiên hậu
đãi, tài nguyên dồi dào, khí hậu thuận lợi. Đất tốt, mưa
nhiều, cây cỏ tự mọc lên, người dân chỉ hái lượm cũng
đủ ăn. Trong quá trình phát triển, họ không qua giai đoạn làm
nông. Chính cái chỗ họ đốt giai đoạn đi thẳng lên công
nghiệp hóa, đã gây ra không ít vấn đề trên con đường mở
mang kinh tế. Tuy vậy, thành phố Kinshasa nhà cao, cửa rộng, xe
cộ tấp nập, đường sá mới mẻ. Dân chúng ăn mặc nói chung
sạch sẽ, ăn uống nói chung đầy đủ. Đám đông người Zaire
tươm tất, tươi vui hơn đám đông Việt Nam nhiều. Ý nghĩ ấy
làm tôi thấy xót xa, tủi phận, chán chường…

Cơ quan quốc tế nào cũng có mặt ở đây. Chánh phủ Zaire giao
dịch với hầu hết các nước trên thế giới. Nhật xây một
chiếc cầu lộng lẫy, cầu treo Matadi. Pháp xây trung tâm vô
tuyến truyền hình nguy nga. Tây Đức xây trung tâm thương mại
tân kỳ. Trung Quốc xây Palais du Peuple thinh thang. Hoa Kỳ xây
trung tâm nông nghiệp rất là qui mô. Bỉ xây làng đại học
Kinshasa thật là đồ sộ…

Những người đi hợp tác quốc tế như tôi thường có dịp
gặp nhau trong những buổi tiếp tân, tiệc tùng. Và trong những
buổi ấy, người da vàng như tôi không phải là hiếm:

- Anh phải Việt Nam không?

- Vâng.

- Anh từ đâu tới?

- Từ Canađa, tôi đi với tư cách chuyên gia của chánh phủ
Canađa về ngành luyện kim.

- Tôi từ Hoa Kỳ, cố vấn nông nghiệp.

- Tôi từ Pháp sang, chuyên gia hàng không chánh phủ Pháp gởi
sang giúp hãng Air Zaire.

- Tôi cũng là Việt Nam nhưng từ Tây Đức, chuyên gia khai thác
rừng của một hãng tư gởi sang.

- Tôi từ Thụy Sĩ, chuyên gia ngân hàng.

- Tôi cũng từ Pháp, nhưng sau đó sang định cư tại Luxembourg
vì làm cho Thị trường chung Âu châu. Hiện tôi là đại diện
Thị trường chung Âu châu tại Zaire.

- Tôi từ Anh, di tản kiếm ăn từ năm 75, nay làm cho Ngân hàng
quốc tế, chuyên gia cầu đường.

- Và tôi cũng là người Việt Nam, đi từ Bỉ sang hợp tác
đại học về ngành cơ…

Rồi chúng tôi hẹn gặp lại ngày Tết Việt Nam, ăn chung cái
Tết Congo, Tết rất là thật, có câu đối, có cành mai, có
bánh chưng, có tràng pháo và nhất là có chung một tâm trạng
của những chất xám lưu vong… Rồi càng ngày chúng tôi càng
thân nhau, tuy mỗi người, mỗi gia đình vẫn giữ quan điểm
riêng của mình về chánh kiến, về lịch sử, về Việt Nam,
mỗi người có một quá khứ riêng, một hoàn cảnh riêng. Phải
nói phần đông chúng tôi có địa vị khá quan trọng trong lãnh
vực của mình và chánh quyền Zaire giao cho chúng tôi những
trách nhiệm không phải là nhỏ. Và nhờ liên lạc thân thiết
thường xuyên, nâng đỡ nhau trong công việc và cuộc sống,
nhờ ban giao tốt với người sở tại, chúng tôi được tiếng
lành là những người Á châu hữu hiệu và năng động. Đôi khi
ngồi lại, suy nghiệm chuyện đời, chúng tôi ai nấy không
khỏi bật cười cho cái cảnh éo le của con người Việt Nam
hôm nay. Phải đi sang cái xứ Phi châu xa xôi này mới tìm thấy
được một khung cảnh Việt Nam hài hòa, đa nguyên, đa dạng,
mới có trách nhiệm đúng với khả năng, mới được trọng
dụng và biết quý trọng lẫn nhau…

Một hôm, tình cờ tôi vào cơ quan IBM. Thấp thoáng bên trong
một dáng dấp người Á châu. Tôi chưa kịp hỏi, người ấy
chạy ra chào tôi:

- Phải anh là Hưng không? Giáo sư Hưng?

- Hình như tôi đã gặp anh, ở đâu không nhớ.

- Tôi là Phu, chuyên viên IBM có làm việc với anh ở Tân Sơn
Nhứt năm 77 ấy mà. Không nhận ra tôi sao? Tôi đi tàu, định
cư tại Hoa Kỳ năm 81, được cử sang đây vì tôi nói thạo
tiếng Pháp.

Giờ đây tôi mới hiểu ra lý do vì sao, bữa tiệc tại
Caravelle, anh bạn chuyên viên Sài Gòn cũ đã không đến được.

<h2>Bối cảnh 7</h2>

Tôi trở về Âu châu, làm việc lại ở Đại học Liège, Bỉ.
Lâu lâu tìm gặp anh em trong hàng ngũ phong trào Việt kiều ngày
trước cho thấm lại chút hương vị ấm áp ngày xưa. Nhưng
hương vị có cái niềm cay đắng! Phong trào ở Bỉ tha hóa
đến cực độ! Năm ba người, vài gia đình khum lưng, khép
miệng đi theo thời cuộc, số đông rút lui vào bóng tối, vào
yên lặng, vào quên lãng, vào sinh kế hằng ngày…

Nhưng rồi có biến chuyển. Đại hội VI của Đảng cộng sản
Việt Nam, Đại hội bất thường tháng 9-86 của phong trào Việt
kiều Tây Đức, những bài trên báo Văn Nghệ, báo Tuổi Trẻ,
sự chuyển mình của báo Đoàn Kết, những bài tham luận của
nhà văn Dương Thu Hương, cuộc Hội thảo Việt Nam 88 ở Dourdan
(Pháp), sự ra đời của những diễn đàn mới tại Bỉ…

Tôi như lấy lại chút sinh khí, lại chuẩn bị về Việt Nam
lần thứ tư, và mới thực hiện chuyến đi ấy cách đây có
mấy tháng, dịp tết Kỷ Tỵ vừa qua.

Rất nhiều thay đổi khá rõ nét ở Thành phố Hồ Chí Minh. Chú
tôi mỗi ngày mua báo để đọc chứ không để gói đồ thôi
như trước nữa. Vợ chồng ông anh họ tôi không nhờ xin giấy
sang Bỉ nữa, dì tôi sai cháu sơn lại mặt tiền căn nhà để
ăn Tết, dượng tôi bớt nghe đài BBC, cháu tôi tập tành học
nhảy rock… Đã có những nụ cười chân thật, đã có những
niềm tin hài hòa, đã nói tới con người, đã bàn đến hạnh
phúc… Ở những cơ sở tôi thăm viếng, đã có người đứng
ra lấy trách nhiệm quyết định công việc cụ thể, không mất
thời giờ hoãn lại, chờ lịnh cấp trên.

Gió ấm đã nổi lên từ lòng đất, từ lòng người, từ bờ
sông Volga, sông Dương Tử. Những tản băng hà đã bắt đầu
tan dần. Nhưng vẫn còn đó đây, rất phổ biến, thấp thoáng
lúc ẩn lúc hiện, bóng dáng những áo thụng, mũ đỏ, hia đen,
ngày đêm cố sức hà hơi nóng, thoa dầu gió cho băng hà khỏi
tan nhanh. Những người phù thủy ấy của cuối thế kỷ XX vốn
sợ nước, sợ mặt trời, sợ sự thật. Họ lặn không chìm,
bơi không nổi. Họ e ngại băng hà rồi sẽ biến thành hồ,
thành biển, rồi sóng gió sẽ cuốn họ đi xa ra ngoài bến bờ
của lịch sử ngàn năm…

Một buổi sáng, tôi bước vào quán phở nhỏ gần trường đua
Phú Thọ để ăn điểm tâm. Những tiệm phở, quán cà-phê,
sạp bún bò Huế như vậy ngày nay mọc như nấm. Anh chủ tiệm
mập mạp săn đón ân cần:

- Chắc bác là Việt kiều mới về?

- Vâng, tôi từ Bỉ về ăn Tết.

Giọng nói khá nặng của một tỉnh miền Bắc của anh chủ
tiệm làm tôi chú ý.

- Chắc bác mỗi năm về ăn Tết ạ?

- Đây là lần thứ hai, lần đầu cách nay mười ba năm. Cũng
có về mấy lần nữa nhưng chỉ vào dịp hè thôi. Tết đầu
tiên của tôi ở Việt Nam là Tết Bính Thìn 76.

- Tết Bính Thìn, bác ở Bỉ, thế em biết bác, bác còn nhớ em
không?

- ???

- Bác quên em rồi. Em là công an nhân dân công tác ở quận
nhất ấy mà, bác chụp hình ấy mà, bác nhớ ra chưa?

Té ra anh công an mảnh khảnh ngày xưa bây giờ đổ ra làm chủ
tiệm phở, mập mạp hơn trước nhiều, làm tôi không nhìn ra
được.

Vâng, Sài Gòn ngày nay có rất nhiều đổi thay…


(Bắt đầu viết năm 1979, sửa lại và bổ sung năm 1989).

<em>* Xin cảm ơn GS Nguyễn Đăng Hưng đã gửi bài viết này cho
Nguyễn Xuân Diện Blog.</em>


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6095), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét