Đinh Thế Hưng - Tiếp tục bàn về sự độc lập của Thẩm phán

<strong><em>Ngay từ thời cổ Hy Lạp, Arixtốt, Platon đã từng mơ
ước đến một hình mẫu toà án độc lập, không thiên vị.
Arixtốt quan niệm rằng: Trong bất kỳ nhà nước nào cũng cần
phải có những yếu tố bắt buộc: Cơ quan làm ra luật có
trách nhiệm trông coi việc nước, các cơ quan thực thi pháp
luật và các tòa án, từ đó ông chia hoạt động nhà nước
thành ba thành tố: nghị luận, chấp hành và xét xử[1]. Trải
qua quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ cho đến nay, độc
lập xét xử của Toà án đã trở thành nguyên tắc pháp luật
của bất kỳ nhà nước dân chủ, văn minh nào. </em></strong>

Tuy nhiên, trong thực tế ở đâu đó vẫn còn tình trạng Thẩm
phán bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan lẫn khách quan làm
cho phán quyết của họ bị thiên lệch. Điều đó cho thấy
việc đảm bảo cho Thẩm phán nói riêng và Toà án nói chung
được độc lập xét xử chỉ tuân theo pháp luật luôn là khát
vọng và cũng là nỗi ưu tư của nhân loại ngàn đời nay.
Chúng ta đang tiến hành Chiến lược cải cách tư pháp trong
bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì
dân với trọng tâm là cải cải cách hệ thống toà án thì có
lẽ bàn về nguyên tắc Thẩm phán độc lập xét xử vẫn là
vấn đề xưa nhưng không hề cũ.

Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu nguyên tắc độc
lập xét xử dưới các góc độ khác nhau ở mọi cấp độ.
Nhưng chủ yếu là xem xét sự độc lập của Thẩm phán trong
mối quan hệ với các yếu tố khách quan- Sự can thiệp đến
công việc xét xử của Thẩm phán từ bên ngoài. Đó có thể
là sự tác động từ các cơ quan khác như hành pháp, lập pháp
thậm chí có ý kiến đề cập đến sự can thiệp của một
số cấp ủy địa phương đến hoạt động xét xử của thẩm
phán. Trong bài viết này, chúng tôi tiếp cận vấn đề độc
lập xét xử của thẩm phán dưới góc độ những yếu tố
chủ quan tác động đến tính độc lập xét xử của thẩm
phán. Tức là những yếu tố nằm bên trong ngành toà án và
trong mỗi thẩm phán làm cho thẩm phán không độc lập xét xử.

<strong>1. Thẩm phán có muốn độc lập không?</strong>

Trước hết công việc xét xử bao giờ cũng do con người –
thẩm phán đảm nhiệm và thật viễn tưởng khi người ta lập
trình hoạt động xét xử và giao cho máy móc đảm nhiệm.
Những năm 70 của thế kỷ trước, Giáo sư X.X A-lec-xây-ép đã
bàn đến vấn đề "Quan toà điện tử" khi ông đặt câu
hỏi: Phải chăng có thể thay thế vị quan toà bằng những máy
tính hiện đại có khả năng nắm bắt được cái tinh tế của
pháp luật và ngay từ đầu đã cung cấp những quyết định
theo yêu cầu của chúng ta?"[2] . Sau khi lập luận một cách
chắc chắn rằng: Sự vô tư, tính lôgic, trình độ chính xác,
tính độc lập của các quyết định luôn lệ thuộc vào các
tính cách cá nhân thẩm phán với tính tình ông ta; nếu ngồi
ghế bị cáo thì bất cứ ai cũng muốn vị quan toà thay cho
người máy quyết định số phận của họ, Giáo sư
A-lếch-xây–ép kết luận: Quan hệ giữa con người với nhau
phải được con người hiểu chứ không phải do máy móc phán
xét. Các thẩm phán trong những tình huống phức tạp của mối
quan hệ giữa con người với nhau, họ có thể hiểu được cái
mà không máy tính nào hiểu được.[3] Vấn đề quan toà điện
tử chỉ là viễn tưởng và trái với đạo lý của chúng ta.

Thẩm phán dù khi ngồi trên công đường xét xử trước hết
và mãi mãi là một con người nói như Mác là một thực thể
tự nhiên và xã hội, là tập hợp của tất cả các đặc tính
tâm, sinh lý và đặc tính đạo đức xã hội. Họ hoàn toàn có
thể mắc sai lầm, đôi khi dao động và dễ sa ngã.

Làm sao hạn chế được những tiêu cực của thẩm phán với
tư cách con người bình thường ấy với một Thẩm phán –
người đại diện của công lý mới là cả một vấn đề. Xem
xét một số trường hợp rất ít Thẩm phán thời gian qua bị
kỷ luật vì có tiêu cực trong công tác cho thấy: Những kẻ
"chạy án" không hề đe doạ, không hề cưỡng bức… những
Thẩm phán này[4]. Nói cách khác là các Thẩm phán hoàn toàn
được độc lập xét trong mối quan hệ với bên ngoài. Thế
nhưng, công lý đôi khi vẫn có thể mua được bằng tiền ngay
tại toà án mà đau xót thay người bán lại chính là các quan
tòa. Trường hợp này không nên đổ lỗi cho pháp luật, cho cơ
chế không đảm bảo cho thẩm phán được độc lập. Các thẩm
phán này đã không độc lập được với chính mình.

Để nguyên tắc xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật
không chỉ là những con chữ câm lặng trong hiến pháp và trong
các bộ luật có lẽ cần nhiều thứ. Song trước hết có lẽ
cần phải xem thẩm phán có muốn độc lập xét xử hay không?
Điều này có vẻ như vô lý nhưng thực tế cho thấy khi một ai
đó muốn né tránh trách nhiệm cá nhân, đổ lỗi cho tập thể
thì họ không muốn độc lập. Mặt khác, khi luật pháp rõ
ràng, trách nhiệm cá nhân không được đề cao, khi xảy ra hậu
quả xấu vẫn có cơ hội để đổ lỗi cho ai đó thì rõ ràng
đây là môi trường tốt cho những tiêu cực phát sinh. Những
thẩm phán năng lực yếu, tư cách đạo đức kém thì không
muốn độc lập. Đảm bảo cho thẩm phán độc lập xét xử
ngoài ý nghĩa nâng cao chất lượng xét xử còn có ý nghĩa xác
định lỗi và truy cứu trách nhiệm cá nhân.

Bên cạnh đó cần phải xem thẩm phán có đủ trình độ và
bản lĩnh để thực thi quyền độc lập xét xử mà pháp luật
và xã hội trao cho mình hay không? Tức là không chỉ "muốn",
"có khả năng" mà còn "dám" độc lập xét xử hay không?
Độc lập xét xử, chỉ tuân theo pháp luật- tưởng như đơn
giản nhưng có làm thẩm phán, có đứng trước những vấn đề
kiểu như có tội hay không có tội, chung thân hay tử hình…
mới thấy trình độ và bản lĩnh cần đến như thế nào? Học
hành không đến nơi đến chốn, không có dũng khí để bảo
vệ chân lý, sợ trách nhiệm, ba phải, dĩ hoà vi quý… là
những yếu tố chủ quan chi phối không nhỏ đến tính độc
lập xét xử của Thẩm phán hơn bất kì các yếu tố khách quan
nào. Không phải ngẫu nhiên mà pháp luật nhiều nước đòi
hỏi thẩm phán độc lập xét xử không chỉ tuân theo pháp
luật mà còn phải xét xử theo đúng lương tâm của mình.

Nhân đây xin được bàn đến vấn đề thỉnh thị án và
duyệt án đã từng diễn ra trước đây trong ngành toà án mà
nhiều người chỉ trích và cho rằng nó vi phạm nghiêm trọng
nguyên tắc độc lập xét xử. Tuy nhiên, chúng tôi lại có cách
nhìn khác tích cực hơn về vấn đề duyệt án (còn gọi là
báo cáo án) và thỉnh thị án. Việc trao đổi chuyên môn
nghiệp vụ giữa thẩm phán và Chánh án và giữa các thẩm phán
với nhau thậm chí với toà án cấp trên đi chăng nữa là công
việc cần khuyến khích bởi quy luật của nhận thức là cọ
xát nhiều ý kiến mới thấy được chân lý. Báo cáo án,
thỉnh thị án cũng là một trong những hình thức trao đổi
nghiệp vụ có cấm đi chăng nữa thì trên thực tế thì nó
vẫn diễn ra nếu một khi thẩm phán muốn biết ý kiến của
thẩm phán khác hay ý kiến của toà án cấp trên về một vụ
án cụ thể. Bởi vì luật của chúng ta không hề cấm những
người có lợi ích, quan hệ gia đình với nhau không được làm
cùng một toà án. Ví dụ: không cấm bố làm chánh án toà án
cấp tỉnh, con làm thẩm phán toà án cấp huyện hoặc ngược.
Nếu cấm duyệt án hay thỉnh thị án họ sẽ không xin ý kiến
người khác bằng một cuộc họp duyệt án hay hay bằng một
công văn thỉnh thị như đã từng làm mà sẽ xin ý kiến bằng
hình thức khác "phi chính thức" như gọi điện thoại hay
gặp gỡ trực tiếp… rất khó kiểm soát. Duyệt án, thỉnh
thị án sẽ không vi phạm nguyên tắc độc lập xét xử nếu
chúng ta coi đó là vấn đề trao đổi nghiệp vụ, hướng dấn
áp dụng thống nhất pháp luật của toà án cấp trên đối
với toà án cấp dưới chứ không phải là sự chỉ đạo và
đề cao trách nhiệm cá nhân của thẩm phán nếu xảy ra oan sai.
Có nghĩa là thẩm phán hỏi ý kiến ai đó là điều không thể
cấm nhưng khi khi xảy ra oan sai thì oan sai thẩm phán không thể
đổ lỗi cho việc phải làm theo ý kiến chỉ đạo của người
này người khác mà phải chịu trách nhiệm cá nhân bởi pháp
luật trao quyền độc lập xét xử cho họ nhưng họ không thực
hiện quyền đó.

<strong>2. Bàn về ông chánh án</strong>

Như trên đã nói cho dù dù đề cao tính độc lập của tòa án
và thẩm phán nhưng đây là hoạt động của con người, hơn
thế nữa là hoạt động của những người nhân danh nhà nước
nên nó vẫn cần phải được quản lý. Ở Việt Nam, hoạt
động quản lý tòa án các cấp cho thấy không ít những truân
chuyên. Ban đầu do Tòa án tối cao đảm nhiệm sau đó là Bộ
Tư pháp, hiện nay lại chuyển về cho Tòa án tối cao theo quan
điểm "người nào giỏi chuyên môn thì người đó làm quản
lý". Điều này chưa chắc đúng với lĩnh vực quản lý tổ
chức các toà án luôn lấy sự độc lập làm tiền đề. Về
mô hình quản lý các toà án, có nước giao cho Toà án tối cao
quản lý, có nước giao cho Bộ Tư pháp quản lý. Tuy nhiên, cách
thức quản lý các toà án địa phương của các toà án tối cao
không giống như chúng ta đang làm tức là cho dù toà án quản
lý nhưng có cơ chế đảm bảo cho sự độc lập của toà án
cấp trên với toà án cấp dưới, giữa chánh án với thẩm
phán. Ví dụ, như ở Canađa, có một Đạo luật về cơ quan
quản lý hành chính các toà án. Theo đó, cơ quan này sẽ chịu
trách nhiệm cung cấp dịch vụ hành chính cho toà án các cấp.
Ở Trung Quốc, Toà án nhân dân tối cao cũng quản lý toà án
địa phương về mặt tổ chức, nhưng họ cũng đang có ý
tưởng thực hiện chế độ quản lý tách rời công tác hành
chính tư pháp với nghiệp vị xét xử bên trong của toà án
nhân dân[5]. Như vậy, việc giao cơ quan nào quản lý tòa án
việc phải lý giải được mục đích của nó nhằm không chỉ
quản lý tốt mà phảỉ tuân thủ nguyên tắc tòa án độc
lập.

Theo pháp luật nước ta hiện hành, trong ngành Toà án có thực
tế là chánh án các toà án vừa thực hiện chức năng quản lý
hành chính vừa thực hiện chức năng tố tụng. Chúng ta không
áp dụng triệt để nguyên tắc "tam quyền phân lập" mà
gọi là phân công những các chức năng quản lý và tố tụng
có lẽ cần được phân định rõ ràng. Về mặt hành chính,
Chánh án là người lãnh đạo một toà án nào đó. Ông ta có
nghĩa vụ tổ chức việc xét xử, đôn đốc, kiểm tra tiến
độ giải quyết án của toà mình, xử lý kỷ luật Thẩm phán
khi họ vi phạm kỷ luật và pháp luât…Về mặt tố tụng
chánh án lại là người tiến hành tố tụng. Hơn nữa, xét
dưới góc độ quản lý, nhiệm vụ của Chánh án là lãnh đạo
nhưng lại là lãnh đạo những con người được quyền độc
lập xét xử. Đây có lẽ là cái khó cũng là cái đặc thù
của chức vụ lãnh đạo trong ngành toà án so với lãnh đạo
các ngành khác. Có người từng mạnh dạn đề xuất rằng
muốn thẩm phán độc lập thì phải hạ thấp vai trò của
Chánh án toà án bởi khi đề cao vai trò này có nghĩa là tạo
điều kiện cho việc chi phối hoạt động xét xử[6]. Chúng tôi
đồng với ý kiến này đồng thời bình luận thêm: Vấn đề
thẩm phán độc lập hay không độc lập so với chánh án không
chỉ nằm ở chỗ vai trò của chánh án lớn hay nhỏ mà nằm ở
giới hạn cụ thể giũa chức năng quản lý và chức năng tố
tụng của Chánh án. Về tố tụng thì Chánh án không thể can
thiệp vào công việc xét xử của thẩm phán. Nhưng về mặt
quản lý thì Chánh án phải biết được tình hình xét xử của
toà án mình như thế nào, chất lượng ra sao…. Nói tóm lại
là Chánh án không thể vì lý do Thẩm phán độc lập xét xử
mà buông lỏng quản lý hỏi đến việc gì của cơ quan mình
cũng không nắm được và càng không nên nâng cao hiệu quả
quản lý bằng cách biết mọi thứ kể bằng cách can thiệp qua
mức cần thiết vào vào công tác xét xử của thẩm phán. Hiện
nay theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Chánh án toà án có quyền : Tổ chức công tác xét xử của Toà
án, Quyết định phân công Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán,
Hội thẩm giải quyết, xét xử vụ án hình sự; quyết định
phân công Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với vụ án
hình sự. Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự cũng có quy
định tương tự. Như vậy, thẩm phán nào sẽ xử vụ án nào
là do Chánh án quyết định. Với quy định như vậy, hoàn toàn
có thể đặt ra giải thiết vì động cơ không trong sáng mà
Chánh án chỉ chọn những thẩm phán "hợp" với mình xử
những vụ án "hợp" với chánh án. Ở Đức quy trình phân
công xét xử theo thứ tự lần lượt và quay vòng không hề có
sự can thiệp của Chánh án làm cho mọi thẩm phán đều có cơ
hội xét xử ngang nhau. Có lẽ đây là cách thức tổ chức xét
xử cần được nghiên cứ áp dụng để đảm bảo sự độc
lập của chánh án và thẩm phán

<strong>3. Kéo dài nhiệm kỳ thẩm phán – đã đến lúc?</strong>

Khi còn sự lệ thuộc vào ai đó, hoặc còn sự sợ hãi thì
thẩm phán sẽ không thể độc lập được. Nếu đặt câu hỏi
thăm dò cho các thẩm phán Việt nam hiện nay rằng họ sợ gì
nhất thì có lẽ câu trả lời sẽ là: Sợ không được làm
thẩm phán nữa. Bởi vì được bổ nhiệm thẩm phán toà án
nhất thẩm phán là toà án tối cao là cả quá trình phấn đấu
lâu dài và gian khổ. Chính vì vậy, sự độc lập của thẩm
phán phải gắn liền với sự ổn định về vị trí làm việc.
Với logic này thì ở Việt Nam, việc bổ nhiệm thẩm phán theo
nhiệm kỳ, nhiệm kỳ quá ngắn (5 năm) như hiện nay rõ ràng
ảnh hưởng đến tính độc lập xét xử của toà án. Việc quy
định chế độ bổ nhiệm thẩm phán theo nhiệm kỳ ngắn như
hiện nay tất nhiên có lý do của nó. Đó là việc người ta
đánh đồng hoạt động xét của thẩm phán với hoạt động
của những chức danh bầu cử trong bộ máy hành pháp và lập
pháp mà chưa chỉ ra đặc thù của hoạt động xét xử. Thẩm
phán không phải là một chức vụ mà là một nghề nghiệp lấy
sự độc lập làm tiền đề thay cho phục tùng trên dưới. Bên
cạnh đó, còn có lý do đặc thù của Việt Nam đó chính là
chất lượng đội ngũ thẩm phán của chúng ta. Có thời gian
dài, đội ngũ thẩm phán Việt Nam không đựơc đào tạo bài
bản. Việc tuyển dụng, bổ nhiệm thẩm phán nhằm giải quyết
sự thiếu hụt về lực lượng một cách rất tình thế. Họ
là những cán bộ chuyển ngành, bộ đội xuất ngũ…chuyển
sang làm cán bộ toà án và hoàn chỉnh kiến thức cơ bản về
luật bằng các loại hình đào tạo phi chính quy đủ các thể
loại. Không phải tất cả nhưng rõ ràng chất lượng thẩm
phán đã bị ảnh hưởng bởi hậu quả lịch sử như vậy.
Việc bổ nhiệm thẩm phán theo nhiệm kỳ ngắn còn có lý do
khắc phục tình trạng những thẩm phán kém năng lực và phẩm
chất ngồi lâu giữ chỗ, tạo điều kiện cho một thế hệ
cán bộ trẻ được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp có cơ
hội trở thành thẩm phán. Tuy nhiên, đó là câu chuyện của
hôm qua. Hiện nay, khi đất nước hoà bình đã được hơn 30
năm, việc đào tạo cử nhân luật chính quy đã tái khởi
động, hàng năm cung cấp cho xã hội một đội ngũ đông đảo
cử nhân luật thì rõ ràng tư duy về nhiệm kỳ thẩm phán như
trên không có lý do để tồn tại.

Để vị trí nghề nghiệp của thẩm phán vững chắc, không bị
áp lực bởi vấn đề nhiệm kỳ, đảm bảo cho họ đựoc
độc lập thì cần thiết phải kéo dài nhiệm kỳ thẩm phán
tiến tới chế độ thẩm phán suốt đời. Kéo dài bao nhiêu
năm hay suốt đời là vấn đề cần bàn nhưng không thể quá
ngắn như hiện nay. Việc kép dài nhiệm kỳ thẩm phán phải và
chỉ với mục đích đảm bảo cho họ dựoc độc lập xét xử
chứ không phải là sự ưu đãi hay an sinh xã hội dành riêng cho
thẩm phán. Điều đó có nghĩa là nếu thẩm phán vi phạm đạo
đức nghề nghiệp, vi phạm pháp luật, năng lực yếu kém
(không thể độc lập xét xử) cần phải sa thải. Đương
nhiên, tại sao sa thải và sa thải như thế nào cần có tiêu
chí cụ thể ví dụ như cần có một đạo luật về thẩm
phán.

Như vậy, việc kéo dài nhiệm kỳ thẩm phán sẽ đem lại lợi
ích: Ổn định nghề nghiệp; tránh sự can thiệp của cấp uỷ
địa phương, các cơ quan hành pháp, lập pháp và ngay cả sự
can thiệp của toà án cấp trên vào công việc bổ nhiệm thẩm
phán sẽ làm cho thẩm phán không chỉ có khả năng độc lập
mà còn dám độc lập xét xử.

[1] Xem http://vi.wikipedia.org/wiki/Tam_quy%E1%BB%81n_ph%C3%A2n_l%E1%BA%ADp

[2] X.X. A- lech- xây – ép, Pháp luật trong cuộc sống của chúng
ta, bản dịch của Đồng Ánh Quang, hiệu đính Nguyễn Đình
Lộc, NXB Pháp lý 1986, tr.221

[3] X.X. A- lech- xây ép. Sđd, Tr. 223.

[4] Xem Báo cáo Tổng kết công tác năm 2009 của Toà án nhân dân
Tối cao: Năm 2009, có 44 người là thẩm phán hoặc lãnh đạo
TAND địa phương bị kỷ luật. Nguyên nhân chính của việc bị
kỷ luật này là do vi phạm phẩm chất đạo đức, nhận tiền
của đương sự, làm trái nguyên tắc quản lý tài chính, lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, có sai sót trong xét xử.

[5] Nguyễn Hải Ninh, Cải cách tư pháp ở Canada, Trung quốc và
Nhật Bản, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1 năm 2008.

[6] Ngô Huy Cương, Tổ chức tư pháp hướng tới nhà nước pháp
quyền : Một số vấn đề cơ bản, Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật số 7 năm 2003, Tr. 11.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6041), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét