Lời nguyền tài nguyên hay hệ quả của nền quản trị kém?

Điểm chung giữa các nhà lý thuyết về lời nguyền tài nguyên
là một nền quản trị kém đóng vai trò là một nhân tố quan
trọng để giải thích <em><strong>lời nguyền tài
nguyên</strong></em>.

Cụm từ "<em>lời nguyên tài nguyên</em>" lần đầu được
Richard Auty dùng trong cuốn sách của mình có tựa đề: Duy trì
phát triển trong các nền kinh tế khoáng sản: giả thuyết lời
nguyền tài nguyên vào năm 1993. Ông đã chỉ ra rằng "<em>không
chỉ các quốc gia giàu tài nguyên có thể thất bại trong việc
làm lợi từ của trời cho, thậm chí các nước này còn hoạt
động kém hiệu quả hơn các nước khác mà thiên nhiên kém ưu
đãi hơn</em>".

Các nghiên cứu cũng cho thấy việc khai thác tài nguyên thiên
nhiên, và thậm chí hơn thế, là hiện tượng bùng nổ khai thác
tài nguyên có thể gây ra các hậu quả tiêu cực tới tăng
trưởng kinh tế và phát triển con người trong giai đoạn dài.

Như vậy, không nên coi tài nguyên thiên nhiên như là vận may vô
tận, mà đòi hỏi cách quản lý kinh tế vĩ mô phù hợp và
quản trị hiệu quả, cụ thể là dưới dạng thể chế minh
bạch và có trách nhiệm giải trình.

<div class="special_quote"><strong>Tin liên quan:</strong>

<ul>
<li><a href="http://danluan.org/node/688">Qui luật thứ nhất của
nền chính trị dựa trên dầu mỏ</a></li>
</ul></div>

Nhưng để làm được điều đó, điều đầu tiên cần là
hiểu rõ hơn lời nguyền tài nguyên xảy ra như thế nào và
tại sao.

Hai thành phần cơ bản của lời nguyền tài nguyên không nằm
ngoài cái gọi là: căn bệnh Hà Lan và nền quản trị yếu kém.

<h2>Căn bệnh Hà Lan</h2>

Căn bệnh Hà Lan đề cập tới một tình huống hay hiện tượng
ở đó một ngành phát triển mạnh kéo theo sự thụt giảm của
các ngành khác, thường là ngành chế tạo, sản xuất. Thuật
ngữ này liên hệ tới kinh nghiệm của Hà Lan trong thập kỷ 70
của thế kỷ trước, khi mà ngành chế tạo và sản xuất đột
ngột sụt giảm trước việc khai thác lớn lượng dầu khí ở
vùng Groningen, Biển Bắc.

Trên thực tế, một ngành đang bùng nổ có thể liên quan tới
bất kỳ các ngành khác của nền kinh tế do ngành này thu
được các khoản tiền lớn từ xuất khẩu hay dòng ngoại tệ
chảy vào nền kinh tế. Do đó mà gây ảnh hưởng tới các lĩnh
vực kinh tế khác. Tuy nhiên, sự bùng nổ thường liên hệ
chặt chẽ với tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu mỏ
và khoáng sản bởi lẽ các tài nguyên này thường có những
biến động lớn về sản lượng hay nguồn thu do giá tăng đột
ngột, việc phát hiện ra các mỏ mới hoặc các công nghệ mới
làm tăng đáng kể sản lượng, vv.

Trong nguyên lý chính yếu của mô hình căn bệnh Hà Lan, một
ngành phát triển bùng nổ sẽ làm lu mờ các ngành khác trên hai
phương diện, thứ nhất qua việc chuyển nguồn lực qua ngành
đang bùng nổ (hiệu ứng chuyển dịch nguồn lực) và làm tăng
chi tiêu ở các ngành phi thương mại (hiệu ứng tiêu dùng).

Về phần hiệu ứng dịch chuyển nguồn lực, khi ngành khai thác
tài nguyên phát triển mạnh nó đòi hỏi vốn và lao động, do
đó mà tiền lương tăng lên. Điều này dẫn tới hàng loạt lao
động chuyển dịch sang từ các ngành yếu thế hơn cho ngành
khai thác tài nguyên.

Về khía cạnh hiệu ứng tiêu dùng, do sự bùng nổ của việc
khai thác tài nguyên nên nhà nước thu được một lượng nguồn
thu và ngoại tệ dồi dào. Việc dư thừa này có hại cho các
ngành phi thương mại như sản xuất, chế tạo và nông nghiệp
do chi phí đầu vào của các ngành này tăng lên. Đồng nội tệ
sẽ tăng giá so với ngoại tệ và làm khó khăn cho các ngành
sản xuất và chế tạo vì khả năng cạnh tranh quốc tế về
giá giảm xuống do ngành này lệ thuộc vào xuất khẩu.

Căn bệnh Hà Lan trở nên nghiêm trọng khi việc khai thác tài
nguyên đột ngột giảm do giá tài nguyên giảm hay nguồn tài
nguyên bị cạn kiệt. Sự biến động này có thể tạo ra một
sự mất ổn định cho nền kinh tế và có thể lan ra và ảnh
hưởng tới các ngành khác, và dĩ nhiên là gây thiệt hại cho
ngành sản xuất và chế tạo nhiều hơn.

Tuy nhiên, một trong các vấn đề tranh cãi chủ yếu trong mối
liên quan tới lời nguyền tài nguyên, là về vai trò của ngành
chế tạo và sản xuất trong sự tăng trưởng của nền kinh tế
quốc dân.

Davis (1995) đã lập luận rằng căn bệnh Hà Lan miêu tả một
sự biến đổi của nền kinh tế quốc dân từ một giai đoạn
dài cân bằng tới một giai đoạn khác. Ông gọi căn bệnh Hà
Lan là "một giai đoạn ốm yếu" với các dấu hiệu giản
đơn về "<em>sự dịch chuyển đột ngột và tạm thời trong
lợi thế cạnh tranh</em>" nhưng không có ngụ ý là có một
sự mất mát về kinh tế.

Mặc dù, các đề xuất về thuyết lời nguyền tài nguyên đã
lập luận rằng ngành chế tạo và sản xuất có các đặc
điểm đặc biệt và khá là quan trọng với các nước đang
trên đà phát triển và công nghiệp hóa. Họ lập luận vì
cạnh tranh trong ngành sản xuất và chế tạo là phụ thuộc vào
công nghệ, cạnh tranh khuyến khích cải tiến kỹ thuật, phát
triển giáo dục và học thông qua làm việc (Sachs & Warner 1995;
Gylfason, 2001).

Các khía cạnh này được liên tưởng tới "vẻ bề ngoài
tích cực" của ngành chế tạo và sản xuất cái mà lan tỏa
tới các ngành khác của nền kinh tế và thúc đẩy phát triển.

Nếu so sánh thì các ngành liên quan tới khai thác tài nguyên
không tạo ra các khuyến khích tương tự để đầu tư vào giáo
dục hay phát triển cong nghệ dù trên phương diện cá nhân hay
nhà nước.

Ý tưởng về các vẻ bề ngoài tích cực của ngành chế tạo,
sản xuất thì một chút nào đó vẫn mang tính suy đoán mà thôi
(Sala-i-Martin & Subramanian, 2003).

Thậm chí Sachs & Warner (1997) đã thừa nhận rằng những giả
định này phần lớn dựa vào các bằng chứng của các mối
quan hệ thuận giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng của
xuất khẩu của ngành chế tạo, sản xuất. Trong đó các nền
kinh tế mà đa dạng hóa xuất khẩu thì thực hiện tốt hơn.

Vì lý do này, các đề xuất khác về lời nguyền tài nguyên có
xu hướng nhằm nhấn mạnh những hiệu ứng của việc khai thác
tài nguyên thiên nhiên tới các nhân tố phi kinh tế như quan
trị và chất lượng thể chế…

<h2>Quản trị yếu kém</h2>

Một điểm chung giữa các nhà lý thuyết về lời nguyền tài
nguyên là một nền quản trị kém đóng vai trò là một nhân
tố quan trọng để giải thích lời nguyền tài nguyên.

Auty (2006) lập luận rằng việc khai thác tài nguyên thiên nhiên
tạo ra khuynh hướng một đường cung địa tô cao được đo
đếm bằng tỷ lệ của nguồn thu trên tổng đầu tư. Địa tô
cao ảnh hưởng tới chính phủ và các thể chế công bằng các
cách thức cá biệt.

Một cung đường địa tô cao sẽ có khuynh hướng ảnh hưởng
tới chính phủ trong các chính sách tái phân bổ địa tô thứ
mà có quyết định mang tính chính trị lớn hơn và trực tiếp
hơn, trong khi cũng làm chệch hướng các khích lệ từ sự tạo
ra thịnh vượng hiệu quả.

Nó cũng sẽ có khuynh hướng kéo dài sự ỷ lại của chính
phủ vào xuất khẩu các mặt hàng, trong khi thất bại trong
việc hấp thụ nguồn lực lao động nông thôn dư thừa, do đó
tạo ra tình trạng tăng thu nhập một cách thiếu công bằng
(Auty, 2006; Sachs & Warner, 1995).

Trái lại, một cung đường địa tô thấp như trong ngành sản
xuất, chế tạo, sẽ xui khiến chính phủ thúc đẩy sự tạo ra
thịnh vượng bằng việc cung cấp các mặt hàng và duy trì các
khuyến khích đầu tư hiệu quả (do vậy mà chính phủ có thể
thu hái được các nguồn thu từ thuế); khuyến khích một nền
công nghiệp hóa mang tính cạnh tranh từ sớm với lực lượng
lao động tăng cường và đòi hỏi việc đô thị hóa từ giai
đoạn sớm hơn; gây ra một chu kỳ xã hội đạo đức với
việc duy trì sự bình đẳng về thu nhập bởi lẽ một nền
công nghiệp sản xuất và chế tạo từ sớm có khả năng giải
quyết vấn đề lao động nông thôn dư thừa; và thu được
một lượng tiết kiệm thực cao hơn (Auty, 2006).

Tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF) cũng liên hệ "<em>hiệu
ứng tham lam</em>" của việc khai thác tài nguyên tới chất
lượng công quyền (Sala-i-Martin & Subrmamanian, 2003).

Họ lập luận rằng địa tô cao cho khai thác tài nguyên thiên
nhiên cổ vũ cho thói quan liêu và tìm kiếm địa tô tham lam,
những thứ mà có thể là các bảo hộ thuế tới quen biết
hoặc tham nhũng (Gylfason, 2001; Sachs & Warner, 1995).

Một số nhà lý thuyết cho rằng khai thác tài nguyên thiên nhiên
sẽ có xu hướng cổ vũ cho một "nhà nước bóc lột" hơn
là một nhà nước phát triển (Coxhead, 2007).

Ross (2001) cho rằng khi mà các chính phủ chủ yếu dựa vào
nguồn thu từ việc khai thác tài nguyên thiên nhiên hơn là thuế
thu nhập, các chính phủ này kém giải trình về các nhu cầu
từ các công dân của họ.

Trong nghiên cứu ở trên, ông lập luận rằng các thuế cá nhân
và đoàn thể cao hơn quan hệ chặt chẽ tới chính phủ dân
chủ hơn.

Ông cũng chỉ ra sự giàu có về dầu mỏ và khoáng sản đã
xúi giục các chính phủ đầu tư nhiều hơn vào an ninh nội
địa. Dù rằng các lực lượng được tăng cường nhằm giải
quyết các xung đột nổi cộm liên quan tới tài nguyên thiên
nhiên hay phục vụ lợi ích bản thân của chính phủ là không
rõ ràng, nhưng các lực lượng này luôn sẵn sàng để bảo vệ
lợi ích của chính phủ.

Địa tô cao có thể dẫn tới tình trạng chính phủ chi tiêu
lãng phí và dễ dàng, bao gồm mở rộng bộ máy chính phủ và
vung tay chi tiêu cho xây dựng cơ sở hạ tầng. Ở cả hai khía
cạnh chi tiêu này, các công chức có thể thu được các lại
quả.

Davis (1995) ghi chú rằng bóng ma căn bệnh Hà Lan có thể châm
ngòi cho các chính sách chủ nghĩa bảo hộ để hỗ trợ các
ngành công nghiệp thiếu hiệu quả hoặc tạo ra một trạng
thái lạc quan thái quá về kế hoạch kinh kế vĩ mô, dẫn tới
các phỏng đoán sai. Đơn cử trường hợp Mehico đã vay mượn
tài chính thiếu cân nhắc nhằm đối phó với các nguồn thu
đột ngột được dự đoán.

Sự đồng thuận ngày càng tăng giữa các nhà lý thuyết về
nguyên nhân đầu tiên của lời nguyền tài nguyên là từ một
nền quản trị yếu kém kết hợp với các quyết định chính
sách nghèo nàn, đặc biệt là trong sản xuất dầu mỏ và
khoáng sản.

Davis (1995) đã tóm tắt "<em>các chính sách công nghiệp hóa
mang tính tự cung tự cấp, bảo hộ các ngành đang ngắc ngoải,
các chính sách bất ổn về tỷ giá hối đoái và một chính
phủ can thiệp nặng nề với việc kéo dài các giai đoạn
điều chỉnh thông qua cách cấm đoán các biến chuyển mang nhân
tố ngành là phản ứng chung của căn bệnh Hà Lan</em>".

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/4285), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét