<ul>
<li><a href="http://danluan.org/node/668">Phạm Thị Hoài - Tư cách
trí thức Việt Nam</a></li>
<li><a href="http://danluan.org/node/2125">Vương Thế Lan - Trí thức
nên im lặng hay lên tiếng?</a></li>
</ul></div>
<h2>I. Trí thức và tầng lớp trí thức</h2>
Ở nước ta hiện nay có một số khá đông người được xã
hội, hoặc tự mình, coi là trí thức. Nhưng "<em>thế nào là
một trí thức?</em>" thì hình như chưa bao giờ được cắt
nghĩa một cách rõ ràng. Có thể đã có nhiều cá nhân trí
thức, nhưng những con người đơn lẻ ấy đã quy tụ lại
(chủ yếu là thông qua diễn đàn, dư luận) thành một giai
tầng của xã hội như là tầng lớp trí thức chưa? Đặc
điểm, tính cách của trí thức Việt Nam là gì? Vai trò và
trách nhiệm của trí thức trước vận mệnh của dân tộc ta
trong thời đại mới - thời đại kinh tế tri thức, thời đại
hội nhập toàn cầu, là như thế nào?
<div class="boxright220"><img src="http://danluan.org/files/u1/sub01/h4b.jpg"
width="237" height="317" alt="h4b.jpg" /><div class="textholder">Giáo sư
Chu Hảo, Giám đốc - Tổng biên tập NXB Tri thức, nguyên Thứ
trưởng Bộ Khoa học - Công nghệ & Môi trường.</div></div>
Mỗi câu hỏi trên đây đều đặt ra một vấn đề thảo luận
rất nghiêm túc và lý thú, có ý nghĩa quan trọng đối với
việc huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân
trong quá trình đổi mới - hội nhập - phát triển. Để đi
đến đồng thuận chắc cần phải có thời gian. Ở đây chúng
tôi chỉ xin đặt vấn đề và gợi mở, mong các bạn đọc
cùng chia sẻ.
Ai là trí thức? Đã từ lâu, ở nước ta tồn tại một khái
niệm đơn giản: Những người lao động trí óc là trí thức,
chỉ cốt để phân biệt với những người lao động chân tay
như công nhân và nông dân. Một quan niệm bớt đơn giản hơn
một chút thì cho rằng hễ có trình độ học vấn từ cấp cao
đẳng, đại học trở lên là trí thức. Trong tác phẩm "Sửa
đổi lề lối làm việc" viết năm 1947 Hồ Chủ tịch đã
dùng định nghĩa này. Theo chỗ tôi hiểu thì Người đã cố
tình giải thích khái niệm này (cũng như một số khái niệm
khác) một cách hết sức đơn giản, dễ hiểu, thích hợp với
trình độ dân trí của nước ta thời đó. Ngày nay, chúng ta
không nên quá câu nệ vào việc giữ nguyên định nghĩa này
của Bác Hồ.
Thật ra ngay từ khi từ "tầng lớp trí thức" (intelligentsia)
xuất hiện lần đầu tiên ở Nga vào nửa đầu thế kỷ 19, và
sau đó là từ "người trí thức" (intellectuel) xuất hiện ở
Pháp sau công xã Paris (1871), đã mang một ý nghĩa khá rõ ràng:
đó là những người không chỉ có học vấn hay trình độ
chuyên môn cao, mà hơn hết phải là những người quan tâm và
có chính kiến trước những vấn đề chính trị - xã hội nóng
bỏng của thời cuộc. Cũng trong tinh thần cách mạng ấy Karl
Marx đã coi trí thức là những người có đủ tri thức để
quan tâm và có chính kiến riêng đối với các vấn đề của
xã hội nên họ phải là những người: "phê bình không nhân
nhượng những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa
rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính quyền
hoặc trước xung đột với chính quyền, bất cứ chính quyền
nào". Cần phải hiểu rằng ở đây Marx chỉ muốn nhấn mạnh
trách nhiệm xã hội của người trí thức. "Những gì đang
hiện hữu" là những bất cập của các chính sách xã hội
hiện hành, chứ không thể là những chính sách hợp lý, tiến
bộ. Người trí thức có năng lực phê phán và có tầm nhìn xa
nên thường hay tỏ sự bất bình trước sự trì trệ và bất
hợp lý một cách công khai và thẳng thắn.
Với những hiểu biết trên đây, chúng ta có thể suy ra rằng
tầng lớp trí thức của xã hội có thiên chức sau:
<em><strong>1) Tiếp thu và truyền bá tri thức KH&CN hoặc VH&NT ; 2)
Sáng tạo các giá trị mới của tri thức KH&CN hoặc VH&NT; 3)
Đề xuất, phản biện một cách độc lập các chủ trương
chính sách và biện pháp giải quyết các vấn đề của xã
hội; 4) Dự báo và định hướng dư luận xã hội.</strong></em>
Trong đó, hai điểm đầu tiên là chung cho những người lao
động trí óc. Còn hai điểm sau chủ yếu là riêng cho tầng
lớp trí thức.
Quan niệm về trí thức trên đây là phổ quát đến với các
xã hội văn minh cận, hiện đại. Riêng ở nước ta, từ khi có
lịch sử thành văn cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, quan
niệm này có lẽ chỉ thích hợp trong một giai đoạn phát
triển ngắn ngủi, từ đầu đến giữa thế kỷ 20, khi xuất
hiện tình huống giới trí thức mới (dùng chữ quốc ngữ) có
cơ hội trở thành một tầng lớp xã hội khá độc lập với
chính quyền về hoạt động nghề nghiệp và chính kiến. Ngoài
giai đoạn này, chúng tôi e rằng chưa bao giờ ở nước ta thực
sự có một tầng lớp trí thức như cách hiểu thông thường
của thế giới.
Thường ở ta, trí thức được gán một cách không đúng cho
những người gọi là "có học", chỉ xuất hiện ở xã hội
Việt Nam ở buổi đầu công nguyên từ khi nhà Hán du nhập Nho
giáo vào Việt Nam với mục đích giáo hóa và đào tạo quan
lại bản xứ. Sau khi giành được độc lập vào năm 939, các
triều đại phong kiến ngày càng tôn sùng Nho giáo; và đến
đời nhà Trần (thế kỷ 13) thì Nho giáo đã được coi là hệ
tư tưởng chính thống cho đến hết các triều Nguyễn (đầu
thế kỷ 20). Suốt gần một nghìn năm ấy chỉ có một thứ
được dạy và được học (một cách có hệ thống) là Nho
giáo (khác với sự chuyên biệt hạn hẹp của Phật giáo và
Đạo giáo). Các Nho sĩ sau khi đỗ đạt sẽ được bổ nhiệm
làm các quan lớn, nhỏ trong hệ thống cai trị của Nhà nước
phong kiến. Các Nho sĩ thi trượt thì trở lại làng quê vừa
dạy "chữ thánh hiền" như một kế sinh nhai, vừa "dùi mài
kinh sử" đợi kỳ thi sau, đợi được đi làm quan để "cả
họ được nhờ"!
Cái cơ hội "đổi đời" dường như duy nhất ấy đã tạo
ra, một mặt là cái mà chúng ta vẫn thường tự ca ngợi là
truyền thống hiếu học của dân ta, mặt khác, quan trọng hơn
đã tạo nên sự lệ thuộc đến nô dịch của những người
"có học" vào Nhà nước phong kiến. Và do đó, có thể nói
rằng dưới các triều đại phong kiến ở nước ta chưa bao
giờ tồn tại một tầng lớp trí thức theo cách hiểu đúng
đắn của từ này. Các sĩ phu là những người "có học" có
danh tiếng của các thời đại phong kiến, do vậy hầu hết
cũng chỉ là các "quan văn" mang sứ mệnh "phò chính
thống" mà thôi - họ không hẳn là người trí thức, hoặc
tầng lớp trí thức, như cách hiểu thông thường.
Đến giữa thế kỷ 19 cùng với sự suy đồi của triều
Nguyễn, sự xâm lược của thực dân Pháp và bước đầu tiếp
cận với nền văn minh công nghiệp phương tây, tầng lớp Nho
sĩ ở nước ta đã phân hóa sâu sắc và xuất hiện những nhóm
sĩ phu tiến bộ có đầu óc canh tân - tiền thân của nhóm trí
thức đầu tiên của nước ta nửa đầu thế kỷ 20. Những
nhân vật điển hình có thể kể đến là Vũ Tông Phan (1800 -
1851, cùng với Hội Hướng thiện); Nguyễn Trường Tộ (1828 -
1871); Nguyễn Lộ Trạch (1852 - 1895); Nguyễn Tư Giản (1823 -
1890); Phạm Phú Thứ (1820 - 1883) v.v... Đó chính là những sĩ phu
có đầu óc canh tân đầu tiên trong lịch sử nước ta, đặt
nền móng cho cuộc vận động giải phóng dân tộc vào cuối
thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 dù là theo đường lối bạo lực,
như các phong trào Cần Vương (Phan Đình Phùng, 1844 - 1895), và
Đông Du (Phan Bội Châu, 1867 - 1940); hay chủ trương tiến hành
một cuộc cách mạng văn hóa - giáo dục như phong trào Duy Tân
(Phan Châu Trinh, 1872 - 1920), và Đông Kinh nghĩa thục (Lương Văn
Can, 1854 - 1927).
Vào những năm đầu của thế kỷ 20, cùng với sự tàn lụi
của chế độ phong kiến và sự thiết lập chế độ của
thực dân, ảnh hưởng của tư tưởng Dân chủ tư sản và khoa
học - kỹ thuật phương tây đã tràn vào xã hội Việt Nam
thông qua Nhật Bản và Trung Hoa. Trong bối cảnh đó phong trào
Duy Tân và Đông Kinh nghĩa thục đã quy tụ được một tầng
lớp sĩ phu trí thức bao gồm các nho sĩ cách tân (Huỳnh Thúc
Kháng, 1876 - 1947; Trần Quý Cáp, 1870 - 1908; Đào Nguyên Phổ, 1861
- 1907 v.v...), và các trí thức mới dùng quốc ngữ và tiếng
Pháp (Trương Vĩnh Ký, 1837 - 1898; Phan Khôi, 1887 - 1960; Nguyễn
Văn Vĩnh, 1882 - 1936; Phạm Quỳnh, 1892 - 1945; Nguyễn Văn Tố,
1889 - 1947 v.v...). Đây chính là tầng lớp trí thức đầu tiên
của nước ta.
Hoàn cảnh lịch sử đã tạo ra cho một số người điều kiện
có chỗ đứng khá độc lập với chính quyền, có thể sống
bằng nghề lao động trí óc của mình chứ không nhất thiết
phải ra "làm quan", và tiếng nói của họ càng ngày càng có
uy tín trong xã hội. Họ phần đông là người hành nghề tự do
như bác sĩ, kỹ sư, luật sư, thầy giáo, nhà báo, nhà văn,
hoạ sĩ, nhạc sĩ, và nghệ sĩ... Những phần tử ưu tú trong
số đó chính là tầng lớp trí thức mới, và nhiều người
đã đóng vai trò nòng cốt trong các tổ chức văn hóa hoạt
động công khai. Đó là các hội, chẳng hạn Trí Tri, Khai trí
Tiến đức, Truyền bá Quốc ngữ và Tự lực Văn đoàn v.v...
Là các báo hoặc tạp chí, chẳng hạn Đông Dương, Nam Phong,
Tiếng Dân, Tri Tân, Thanh Nghị, Khoa học v.v... Tình trạng này
đã tiếp diễn cho đến năm 1945 khi Cách mạng Tháng Tám thành
công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ được tầng lớp trí
thức ấy tham gia vào chính quyền cách mạng non trẻ của mình.
Những nhân vật tiêu biểu như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn
Tố, Phạm Khắc Hoè, Vũ Đình Hòe... (xuất thân từ các sĩ phu
Nho học); Tạ Quang Bửu, Trần Đăng Khoa, Tôn Thất Tùng, Trần
Đại Nghĩa, Nguyễn Xiển, Hồ Đắc Di, Nguyễn Văn Huyên....
(xuất thân từ tầng lớp trí thức "Tây học") đã và sẽ
luôn là tấm guơng mẫu mực về phẩm tính cao quý của người
tri thức.
Tiếc rằng từ đầu những năm 50 của đầu thế kỷ trước,
ngay khi còn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tầng lớp
trí thức của chúng ta với những nhân cách văn hoá đẹp đẽ
ấy, lại rơi vào một thời kỳ phát triển đặc biệt mà
chắc còn cần phải tốn nhiều thời gian và công sức để
nghiên cứu một cách nghiêm túc sự tồn tại và vai trò của
họ trong xã hội. Thời kỳ phát triển đặc biệt này có thể
phân kỳ thành ba giai đoạn 1945 - 1950 là thời kỳ cách mạng
và kháng chiến nhưng hết sức "lãng mạn" của tầng lớp
trí thức yêu nước, 1950 - 1965 là thời kỳ du nhập một cách
hoàn chỉnh ý thức hệ đấu tranh giai cấp và phương pháp tư
tưởng Maoist vào Việt Nam, qua các phong trào chính huấn tư
tưởng, cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, phê phán
nhân văn gia phẩm và chống "xét lại"; 1965 - 1975 là thời
chiến mọi nhu cầu tinh thần và các giá trị văn hóa đều
hướng vào mục tiêu giải phóng Miền Nam và thống nhất đất
nước; 1976 - 1986 là thời kỳ quan liêu bao cấp, đặc biệt là
về mặt tư tưởng; 1986 cho đến nay là thời kỳ đổi mới và
hội nhập quốc tế. Mỗi giai đoạn trên đây đều có hoàn
cảnh chính trị - kinh tế - xã hội khá đặc biệt đối với
sinh hoạt tinh thần - tư tưởng của tầng lớp có học.
Sau giai đoạn giao thời 1945 - 1950, có lẽ tầng lớp trí thức
trước cách mạng đã không tồn tại nữa. Từ năm 1950 trở đi
tầng lớp có học ngày càng đông; các cá nhân trí thức thì
lúc nào cũng tồn tại, có lúc hết sức hiếm hoi như giai
đoạn 1950 - 1965; nhưng tầng lớp trí thức thì không tồn tại,
ít nhất là cho đến trước đổi mới (1986). Từ năm 1986 đến
nay tầng lớp có học có bằng cấp cao ngày càng đông nhưng
phẩm tính tri thức thì chỉ thấy ở những cá nhân lẻ tẻ.
Những cá nhân này ngày càng đông cùng với quá trình mở rộng
dân chủ trong sinh hoạt xã hội, nhưng điều kiện để cho họ
tự liên kết lại thành một tầng lớp có vị trí xác định
trong xã hội dân sự thì chưa đủ.
Cần phải có những nghiên cứu nghiêm chỉnh về tầng lớp
"có học" từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến nay để có
được bức tranh hoàn chỉnh về trí thức Việt Nam từ khi có
độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Muốn vậy ngoài việc thống kê đầy đủ sự biến
động về số lượng và tính chất hoạt động của những
người có học vấn nói chung, cần phải nghiên cứu hồ sơ
của những trí thức tiêu biểu qua từng thời kỳ. Hồ sơ của
những người như: Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang
Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Nguyễn Đình Thi... cũng
như của Phan Khôi, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh
Tường... sẽ nói lên được rất nhiều điều đáng quan tâm.
Vì chưa có điều kiện tìm hiểu một cách có hệ thống nên
ở đây chúng tôi đã không đề cập đến tầng lớp trí thức
(hoặc "có học ") ở miền Nam trong giai đoạn 1954 – 1975.
<h2>II. Phẩm tính "trí thức" Việt Nam</h2>
Đã là trí thức thì ở nước nào cũng vậy, thời đại nào
cũng vậy, đều có tính cách chung là: <em><strong>Tôn thờ lý
tưởng Chân - Thiện - Mỹ; Độc lập tư duy; Hoài nghi lành
mạnh; và Tự do sáng tạo</strong></em>. Tuy nhiên, mỗi dân tộc
đều có tính cách riêng, tầng lớp trí thức của mỗi dân
tộc cũng có bản sắc riêng. Chúng ta thường nghe nói: trí
thức Trung Hoa thâm thúy (thâm nho), trí thức Nhật khiêm tốn
(đến khách khí), trí thức Nga sâu sắc đôn hậu, trí thức
Mỹ thực dụng, trí thức Anh lạnh lùng tỉnh táo, trí thức
Pháp hào hoa phong nhã, v.v... Vậy trí thức Việt Nam có đặc
điểm gì? Chúng ta đã từng nghe nói đến tính cách "phò
chính thống"; và tính cách "quan văn", tựu chung lại là
tính "thích được chính quyền sử dụng". Có nhiều người
nói là tính cách "tuỳ thời", nghe có vẻ dễ chịu hơn chữ
"cơ hội" hay là "hèn" mà một số bạn đồng nghiệp
của chúng ta không ngại ngần khẳng định. Nguyên cớ gì mà
phải "hèn"? Đã "hèn" làm sao có nhân cách? Thiếu nhân
cách liệu có xứng đáng là trí thức? Nhiều ý kiến cho rằng
bi kịch của giới "trí thức" Việt Nam chính là ở chỗ
này!
Nhưng như vậy có lẽ chưa được công bằng cho lắm! Bởi lẽ,
còn có một thực tế khác nữa cần phải xem xét. Đó là tính
cách uyển chuyển, kết hợp "hành" và "tàng" của sĩ phu
- trí thức nước nhà. Điều kiện cho phép thì bung ra hoạt
động; lúc khó khăn thì tạm ẩn dật chờ thời, có khi
"tàng" ngay trong lòng cường quyền với tâm trạng "cấp
lưu, dũng thoái" (trước dòng nước xiết, can đảm thoái lui).
Thế nhưng ranh giới giữa thái độ đúng đắn này với cái
sự hèn thật là mong manh; chỉ "tự mình, mình biết cho
mình" chứ khó lòng mà phán xét từ phía ngoài. Vậy thực sự
trí thức Việt Nam có phẩm tính gì?
Phẩm tính cao quý nhất của người trí thức là Tôn thờ lý
tưởng Chân - Thiện - Mỹ, không bị gò bó bởi ý thức hệ,
dũng cảm đấu tranh cho lẽ phải, không khuất phục trước uy
quyền và không bị tha hóa bởi danh lợi. Nếu trong một xã
hội có nhiều người có học vấn cao đồng thời có những
phẩm tính như vậy lại liên kết được với nhau (chủ yếu
bằng diễn đàn và giao lưu tư tưởng chứ không phải bằng
các hội đoàn) thành một tầng lớp, thì đấy là một xã hội
dân sự lành mạnh, có nhiều tiềm năng phát triển.
Tạm gác sang một bên khái niệm "tầng lớp trí thức" như
cần được làm rõ ở mục I., chúng ta hãy xem xét tầng lớp
những người "có học" trong giai đoạn hiện nay phù hợp
với đối tượng điều chỉnh của NQTW7 khóa 10, mà từ những
năm 60 thế kỷ trước được Đảng và Nhà nước coi là "
tầng lớp Trí thức XHCN ". Trước Cách mạng tháng Tám, tầng
lớp "có học", như được xã hội đương thời công nhận,
có thể bao gồm những người có học vấn từ trung học, thâm
chí tiểu học, trở lên. Ngày nay, những người có bằng cấp
từ đại học, cao đẳng trở lên, được coi là tầng lớp
"trí thức ". Con số này vào khoảng 2, 6 triệu. Trong đó có
bằng Tiến sĩ khoảng 16 nghìn, Thạc sĩ 20 nghìn, Giáo sư
khoảng 1, 2 nghìn và Phó Giáo sư khoảng 7 nghìn. Lực lượng
này nằm đông nhất là trong các cơ quan quản lý của Đảng và
Nhà nước, sau đó là ở các trường học, bệnh viện, các
lực lượng quân đội an ninh, và doanh nghiệp. Lực lượng này
cũng được tập hợp trong một số Hội hoặc Liên hiệp hội
như: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên
hiệp các Hội Văn hóa và Nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà báo
Việt Nam...
Những nét đặc trưng của " tầng lớp trí thức XHCN " này
là gì? Ngoài những đặc tính được Đảng và Nhà nước và
phần nào là xã hội thừa nhận là ưu điểm, là tích cực
như: Yêu Tổ quốc và CNXH; Trung thành với Đảng và Nhân dân;
Cần cù, thông minh,sáng tạo; Không ngại khó khăn gian khổ...
thì những tiêu cực không thể phủ nhận được là hết sức
điển hình. Đó là:
1. Hời hợt trong tư duy và thiếu nghiêm túc trong nghiên cứu.
2. Tính cơ hội, thực dụng và vụ lợi trong hành xử.
3. Ưa thành tích và chấp nhận sự giả dối một cách dễ
dàng.
4. Thiếu tinh thần hợp tác và ít lòng vị tha.
Tất cả những mặt tiêu cực điển hình của tầng lớp có
học nói trên đều xuất phát từ một nguyên nhân chính là sự
mất dân chủ trong sinh hoạt tư tưởng, trước hết trong nội
bộ Đảng, rồi từ đó trong toàn xã hội. Sự mất dân chủ
này đã bắt đầu từ đầu những năm 50 của thế kỷ trước,
sau chiến dịch Biên giới, khi ý thức hệ đấu tranh giai cấp
và phương pháp tư tưởng Mao Trạch Đông, tràn vào Việt Nam
theo con đường chính thống, được một bộ phận chủ chốt
của Đảng tiếp thu và áp dụng một cách rốt ráo cho đến
tận trước Đại hội VI.
Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, phát huy dân chủ và
tự do tư tưởng đã được Đảng đề xướng (qua chủ trương
"cởi trói" của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh) và được
toàn dân hân hoan đón nhận, nhất là tầng lớp "có học",
đặc biệt là giới văn nghệ sĩ "được cởi trói". Nhưng
tiếc rằng chỉ ít năm sau đó không khí dân chủ trong sinh
hoạt tư tưởng dần dần bị loãng hẳn đi cho đến trước
Đại hội 10. Khi Đảng chủ trương lấy ý kiến của quần
chúng đóng góp cho văn kiện Đại hội 10, bầu không khí dân
chủ lại đuợc thổi vào một luồng sinh khí mới từ nhân
dân. Tiếc rằng ngay sau Đại hội 10 cho đến nay, càng ngày
càng có những biểu hiện đáng lo ngại về thực chất của
nền dân chủ của chúng ta. Điều này được thể hiện khá rõ
trong việc quản lý các hoạt động báo chí và xuất bản gần
đây.
Báo chí và xuất bản là mặt tiền, là thước đo của mỗi
nền dân chủ. Chúng ta muốn xây dựng một xã hội công bằng,
dân chủ và văn minh thì trước hết phải xây dựng được
một nền báo chí và xuất bản dân chủ và công bằng. Sách và
báo chí còn là vật mang, là phương tiện trường tồn của các
nền văn hóa. Chúng ta muốn có một nền văn hóa tiên tiến,
thấm đượm bản sắc dân tộc thì một lần nữa, trước hết
phải xây dựng được một nền báo chí và xuất bản tiên
tiến và nhân bản. Những nhiệm vụ nặng nề ấy không phải
của riêng ai mà của tất cả: Nhà nước, cộng đồng người
viết và cộng đồng người đọc.
<h2>III. Quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao chất
lượng tầng lớp trí thức ở Việt Nam</h2>
<h3>1. Các bài học lịch sử</h3>
Khẩu hiệu "<em>Trí, phú, địa hào đào tận gốc, trốc tận
rễ</em>", nghe nói có từ thời Xô Viết Nghệ Tĩnh, nhưng hình
như không có văn bản nào chứng tỏ đó là chủ trương chính
thức của Đảng Cộng sản. Tuy nhiên sau Cách mạng tháng Tám,
nhất là sau Đại hội lần thứ 2, nói chung khẩu hiệu này đã
được thực hiện ở các mức độ khác nhau, trừ một số
trường hợp được chính phủ Cụ Hồ trọng dụng, nâng đỡ
ngay từ đầu hoặc có hoàn cảnh đặc biệt mà cách mạng
không thể bỏ qua. Cùng với thắng lợi của cuộc cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân chúng ta đã trả giá đến tận ngày
nay cho thái độ kỳ thị của cách mạng đối với các tầng
lớp trí thức, công thương gia và địa chủ.
Thái độ kỳ thị này cũng giống hệt như thái độ của
những người cộng sản Nga từ sau Cách mạng tháng 10 đối
với tầng lớp trí thức của nước họ. Ngay sau Cách mạng
tháng 10, hàng ngàn gia đình trí thức Nga đã buộc phải lưu
vong ra nước ngoài. Số còn lại hầu hết đã trở thành đối
tượng của cách mạng và dần dần không còn tồn tại như
một tầng lớp xã hội nữa: Số muốn giữ nhân cách trí thức
thì bị đàn áp không những về mặt tư tưởng mà thậm chí
bị tù tội ở các khu cải tạo; số khác tự đánh mất mình
bằng thái độ "chùm chăn" hoặc cơ hội chính trị. Trong
cuốn sách "Về trí thức Nga" (ở mục Tài liệu tham khảo)
các tác giả cũng phân tích khá sâu sắc sự hình thành về
phẩm chất và thái độ chính trị của tầng lớp có học (mà
có người gọi là "trí thức nửa mùa") trong suốt thời kỳ
Xô Viết cũ. Họ chỉ ra rằng nhà nước Xô Viết cũ đã thực
hiện chính sách "cào bằng giá trị" và "đồng nhất xã
hội" để không còn tồn tại tầng lớp tinh hoa - tầng lớp
trí thức không đáng tin cậy dưới con mắt của tầng lớp
lãnh đạo. Một số nhỏ cá nhân trí thức tiêu biểu đã chỉ
được sử dụng như những bông hoa làm cảnh cho chế độ mà
thôi!
Tình trạng này không khác mấy so với các biến cố đã xảy ra
ở Trung Quốc đối với tầng lớp trí thức, nhất là trong
cuộc cách mạng văn hóa hồi những năm 60 và cuộc vận động
dân chủ hồi cuối những năm 80. Tầng lớp trí thức ở các
nước xã hội chủ nghĩa cũ ở Đông Âu cũng như vậy, cũng
hầu như tan rã sau những biến cố thăng trầm.
Câu hỏi được đặt ra là: Vì sao tất cả các nước theo xã
hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản
đều có một kết cục như nhau đối với tầng lớp trí thức
như vậy? Câu trả lời có thể là: <span class="underlined-text">Vì
trong tất cả các nước ấy đã không thực sự có tự do ngôn
luận và tự do tư tưởng</span>. Tình trạng đó đã bắt đầu
từ khi Lê Nin áp dụng nguyên tắc Tập trung Dân chủ trong
Đảng Cộng sản Nga trước và sau Cách mạng tháng 10 và trở
thành truyền thống của các Đảng Cộng sản. Thay vì Dân chủ
Tập trung, tức là trước hết phải thực hành Dân chủ, tôn
trọng các ý kiến khác nhau kể cả khi tuân theo nguyên tắc:
thiểu số phục tùng đa số, cấp dưói phục tùng cấp trên
v.v... các Đảng Cộng sản đã áp dụng nguyên tắc Tập trung
là chủ yếu, Dân chủ chỉ là thêm vào. Sau khi nắm chính
quyền, nguyên tắc Tập trung Dân chủ sai lầm này lại được
áp dụng trong toàn bộ máy Nhà nước và các đoàn thể chính
trị - xã hội.
Cơ chế mất dân chủ này đã xiết chặt cái "vòng kim cô"
mất lập trường giai cấp và chệch hướng XHCN lên toàn bộ
sinh hoạt tinh thần - tư tưởng trong nội bộ Đảng và toàn xã
hội ở tất cả các nước đã áp dụng mô hình chủ nghĩa theo
kiểu Xô Viết.
Cơ chế mất dân chủ với cái "vòng kim cô" ấy đã kìm hãm
sự phát triển của đất nước ta đặc biệt từ khi giải
phóng miền Nam: Đất nước đã thống nhất, nhưng lòng dân
vẫn chưa quy tụ về một cõi, khối đại đoàn kết dân tộc
không được như chúng ta mong muốn, nhiều khi không có sự
đồng thuận xã hội trong những vấn đề quan trọng của đất
nước.
<h3>2. Quan điểm và định hướng</h3>
Trong quan điểm và định hướng nhất thiết chúng ta phải
khẳng định rằng: Cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho
tầng lớp trí thức thực thụ được hình thành và phát triển
như Nghị quyết của TW Đảng về Xây dựng đội ngũ trí thức
đã nêu rõ. Muốn vậy, điều cốt lõi là phải thực hành
nghiêm chỉnh chế độ dân chủ trong sinh hoạt tư tưởng.
Phát huy dân chủ phải được đặt trên nền tảng mục đích
chung của dân tộc là xây dựng một quốc gia "Dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh". Mục
đích chung ấy là quyền lợi của dân tộc, phải được đặt
lên trên hết, trên mọi chủ thuyết, mọi ý thức hệ và mọi
lợi ích của các nhóm xã hội khác nhau.
Dân chủ không phải là sản phẩm chỉ của phương Tây (dù là
Hy Lạp cổ đại hay Tây Âu và Bắc Mỹ hiện đại) mà là sản
phẩm của cả nhân loại, trong đó có phương Đông. Phật giáo
hết sức đề cao <em><strong>Đối thoại</strong></em> và
<em><strong>Khoan dung</strong></em>, là cốt lõi sâu xa của Dân
chủ. Dân chủ là một chế độ, trong đó mọi công dân thực
có quyền được nhận xét, phê phán và chất vấn trực tiếp
các cấp lãnh đạo (ở nước ta là của Đảng và của Nhà
nước). Đúng như lời của Nelson Mandela nói: "<em>Bất cứ ai
muốn phát biểu có thể được nói. Đó là Dân chủ trong hình
thức thuần tuý nhất. Có thể không tránh khỏi tình trạng
dẳng cấp giữa vị trí quan trọng của người này với người
kia, nhưng dù là lãnh tụ hay dân thường, tướng tá hay thày
thuốc, buôn bán hay nông dân, đại chủ hay tá điền, người
nào cũng được nói... chính đó là nền tảng của Dân chủ:
Tất cả mọi người đều được tự do phát biểu ý kiến
của mình và tất cả đều bình đẳng như là công dân</em>".
Định hướng quan trọng nhất mà chúng ta cần là phải làm rõ
nội dung công thức "<em>Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
Nhân dân làm chủ</em>" như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã
nói: "<em>Về công thức Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
Nhân dân làm chủ, chúng ta cũng đã từng đưa ra từ rất lâu,
ngày nay cũng vẫn được nhắc lại như cũ. Nếu không làm rõ
nội hàm của những mối quan hệ đó thì vẫn lâm vào tình
trạng nói một đằng làm một nẻo. Chúng ta tiếp tục lúng
túng và khó tránh khỏi sẽ lại phạm vào những sai lầm trong
việc đảm bảo quyền làm chủ thực sự của nhân dân, trong
khi thường xuyên nói đến công thức kể trên như một cách
để nói, chứ không phải nói để làm, nói vậy mà không phải
vậy. Thực chất nội dung của công thức đó chính là đảm
bảo quyền Dân chủ trong Đảng, xây dựng được Nhà nước
pháp quyền vững mạnh, phát huy quyền tự do Dân chủ của công
dân đã được quy định trong Hiến pháp của Nhà nước CHXHCN
Việt Nam</em>".
Rút kinh nghiệm từ những bài học lịch sử, căn cứ vào
những quan điểm và định hướng kể trên, để nâng cao chất
lượng thực hành Dân chủ đối với đội ngũ trí thức (hay
là "có học" như nói ở trên) cần thiết phải có các giải
pháp sau đây:
3.1. Trước hết phải thực hành Dân chủ ở trong nội bộ
Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, trên
thực tế Đảng lãnh đạo và chi phối toàn bộ hoạt động
của xã hội. Nếu trong Đảng mà không thực sự có Dân chủ
thì ngoài xã hội không thể có Dân chủ.
Trước hết trong Đảng phải thực sự tôn trọng nguyên tắc
Dân chủ Tập trung chứ không phải Tập trung Dân chủ. Đại
hội đại biểu của Đảng là cơ quan quyền lực cao nhất, sau
đó đến Ban chấp hành Trung ương, rồi mới tới Bộ Chính
trị. Nguyên tắc này lâu nay bị vi phạm, thường là Bộ Chính
trị có quyền hạn tuyệt đối không những trong nội bộ
Đảng, mà còn đối với mọi vấn đề quan trọng nhất của
Nhà nước mà lẽ ra phải là trách nhiệm của Quốc hội.
Trong nội bộ Đảng, mọi Đảng viên nên đều phải được
phát biểu và bảo vệ chính kiến của mình song song với nguyên
tắc thiểu số phục tùng đa số, cần phải tôn trọng và tạo
mọi điều kiện để ý kiến của thiểu số được thảo
luận một cách công khai và bình đẳng.
Cơ chế dân chủ trực tiếp cần phải được phát huy tối đa
trong các cuộc bầu cử vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng
và Nhà nước.Việc bổ nhiệm Đảng viên vào các vị trí lãnh
đạo trong hệ thống Nhà nước phải được tiến hành một
cách dân chủ hơn. Không áp đặt tiêu chuẩn cấp uỷ Đảng
vào tiêu chuẩn lãnh đạo các cấp nhà nước. Một vị trí
lãnh đạo nhà nước có thể tiến cử hai Đảng viên có ý
kiến khác nhau về chủ trương về cách thực hiện để Quốc
hội hoặc Hội đồng Nhà nước lựa chọn, v.v....
Chỉ trong những điều kiện tối thiểu như trên thì tầng lớp
trí thực thực thụ của nước ta mới có thể tự hình thành
và phát triển một cách lành mạnh được.
3.2. Phải từng bước xây dựng một xã hội dân sự lành
mạnh.
Trong điều kiện chế độ chính trị có một Đảng lãnh đạo,
những khiếm khuyết do chế độ toàn trị gây ra có thể
được khắc phục, điều chỉnh một cách hữu hiệu bằng xã
hội dân sự. Xã hội dân sự lành mạnh là đối trọng, chứ
không phải là đối lập với Nhà nước. Sự đồng thuận xã
hội được giải quyết chủ yếu thông qua xã hội dân sự .
Trước mắt phải xây dựng được một Luật về Hội. Các
hội nghề nghiệp và quần chúng là thành phần quan trọng nhất
của xã hội dân sự. Quyền tự do thành lập Hội được ghi
trong Hiến pháp phải được thể hiện đầy đủ trong Luật
về Hội.
Chỉ trong một xã hôi dân sự lành mạnh như vậy tầng lớp
trí thức mới phát huy được phẩm tính trí thức của mình
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
3.3. Phải thực sự tôn trọng quyền tự do ngôn luận của công
dân như được ghi trong Hiến pháp.
Tự do ngôn luận là quyền được bình đẳng phát biểu công
khai ý kiến của mỗi công dân. Đó là cốt lõi của Dân chủ,
không có tự do ngôn luận thì không thể dân chủ.
Báo chí và xuất bản sách là công cụ chủ yếu để thực
hiện tự do ngôn luận. Luật về Báo chí và Xuất bản cần
được cải thiện hơn nữa, hướng tới chấp nhận nền báo
chí và xuất bản tư nhân và mỗi cá nhân tự chịu trách
nhiệm về các ấn phẩm của mình.
Không có tự do ngôn luận thì những người "có học" chỉ
có thể là những người là những người lao động trí óc (
thậm chí rất giỏi ) nhưng không thể trở thành một tầng
lớp trí thức mà các xã hội văn minh coi là tinh hoa.
<em>Hà Nội, tháng 6 năm 2010.</em>
________________
<h2>Tài liệu tham khảo:</h2>
1. Hồ Chí Minh, Sửa đổi lề lối làm việc, 1947.
2. N.M Voskpesenskaia và N.B Davletshina, Chế độ Dân chủ - Nhà
nước và xã hội (Phạm Nguyên Trường dịch), NXB Tri thức, Hà
Nội 2009.
3. Nhiều tác giả (Nga), Về Trí thức Nga, (La Thành và Phạm
Nguyên Trường dịch), NXB Tri thức, Hà Nội 2009.
4. Việt Phương, Dân chủ, Tài liệu tham khảo cá nhân, Hà Nội,
9 - 2008.
5. Trần Hữu Dũng, Dân chủ và phát triển, Thời đại mới,
Số 10 tháng 3 năm 2007.
6. Võ Văn Kiệt, "Đóng góp ý kiến vào báo cáo tổng kết lý
luận và thực tiễn hai mươi năm đổi mới", 2006.
[*] Xin cám ơn GS Chu Hảo vừa trực tiếp gửi cho chúng tôi bài
viết này, và cho phép đăng tải tại đây. Rất mong nhận
được ý kiến của quý vị độc giả xa gần. Chúng tôi xin
thành thật cám ơn!
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/5422), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét