đổi ý kiến không thể thiếu được trong một xã hội văn
minh. Ở nhiều nước, lưu lượng của những tranh luận cởi
mở và nghiêm túc được xem là một dấu hiệu của một xã
hội lành mạnh. Ở các nước phương Tây, hầu như ngày nào
báo chí cũng có những bài của những cây bỉnh bút tranh luận
về một vấn đề nóng nào đó. Trên tivi cũng có những cuộc
tranh luận trực tiếp giữa hai hay nhiều người về những chủ
đề từ "đại sự" đến những vấn đề tưởng như nhỏ
nhất. Trong các hội nghị khoa học, trước một vấn đề còn
trong vòng nghi vấn, người ta cũng có những chuyên gia tranh
luận dưới dạng những bài giảng khoa học.
Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc? Nói một cách ngắn
gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, một tranh luận nghiêm
túc là một cuộc tranh luận có qui tắc, mà trong đó người
tham gia không được, hay cần phải tránh, phạm luật chơi.
Những qui tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát
biểu bằng cách vận dụng những lí lẽ logic, với thái độ
thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo cảm tính,
lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận, đầu óc hẹp
hòi.
Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận nghiêm túc
trước khi phát biểu hay đề xuất ý kiến, đưa ra lời bình
phẩm của mình, cần phải xem xét tất cả các trường hợp
khả dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải
thích khác nhau, phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan
và cảm tính, phải tập trung vào việc tìm sự thật hơn là
muốn mình đúng, phải sẵn sàng chấp nhận những quan điểm
không được nhiều người ưa chuộng, và phải ý thức được
định kiến và chủ quan của chính mình. Khi tranh luận phải
nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm
bàn luận chứ không đi lạc đề. Không công kích vào cá nhân
và nhân thân của người tham gia tranh luận.
Đó là những đòi hỏi khó khăn cho một cuộc tranh luận nghiêm
túc có ý nghĩa, và không phải ai cũng có khả năng đạt
được những yêu cầu này, nhất là đối với người Việt
vốn chưa quan với văn hóa tranh luận. Do đó, không mấy ai
ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều trường hợp chất lượng
của những cuộc tranh luận giữa người Việt rất thấp. Chỉ
cần xem qua những cái-gọi-là "tranh luận" trên các diễn
đàn báo chí (và nhất là các "chat room" hay blog), người ta
có thể thấy đó không phải là tranh luận, mà là những cuộc
đụng độ giũa các cá nhân tham gia tranh luận, những cuộc
chửi bới, chẳng có lí luận của người tranh luận. Ngoài ra,
đối với một số người tham gia bình luận về một câu
chuyện nào đó là một cuộc dàn xếp, một sự đóng kịch,
nhằm tung hỏa mù hoặc lên lớp, hoặc a dua theo đám đông.
Đó là những kịch bản ngớ ngẩn đến tội nghiệp. Ngớ
ngẩn là vì người xuất hiện chẳng nói được gì cho đầy
đủ, mà cũng chẳng phân tích một vấn đề gì cho đến nơi
đến chốn.
Thật vậy, rất nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận
giữa người Việt chỉ là những cuộc chửi lộn, mà trong đó
người ta tha hồ vung vít, ném liệng vốn liếng chữ nghĩa qua
lại một cách hỗn độn, mà chẳng cần để ý đến logic hay
các nguyên tắc của tranh luận là gì. Hơn nữa, rất dễ dàng
nhận thấy rằng trong các cuộc tranh luận đó người ta nhắm
vào mục tiêu là nhân thân, cá nhân của người tranh luận chứ
không nhắm vào quan điểm và lí lẽ của người đó. Thay vì
tranh luận thẳng vào vấn đề, người ta tìm cách gắn cho
đối phương một nhãn hiệu, và từ đó làm lu mờ đi quan
điểm của họ. Trong hầu như những tranh luận, nhiều người
cố tìm hay tạo cho mình một vị trí đạo cao đức trọng cả
bằng cách gắn cho đối phương những danh từ và tính từ mang
tính miệt thị, một thủ đoạn có khả năng làm cho một cuộc
tranh luận trở nên một cuộc ẩu đã ngôn từ đinh tai nhức
óc thay vì là một trao đổi khoa học.
Thực ra, đó là một hình thức ngụy biện, một lỗi lầm cơ
bản nhưng nghiêm trọng trong tranh luận. Nói một cách đơn
giản, ngụy biện là những nhầm lẫn trong lí luận và suy
luận. Ngụy biện khác với logic. Logic, nói một cách ngắn gọn
trong trường hợp này, là những qui ước quản lí tính nhất
quán trong việc sử dụng ngôn ngữ. Giới triết học Tây
phương đã bỏ khá nhiều công sức để phân biệt thế nào là
logic và thế nào là ngụy biện. Aristotle có lẽ là một nhà
logic học đầu tiên có công phát triển các qui tắc và hệ
thống suy luận. Trong quá trình làm việc, ông phát hiện ra
nhiều lỗi lầm mà sau này người ta quen gọi là những "ngụy
biện." Mặc dù Aristotle là một nhà nhà logic học đầu tiên
có công liệt kê và phân loại những loại ngụy biện, thầy
của ông (Plato) mới xứng đáng được vinh danh như là một nhà
triết học đầu tiên đã có công sưu tầm những ví dụ về
ngụy biện. Kể từ khi Plato và Aristotle, đã có khá nhiều nhà
triết học và logic học như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy
Bentham, và Arthur Schopenhauer cũng có nhiều cống hiến quan trọng
trong việc nghiên cứu về ngụy biện.
<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Người Việt chúng ta
thường rất tự hào về những đối thoại [mà chúng ta cho là
"thông minh"] giữa Trạng Quỳnh và Chúa Trịnh ngày xưa.
Nhưng nói một cách công bằng và theo tiêu chuẩn của lí luận
logic, thì những trao đổi của Trạng Quỳnh hay tương tự chỉ
là những ngụy biện ở trình độ thô sơ nhất. Nhưng có
điều đáng buồn là những đối thoại kiểu Trạng Quỳnh, mà
trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói, bắt bẽ nhau từng
chữ, vặn vẹo ý nghĩa của từng câu văn, v.v… lại đi vào
sử sách, như thể để làm gương cho thế hệ sau này. Mà làm
gương thật. Cho đến ngày nay, có người vẫn còn cho đó là
một biểu tượng của sự thâm thúy, thông minh của dân tộc,
là phản ánh sự phong phú của ngôn ngữ Việt, và đem ra ứng
dụng trong tranh luận.<img class="quoright" src="/misc/quoright.png"/>
<br class="quoteclear"></div></div>
Điều đáng chú ý là những lỗi lầm về ngụy biện ở
người Việt lại hay thấy trong giới có học. Chỉ cần điểm
qua báo chí, websites, blog, v.v... chúng ta dễ dàng thấy rất
nhiều cái-gọi-là "tranh luận" thật ra chỉ là ngụy biện. Tuy
nhiên, nhiều người vẫn chưa biết đó là những ngụy biện,
mà thậm chí còn hết lời khen ngợi kẻ ngụy biện là... uyên
bác! Điều này cho thấy trong những người Việt học cũng có
người rất lười biếng suy nghĩ và chẳng phân biệt được
thật và giả, không có khả năng nhận dạng được ngụy
biện. Phải ghi nhận một điều là internet đã rất tuyệt
vời, vì qua những "tranh luận" và chửi bới của những kẻ
tham gia trên internet, chúng ta biết được bộ mặt xấu xí
đằng sau những người mang nhãn mác "trí thức" hay "có học".
Những kẻ này tương đối nguy hiểm, vì với cái nhãn mác "có
học" đó, họ có cơ hội làm lũng đoạn xã hội và trở thành
những con vi khuẩn làm nhiễm trùng nền học thuật nước nhà.
Do đó, cần phải giúp họ nhận ra đâu là ngụy biện và đâu
là logic.
Thực ra, nhận dạng ngụy biện không phải là một việc làm
khó khăn. Nói chung chỉ với một lương năng bình dân, người
ta có thể phân biệt một phát biểu mang tính ngụy biện với
một phát biểu logic. Tuy nhiên, cũng có nhiều dạng thức ngụy
biện mà vẻ bề ngoài hay mới nghe qua thì rất logic, nhưng
thực chất là phi logic. Những loại ngụy biện núp dưới hình
thức "khoa học" này không dễ nhận dạng nếu người đối
thoại thiếu kiến thức về logic học hay thờ ơ với lý lẽ.
Do đó, một điều quan trọng trong tranh luận là cần phải phát
hiện và nhận dạng những hình thức ngụy biện, và quan trọng
hơn, cần phải hiểu tại sao chúng sai. Có thể phân loại ngụy
biện thành nhiều nhóm khác nhau liên quan đến việc đánh lạc
vấn đề, lợi dụng cảm tính, thay đổi chủ đề, nhầm lẫn
trong thuật qui nạp, lý luận nhập nhằng, phi logic, và sai phạm
trù. Trong khuôn khổ giới hạn, người viết bài này không có
tham vọng trình bày tất cả những loại ngụy biện một cách
chi tiết (vì việc này đã được hệ thống hóa trong nhiều
sách về logic học), mà chỉ muốn liệt kê ra những loại ngụy
biện thường hay gặp trong báo chí và truyền thông, hầu giúp
bạn đọc có thể phân biệt giữa chân và giả.
Liệt kê sau đây là một loạt những ngụy biện phổ biến hay
thấy ở người Việt. Những ngụy biện này có thể phân
thành 7 nhóm như sau:
• Đánh tráo chủ đề
• Lợi dụng cảm tính và đám đông
• Làm lạc hướng vấn đề
• Qui nạp sai
• Nhập nhằng đánh lận con đen
• Phi logic
• Các nhầm lẫn khác
<h2>Nhóm 1. Đánh tráo chủ đề</h2>
1. <span class="underlined-text">Công kích cá nhân (ad hominem)</span>.
Đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, thấp kém nhất,
nguy hiểm nhất, nhưng có "công hiệu" nhất, vì nó tấn công
vào cá nhân của người tranh luận, và tìm cách trốn tránh
luận điểm của cá nhân đó. Hình thức ngụy biện này
thường xuất hiện dưới dạng: Ông A phát biểu về một vấn
đề; ông B tấn công vào cá nhân ông A, và làm cho người ta
nghi ngờ luận điểm của ông A. Tuy nhiên, có thể không có
mối liên hệ nào giữa cá nhân và luận điểm của ông A.
Có hai hình thức thuộc loại ngụy biện này. Thứ nhất là
dưới hình thức sỉ nhục, hay chửi rủa. Khi bất đồng ý
kiến, người ngụy biện chỉ việc công kích vào cá nhân của
người phát biểu. Chẳng hạn như "Ông nói là những người
vô thần có đạo đức, vậy mà chính ông là người từng li
dị với vợ con," hay "Ông là người làm kinh tế, không
biết gì về khoa học, mà nói chuyện khoa học". Đây là một
ngụy biện, bởi vì sự thật của phát biểu không tùy thuộc
vào cá nhân của người phát biểu, mà là logic của lời phát
biểu. Cũng nằm trong loại ngụy biện này là thói dùng một
đặc điểm của một vật thể nào đó để ứng dụng cho một
cá nhân hay một vật thể khác. Ví dụ: "Anh học của Tây có
vài chữ mà đã quay lại chửi bới đồng nghiệp à? Anh là con
công cháu cha, anh không hiểu gì về sự nghèo khổ của chúng
tôi."
2. <span class="underlined-text">Lợi dụng quyền lực (ad
verecundiam)</span>. Đây là loại ngụy biện dùng những nhân vật
nổi tiếng hay được nhiều người ái mộ để tìm sự ủng
hộ cho luận điểm của mình. Chẳng hạn như "Isaac Newton là
một thiên tài, và ông tin vào Thượng đế," làm như ông
Newton là người có thẩm quyền để chúng ta tin vào Thượng
đế. Thẩm quyền không thuyết phục được ai; chỉ có sự
thật, lí lẽ và logic mới quan trọng và có khả năng thuyết
phục.
3. <span class="underlined-text">Lợi dụng nặc danh</span>. Trong
trường hợp này, người ngụy biện không nêu danh tính người
có thẩm quyền, và vì không ai biết tên người có thẩm quyền
nên không ai có thể kiểm chứng sự chính xác của lời phát
biểu. Một loại ngụy biện khác có quan hệ với loại này là
dùng lời đồn đại để làm cơ sở lập luận. Giới công an
hay sử dụng ngụy biện này, ví dụ như "Một viên chức tình
báo cho biết chính anh từng hoạt động cho địch."
4. <span class="underlined-text">Lợi dụng tác phong</span>. Loại
ngụy biện này dùng tác phong hay cách làm việc hay một đặc
tính nào đó của đối tượng để cố thuyết phục về tính
hợp lí của phát biểu. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là
những phát biểu như "Nixon thất cử vì ông ta thường hay ra
mồ hôi trên trán," hay "Tại sao anh không nghe theo lời khuyên
của anh chàng ăn mặc bảnh bao đó?" Thực ra, "bảnh bao"
và "mồ hôi trên trán" chẳng có dính dáng gì đến vấn
đề đang bàn thảo.
5. <span class="underlined-text">Luận điệu cá trích</span>. Loại
ngụy biện này thường hay được ứng dụng khi một người
nào đó đưa vào những phát biểu không dính dáng gì đến vấn
đề đang tranh luận, nhằm mục đích đánh lạc hướng vấn
đề. Ví dụ: "Anh có thể nói rằng tử hình là một hình
thức không có hiệu quả trong việc chống lại tội phạm,
nhưng còn nạn nhân của tội phạm thì sao? Gia đình của nạn
nhân sẽ nghĩ gì khi họ thấy tên sát nhân người thân của
họ bị giam giữ trong nhà tù bằng đồng tiền của chính họ.
Họ có nên nuôi dưỡng những tên sát nhân như thế không?"
6. <span class="underlined-text">Luận điệu ngược ngạo</span>.
Bằng chứng luôn luôn là gánh nặng của người phát biểu. Do
đó, tìm cách chuyển gánh nặng đó cho một người khác là
một thủ đoạn của những người ngụy biện. Chẳng hạn như
trong câu này "Anh nói rằng ăn nhiều mỡ không liên quan đến
cholesterol, nhưng anh có thể chứng minh điều đó không?" Đáng
lẽ người phát biểu phải chứng minh, nhưng công việc đó
lại được chuyển cho người đối thoại!
<h2>Nhóm 2. Lợi dụng cảm tính và đám đông</h2>
7. <span class="underlined-text">Dựa vào bạo lực (ad baculum)</span>.
Ngụy biện dựa vào bạo lực thực chất là một sự đe dọa,
nhằm mục đích gây áp lực cho người đối thoại phải chấp
nhận một kết luận nào đó. Loại ngụy biện này thưởng
được giới chính khách dùng, và có thể tóm gọn bằng một
câu "chân lí thuộc về kẻ mạnh". Sự đe dọa không hẳn
chỉ xuất phát từ người phát biểu, mà có thể từ một
người khác. Ví dụ như "Những ai không tin vào chính sách
của Nhà nước sẽ phải trả giá đắt", hay "Được rồi,
tôi đã biết số điện thoại của anh và biết anh đang ở
đâu. À, tôi có nói cho anh biết là tôi mới mua một cây súng
ngắn chưa nhỉ?"
8. <span class="underlined-text">Lợi dụng lòng thương hại (ad
misericordiam)</span>. Đây là một loại ngụy biện dựa vào lòng
trắc ẩn của người đối thoại để người đối thoại
chấp nhận lí lẽ của mình. Ví dụ như "Anh ấy không có
giết người bằng búa. Làm ơn đừng tuyên án anh ấy có tội,
anh ấy đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần,"
hay "Tôi hi vọng anh sẽ chấp nhận đề nghị này, chúng ta
đã tiêu ra ba tháng nay để bàn rồi đấy."
9. <span class="underlined-text">Lợi dụng hậu quả (ad
consequentiam)</span>. Ngụy biện loại này thường được biểu
hiện qua cách phát biểu "A hàm ý B, B là sự thật, do đó A
là sự thật". Ví dụ: "Nếu vũ trụ được một đấng chí
tôn thượng đế tạo nên, chúng ta có thể thấy những hiện
tượng được tổ chức một cách thứ tự. Và hiện tượng
chung quanh chúng ta quả rất thứ tự, vậy đấng chí tôn
thượng đế chính là người tạo nên vũ trụ," hay "Anh
phải tin vào Đảng Cộng hòa, chứ nếu không cuộc đời này
sẽ chẳng có ý nghĩa" (hay là nói một cách ngược lại:
cuộc sống này chẳng có ý nghĩa gì nếu không có Đảng cộng
hòa!)
10. <span class="underlined-text">Lạm dụng chữ nghĩa</span>. Đây là
một loại ngụy biện dựa vào dùng những chữ mang cảm tính
cao để gắn một giá trị đạo đức vào một đề nghị hay
một câu phát biểu. Chẳng hạn như trong câu "Bất cứ một
người có lương tri nào cũng phải đồng ý rằng về Việt Nam
ăn Tết là làm lợi cho cộng sản," chữ "lương tri"
được cài vào nhằm cho người đối thoại phải nghiêng theo
những người có lương tri.
11. <span class="underlined-text">Dựa vào quần chúng (ad
numerum)</span>. Loại ngụy biện này tin rằng nếu có nhiều
người ủng hộ một đề nghị nào đó, thì đề nghị đó
phải đúng. Ví dụ như "Đại đa số người dân trong cộng
đồng ủng hộ ông Minh, vậy phát biểu của ông Minh ắt phải
đúng."
<h2>Nhóm 3. Làm lạc hướng vấn đề</h2>
12. <span class="underlined-text">Lí lẽ chẻ đôi</span>. Loại ngụy
biện này thường phân định một vấn đề thành hai giá trị:
trắng và đen, bạn và thù, có và không, v.v.. dù trong thực
tế, có hơn hai lựa chọn. Chẳng hạn như "Hoặc là anh hợp
tác với tôi hay là anh chống tôi, anh chọn hướng nào, yes hay
là no?"
13. <span class="underlined-text">Lí lẽ ngờ nghệch (ad
ignorantiam)</span>. Loại ngụy biện này, như tên gọi ám chỉ,
xuất phát từ sự ngớ ngẩn. Một trong những cách nói thông
thường nhất trong loại ngụy biện này mà giới ngụy biện hay
dùng là nếu một điều gì đó chưa được chứng minh là sai
(hay giả) thì điều đó là đúng (hay thật). Ví dụ: "Bởi vì
các nhà khoa học chưa chứng minh dioxin có thể gây ra dị thai,
do đó dioxin không thể gây ra dị thai," hay kiểu lí luận của
"nền kinh tế phát triển và xã hội ổn định mấy năm nay,
không có lý do gì phải cần đến dân chủ".
14. <span class="underlined-text">Lí luận lươn trạch</span>. Loại
ngụy biện này cho rằng nếu một sự kiện xảy ra, các sự
kiện có hại khác sẽ xảy ra. Chẳng hạn như "Nếu chúng ta
hợp pháp hóa cần sa, công chúng sẽ bắt đầu hút cần sa, và
chúng ta cũng sẽ phải hợp pháp hóa á phiện. Rồi chúng ta sẽ
là một quốc gia với những người ăn bám vào xã hội. Do đó,
chúng ta không thể hợp pháp hóa á marijuana". Hay một đoạn
ví dụ khác:" Tiếc thay một cuộc cải cách về kinh tế, bình
bị, tài chánh, xã hội, nông nghiệp như vậy, đang trên
đường thành công rực rỡ: bị tan vỡ, bị huỷ bỏ chỉ vì
tham vọng đánh Đại việt của Vương An Thạch. Mà đau đớn
biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở
tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ
cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung quốc thay đổi;
rồi với cái đà đó, thì Trung quốc sẽ là nước hùng mạnh
vô song, e rằng cứ muôn đời mặt trời vẫn nở phương Đông
chứ không ngả về Tây như hồi thế kỉ 18 cho đến nay bao
giờ."
15. <span class="underlined-text">Mệnh đề rời rạc</span>. Đây là
loại ngụy biện dùng hai (hay nhiều hơn hai) mệnh đề chẳng
dính dáng gì với nhau để làm thành một phát biểu hay kết
luận. Ví dụ: "Anh ủng hộ tự do dân chủ và quyền mang vũ
khí hay không?" hay "Anh đã ngưng làm ăn trái phép chưa?"
Câu hỏi sau thực ra hỏi hai vấn đề "Anh từng làm ăn trái
phép?" và "Anh đã ngừng hoạt động hay chưa?"
16. <span class="underlined-text">Đơn giản hóa</span>. Đây là một
loại ngụy biện mà người phát biểu cố tình biến một quan
niệm trừu tượng thành một điều cụ thể để bắt lấy
thế thượng phong trong đối thoại (nhưng là ngụy biện). Ví
dụ: "Tôi để ý thấy anh mô tả ông ta là một người quỉ
quyệt. Vậy tôi hỏi anh cái "quỉ quyệt" đó nó nằm ở
đâu trong bộ não? Anh không chỉ ra được cho tôi; do đó, tôi
có thể nói cái quỉ quyệt không có thực."
<h2>Nhóm 4. Qui nạp sai</h2>
17. <span class="underlined-text">Khái quát hóa vội vã</span>. Loại
ngụy biện này cũng khá phổ biến. Nó dùng một ví dụ hay
trường hợp nhỏ và từ đó khái quát hóa cho một cộng
đồng. Chẳng hạn như "Ông ấy là một tay đạo đức giả.
Do đó, các bạn bè của ông ấy cũng giả dối."
18. <span class="underlined-text">Khái quát hóa không đúng
chỗ</span>. Đây là loại ngụy biện mà người sử dụng chúng
thường áp dụng một qui luật chung cho một tình huống hay một
cá nhân. Chẳng hạn như "Người cộng sản là vô thần. Anh
là người theo chủ nghĩa cộng sản, vậy anh chắc chắn là
một người vô thần."
19. <span class="underlined-text">Kéo dài tính tương đồng</span>.
Trong loại ngụy biện này, người dùng nó đề nghị một
điều lệ chung chung, rồi áp dụng nó cho mọi trường hợp và
cá nhân. Ví dụ: "Tôi tin rằng chống luật pháp bằng cách
phạm luật pháp là một điều sai trái", hay "Nhưng quan
điểm đó ghê tởm lắm, vì nó ám chỉ rằng anh sẽ không ủng
hộ tôi," hay "Anh muốn nói rằng luật về mật mã cũng có
tầm quan trọng tương đương với phong trào giải phóng sao? Sao
anh dám nói thế?"
20. <span class="underlined-text">Lí lẽ quanh co</span>. Loại ngụy
biện này thường luẩn quẩn trong vài giả định và kết
luận. Chẳng hạn như "Những người đồng tính luyến ái
nhất định không thể nắm chính quyền. Do đó, phải tống
khứ những viên chức chính phủ đồng tính luyến ái. Vì thế,
những người đồng tính luyến ái sẽ làm mọi cách để dấu
diếm hành tung của họ, và họ có nguy cơ bị tống tiền. Do
vậy, những người đồng tính luyến ái không được giữa
chức vụ gì trong chính phủ." Tức là trong một lí giải như
thế, cả hai giả thuyết và kết luận đều giống nhau.
21. <span class="underlined-text">Đảo ngược điều kiện</span>.
Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua hình thức
"Nếu A xảy ra thì B sẽ xảy ra, do đó, nếu B xảy ra thì A
sẽ xảy ra." Ví dụ: "Nếu tiêu chuẩn giáo dục bị hạ
thấp, chất lượng tranh luận sẽ bị tồi đi. Do đó, nếu
chúng ta thấy chất lượng tranh luận suy đồi trong những năm
sắp đến, thì điều đó cho thấy tiêu chuẩn giáo dục của ta
bị xuống cấp."
22. <span class="underlined-text">Lợi dụng rủi ro</span>. Ngụy biện
này thường dùng một qui luật chung và áp dụng nó cho một
trường hợp cá biệt. Ví dụ: "Luật giao thông không cho anh
chạy quá 50 km/h. Cho dù cha anh sắp chết anh cũng không được
chạy quá tốc độ đó."
23. <span class="underlined-text">Lợi dụng trường hợp cá
biệt</span>. Ngụy biện này thường dùng một trường hợp cá
biệt để đem ra ứng dụng cho một đám đông. Ví dụ: "Chúng
ta cho phép bệnh nhân sắp chết dùng á phiện, chúng ta nên cho
phép mọi người dùng á phiện."
24. <span class="underlined-text">Kết luận lạc đề</span>. Loại
ngụy biện này thường xuất hiện khi một kết luận chẳng
dính dáng gì đến lí lẽ mà người biện luận trình bày. Một
ví dụ tiêu biểu cho trường hợp ngụy biện này là: "Độ
nhiễm arsenic trong nước ở Việt Nam chưa cao và còn trong mức
độ cho phép. Dữ kiện của Bangladesh cho thấy tình trạng
nhiễm arsenic ở Việt Nam rất trầm trọng."
25. <span class="underlined-text">Ngụy biện rơm</span>. Loại ngụy
biện này cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm hay phát biểu
của người khác, để làm luận điểm tấn công. Đây là một
ngụy biện, vì nó không đương đầu với cái lí lẽ đang bàn.
Chẳng hạn như: "Chúng ta nên ủng hộ chế độ cưỡng bách
quân dịch. Người ta không thích tòng quân vì họ không muốn
cuộc sống bị đảo lộn. Nhưng họ cần nhận thức rằng có
nhiều điều quan trọng hơn tiện nghi trong cuộc sống."
<h2>Nhóm 5. Nguyên nhân giả tạo</h2>
26. <span class="underlined-text">"Post hoc"</span>. Loại ngụy biện
này phát biểu rằng hai sự kiện xảy ra, một trước và một
sau, có quan hệ với nhau như nguyên nhân và hậu quả. Ví dụ:
"Liên Xô sụp đổ sau khi nhà nước theo chủ nghĩa vô thần.
Do đó, chúng ta phải từ bỏ chủ nghĩa vô thần để khỏi bị
suy sụp."
27. <span class="underlined-text">Ảnh hưởng liên đới</span>. Một
sự kiện được cho là có ảnh hưởng đến một sự kiện
khác, nhưng thực chất thì cả hai sự kiện đều có cùng một
nguyên nhân. Đây cũng chính là một trường hợp ngụy biện
dưới dạng "post hoc". Ví dụ: "Chúng ta đang chứng kiến
một tình trạng thất nghiệp rất cao, vì do thiếu nhu cầu của
người tiêu thụ." (Nhưng có thể cả hai sự kiện có nguyên
nhân từ tiền lời quá cao.)
28. <span class="underlined-text">Ảnh hưởng không đáng kể</span>.
Đây là một loại ngụy biện mang tính phóng đại từ một
ảnh hưởng rất nhỏ. Chẳng hạn như "Hút thuốc gây ra ô
nhiễm môi trường ở Sydney" là một phát biểu đúng, nhưng
ảnh hưởng của thuốc lá đến môi trường rất khiêm tốn khi
so với ảnh hưởng của khói xe và các hãng xưởng.
29. <span class="underlined-text">Ảnh hưởng ngược chiều</span>.
Mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả bị đảo ngược
chiều để tìm đến một kết luận mang tính ngụy biện. Ví
dụ: "Ung thư gây ra thói quen hút thuốc lá".
30. <span class="underlined-text">Nguyên nhân phức tạp.</span> Một
sự kiện xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng
người ngụy biện có thể đơn giản hóa thành một liên hệ
đơn giản. Chẳng hạn như "Tai nạn xe cộ là do đường xá
xấu" có thể đúng, nhưng tai nạn cũng có thể do người lái
xe ẩu trong một điều kiện xấu.
31. <span class="underlined-text">Nguyên nhân sai (Non causa pro
causa)</span>. Loại ngụy biện này xảy ra khi một điều nào đó
được cho là nguyên nhân của một sự kiện, nhưng nó chưa
thực sự được chứng minh là nguyên nhân. Ví dụ: "Tôi uống
một viên aspirin và cầu nguyện thượng đế, và tôi không còn
bị nhức đầu. Như vậy thượng đế đã chữa trị tôi khỏi
nhức đầu."
<h2>Nhóm 6. Phi logic (non sequitur) và nhần lẫn trong tam đoạn
luận</h2>
32. <span class="underlined-text">Phi logic</span>. Ngụy biện phi logic
thường xảy ra trong trường hợp một lí lẽ mà kết luận
được rút ra từ những tiêu đề không dính dáng gì với nhau.
Chẳng hạn như "Người Ai Cập đã từng làm nhiều khai quật
để xây dựng những kim tự tháp, họ chắc chắn phải rất
thạo về cổ sinh vật học."
33. <span class="underlined-text">Loại bỏ tiền đề</span>. Ngụy
biện loại này thường xảy ra dưới hình thức "nếu A thì B,
không phải A thì không phải B." Ví dụ: "Nếu tôi ở Sydney
thì tôi đang ở New South Wales. Tôi hiện không ở Sydney, do đó,
tôi không ở New South Wales".
34. <span class="underlined-text">Nhét chữ vào miệng người
khác</span>. Đây là một loại ngụy biện bằng cách dùng kĩ
thuật phỏng vấn. Một trường hợp cổ điển là "Ông đã
ngưng đánh vợ chưa?" Tức là một câu hỏi với một giả
định rằng người được hỏi từng hành hung vợ. Đây là
một mẹo mà giới luật sư thường hay dùng trong thẩm vấn.
"Ông dấu tiền ăn cắp đó ở đâu?" Giới chính khách cũng
thích mẹo này, đại khái như "Bao giờ thì nhóm EU này sẽ
không còn xâm phạm vào công việc của chúng ta?"
35. <span class="underlined-text">Ngụy biện tứ ngữ</span>. (Một
tiêu chuẩn của tam đoạn luận gồm có 3 chữ). Ví dụ như
trong câu phát biểu "Tất cả chó là thú vật, và tất cả
mèo là loài động vật có vú, do đó tất cả chó là loài
động vật có vú," có bốn chữ: chó, mèo, động vật, và
động vật có vú.
36. <span class="underlined-text">Đứt đoạn</span>. Hai sự vật
riêng biệt được xem là có liên hệ nhau nếu chúng có chung
đặc tính. Người ngụy biện lợi dụng chữ giữa của một
phát biểu để đưa đến một kết luận sai. Chẳng hạn như
trong câu "Tất cả người Nga là nhà cách mạng, và tất cả
những người theo chủ nghĩa vô chính phủ cũng là nhà cách
mạng, do đó, tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính
phủ là người Nga," chữ chính giữa là "nhà cách mạng".
Nhưng kết luận này sai, vì dù những người theo chủ nghĩa vô
chính phủ và người Nga là những người cách mạng, nhưng họ
có thể là hai nhóm cách mạng khác nhau.
<h2>Nhóm 7. Các nhầm lẫn khác</h2>
37. <span class="underlined-text">Dẫn chứng bằng giai thoại</span>.
Một trong những ngụy biện phổ biến nhất và đơn giản nhất
là dựa vào những câu chuyện có tính vụn vặt, hay giai thoại.
Chẳng hạn như "Có hàng khối bằng chứng cho thấy thượng
đế hiện hữu và vẫn ban phép mầu hàng ngày. Mới tuần rồi
đây, tôi có đọc được một câu chuyện về một cô gái sắp
chết vì ung thư, cả gia đình cô đi cầu nguyện trong nhà thờ,
và chỉ vài ngày sau cô hết bệnh." Dùng kinh nghiệm cá nhân
để minh họa cho một luận điểm là một điều hoàn toàn hợp
lí, nhưng dùng những giai thoại như thế sẽ chẳng chứng minh
gì. Một anh bạn có thể cho rằng anh từng gặp Elvis ở một
siêu thị nào đó, nhưng những người chưa gặp Elvis bao giờ
thì cần nhiều bằng chứng xác thực hơn.
38. <span class="underlined-text">Lợi dụng cổ tích</span>. Đây là
một loại ngụy biện cho rằng những gì đúng hay tốt chỉ
đơn giản vì chúng là cổ xưa, và những người theo cách ngụy
biện này thường nói "hồi nào đến giờ ai cũng vậy."
Chẳng hạn như "Hàng trăm năm nay, Úc chịu dưới sự cai trị
của Hoàng gia Anh, và là một nước thịnh vượng. Một thể
chế tồn tại lâu dài như thế ắt phải là một thể chế ưu
việt."
39. <span class="underlined-text">Dựa vào cái mới (ad
novitatem)</span>. Ngược lại với loại ngụy biện dựa vào cái
cũ, ngụy biện dựa vào cái mới cho rằng một điều gì đó
tốt hơn và đúng hơn đơn giản chỉ vì nó mới hơn cái khác.
"Windows 2000 phải tốt hơn Windows 95, Windows 2000 mới được
thiết kế lại năm ngoái."
40. <span class="underlined-text">Lí lẽ của đồng tiền</span>.
Loại ngụy biện này thường dựa vào một niềm tin duy nhất
rằng đồng tiền là một tiêu chuẩn của sự đúng đắn.
Những người có nhiều tiến có khả năng đúng hơn những
người ít tiền. Chẳng hạn như "Nhu liệu của hãng Microsoft
đương nhiên là tốt hơn; nếu không thì làm sao Bill Gates có
thể trở nên tỉ phú như thế".
41. <span class="underlined-text">Dựa vào cái nghèo</span>. Ngược
lại với ngụy biện dựa vào sự giàu có, có một loại ngụy
biện khác dựa vào sự nghèo khổ. Chẳng hạn như "Các vị
sư có khả năng hiểu thấu được ý nghĩa của cuộc sống,
bởi vì họ từ bỏ mọi xa hoa của cuộc sống."
42. <span class="underlined-text">Điệp khúc (ad nauseam)</span>. Loại
ngụy biện này cho rằng một lí lẽ càng được lặp đi lặp
lại nhiều chừng nào thì nó sẽ được người ta chấp nhận
là đúng. Do đó, người ngụy biện thường chỉ lặp đi lặp
lại những phát biểu, bất kể đúng sai ra sao, cho đến khi
người đối thoại mệt mỏi không còn muốn nghe nữa, như
"Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lí".
43. <span class="underlined-text">Lạm dụng thiên nhiên</span>. Đây
là một ngụy biện rất thông thường trong giới chính trị gia,
mà trong đó họ tìm cái tương đồng giữa một kết luận nào
đó và một khía cạnh của thế giới tự nhiên, rồi từ đó
phát biểu rằng kết luận đó là không thể tránh khỏi. Chẳng
hạn như "Đặc điểm của thế giới tự nhiên là cạnh tranh;
động vật đấu tranh chống nhau để làm chủ tài nguyên thiên
nhiên. Chủ nghĩa tư bản, một hình thức cạnh tranh để làm
chủ tư liệu, chỉ đơn giản là một phần của con người
sống trong thế giới tự nhiên. Đó cũng là cách mà thế giới
tự nhiên vận hành."
Một hình thức khác của lạm dụng thiên nhiên là lí luận cho
rằng bởi vì con người là sản phẩm của thế giới tự
nhiên, chúng ta phải bắt chước hành động theo những gì chúng
ta thấy trong thế giới tự nhiên, và làm khác đi là "phi tự
nhiên". Ví dụ: "Đồng tính luyến ái dĩ nhiên là không tự
nhiên."
44. <span class="underlined-text">Ngụy biện "anh cũng vậy"</span>.
Đây là một trong những ngụy biện rất phổ biến. Nó dựa
vào lí lẽ rằng một hành động có thể chấp nhận được
bởi vì người đối nghịch đã làm. Chẳng hạn như "Anh là
một người lừa dối." "Rồi sao? Anh cũng là một tay lừa
dối vậy."
45. <span class="underlined-text">Lạm dụng thống kê</span>. Thống
kê thường được giới ngụy biện sử dụng tối đa, vì theo
họ thống kê có thể dùng để "chứng minh" bất cứ điều
gì. Người ta có thể vặn vẹo hai con số 1 và 3 điểm để
sản xuất những phát biểu như "khác nhau 2 điểm", "cao
gấp 3 lần", hay "tăng 200%"; người ta có thể dựa vào ý
kiến đồng tình của 4 người trong 5 người để cho là "80%
người được thăm dò", hay thậm chí "đa số cộng đồng"
đồng ý với một luận điểm nào đó. Tức là những khái
quát hoá một cách vội vã, hay dựa vào một mẫu số cực kỳ
thấp, thấp đến độ nó không có nghĩa lí gì. Thực ra, thống
kê không chứng minh điều gì cả. Thống kê chỉ là một
phương tiện hay thuật toán dùng để loại bỏ những trường
hợp khả dĩ hay không khả dĩ. Vì có quá nhiều ngụy biện
thống kê, nên vấn đề này sẽ được bàn tiếp trong một
dịp khác.
<h2>Nhận xét</h2>
Có thể nói những loại ngụy biện trên đây có những đặc
điểm chung là (a) phát biểu không dựa vào lí lẽ logic; (b) các
định đề không vững để đi đến một kết luận; và (c)
đưa ra giả định không đúng. Ngụy biện, do đó, nói cho cùng,
là một sản phẩm của sự lười biếng suy nghĩ. Và hầu như
trong chúng ta, ai cũng có ít nhất là một lần lười suy nghĩ.
Do đó, nếu điểm qua những loại ngụy biện trên đây, chúng
ta tự cảm nhận rằng trong quá khứ mình chắc cũng có lần
phạm vào lỗi lầm của ngụy biện. Điều này có thể đúng,
và không nên lấy làm ngạc nhiên, vì các nhà thông thái, và
ngay cả giới có huấn luyện về logic học cũng đôi khi, vì
cố ý hay vô tình, ngụy biện. Giới chính trị gia và truyền
thông là những người cực kì nổi tiếng về ngụy biện.
Nhưng tại sao những ngụy biện vẫn còn có mặt trên báo chí?
Theo tôi, bởi vì chúng vẫn có khách hàng. Vẫn có người, dù
ít hay nhiều, tin tưởng vào ngụy biện, vì nó thuận nhĩ, trơn
tru, và nhất là không thách thức. Sờ một hòn đá trơn tru đem
lại cho chúng ta một cảm giác khoan khoái dễ chịu hơn là sờ
một hòn đá lởm chởm, hay ngồi trên một cái ghế ghồ ghề.
Người ta thích sự trơn tru, bởi vì trơn tru là dấu hiệu của
sự khoan khoái, dễ chịu, là cái khoảng thời gian giải lao,
không cần sự thách thức.
Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến
nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công
[hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách
rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn
thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn
ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về
thế giới thực của các vật thể. Những kì kẹt xe trên
đường xá mới để lộ trái tim phức tạp của một thành
phố. Tương tự, một sự cố của internet sẽ nhắc nhở chúng
ta về tình trạng hỗn mang và phức tạp của hệ thống thông
tin điện tử. Sự hỗn mang và phức tạp là thực. Trơn tru,
tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có
thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch
thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói,
ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục
đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một
sự thực.
Bởi vì ngụy biện là những lí lẽ mà bề ngoài có vẻ logic,
nên chúng có khả năng thuyết phục những người không chịu
khó suy nghĩ, nhất là những người còn mang nặng cảm tính.
Điều này giải thích tại sao nhiều người tiếp nhận một
cách thụ động quá nhiều những điều quái gở về thế giới
chung quanh, kể cả những niềm tin tôn giáo, những mê tín dị
đoan, những triết lí quái đảng, những thông tin sai lạc, v.v..
Cái tác hại của việc tiếp nhận thụ động này là nó làm
cho người ta trở nên nô lệ với cảm tính, và dễ dàng trở
thành những tín đồ cuồng tín của những người "lãnh
đạo" chính trị hay tôn giáo.
Để không trở thành những nô lệ, cần phải suy nghĩ nghiêm
túc. Suy nghĩ nghiêm túc là một quá trình hoạt động tri thức
nhằm ý niệm hóa, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, và đánh
giá những thông tin được thu thập từ quan sát, kinh nghiệm,
phản ánh, lí luận, hay liên lạc, như là một niềm tin cho hành
động. Cần phải dựa vào những giá trị tri thức với những
đặc điểm như trong sáng, chính xác, nhất quán, có liên hệ,
bằng chứng tốt, lí lẽ hợp lí, có chiều sâu, và công bằng.
Tức là, trước một câu phát biểu hay một đề nghị, cần
phải thẩm định lại kết cấu và nguyên tố của phát biểu
hay đề nghị đó. Những kết cấu và nguyên tố này là: mục
đích, vấn đề, giả định, quan niệm, bối cảnh, kết luận,
ngụ ý, hậu quả, phạm vi tham khảo, và quan điểm khác.
Người Việt chúng ta thường rất tự hào về những đối
thoại [mà chúng ta cho là "thông minh"] giữa Trạng Quỳnh và
Chúa Trịnh ngày xưa. Nhưng nói một cách công bằng và theo tiêu
chuẩn của lí luận logic, thì những trao đổi của Trạng
Quỳnh hay tương tự chỉ là những ngụy biện ở trình độ
thô sơ nhất. Nhưng có điều đáng buồn là những đối thoại
kiểu Trạng Quỳnh, mà trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói,
bắt bẽ nhau từng chữ, vặn vẹo ý nghĩa của từng câu văn,
v.v… lại đi vào sử sách, như thể để làm gương cho thế
hệ sau này. Mà làm gương thật. Cho đến ngày nay, có người
vẫn còn cho đó là một biểu tượng của sự thâm thúy, thông
minh của dân tộc, là phản ánh sự phong phú của ngôn ngữ
Việt, và đem ra ứng dụng trong tranh luận.
Theo dõi báo chí, chúng ta thấy những hình thức tấn công cá
nhân (thay vì tấn công vào luận điểm), xuyên tạc ý tưởng,
chụp mũ, suy luận theo cảm tính, mỉa mai, đơn giản hóa vấn
đề, v.v… xuất hiện hầu như hàng ngày, có khi hàng giờ. Vì
những tần số của những loại ngụy biện xuất hiện quá
nhiều như thế, nó thành một sự rập khuôn. Theo thời gian,
rập khuôn trở thành "truyền thống". Hậu quả của cái
truyền thống này là những ai ra ngoài cái khuôn sáo của ngụy
biện đều có thể bị xem là phi chính thống, dẫn đến một
lối suy nghĩ và phán xét kì quặc kiểu "anh/chị không thuộc
nhóm của tôi, vậy thì anh/chị thuộc nhóm bên kia," "anh chê
'quốc gia', vậy anh phải là cộng sản," "anh khen Việt
Nam, vậy anh là cộng sản," "giọng nói anh 'Bắc kỳ 75',
vậy anh là cộng sản," hay "Nhà nước cho anh ra ngoài này
trình diễn, chắc anh là cộng sản đi tuyên truyền"… Anh ở
phía này, tôi bên kia. Nói tóm lại, đó là một lối phân
định theo hai giá trị: xấu và tốt, đen và trắng, hay địch
và ta một cách cứng nhắc. Cách phân định này thể hiện một
sự nghèo nàn về trí tuệ, hay lười biếng suy nghĩ. Chỉ cần
đặt vấn đề ngược lại một chút, hay phát triển vấn đề
xa hơn một chút, ai cũng có thể thấy lối phân chia có/không
này không thể đem đến một đáp số cho một vấn đề nào
cả.
Trong cái sự thực phức tạp, mờ mờ ảo ảo của vấn đề,
có cái đẹp riêng. Không phải cái đẹp trơn tru, tròn trĩnh,
nhưng là cái đẹp khắt khe của sự thật. Tương tự, một
lời phát biểu nghịch lí có cái đẹp của nó, vì nó có thể
đánh thức chúng ta về một thế giới phức tạp, một thế
giới không nằm gọn trong đúng/sai, tốt/xấu, bạn/thù. Có lẽ
đã đến lúc chúng ta nên vượt qua chính mình bằng cách cho
các tế bào trí tuệ có cơ hội làm việc.
BTĐ
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/5006), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét