Từ nay không còn những chân lý không thể đặt lại. Tuy vậy,
một tập hợp chính trị trong mỗi giai đoạn vẫn cần đồng
thuận trên một số nhận định nền tảng.
Giữa những thay đổi dồn dập đòi hỏi những chính sách và
biện pháp đa dạng và phức tạp để thích nghi với tình thế,
mọi người cần nắm vững những chọn lựa nền tảng, nghĩa
là những gì không thay đổi và giải thích cái tại sao của
các biện pháp và chính sách. Đó là điều kiện để đất
nước không mất phương hướng và để người dân có thể
hiểu và đóng góp một cách có ý thức vào sinh hoạt quốc gia.
Chúng ta là một dân tộc đông đảo và phải đương đầu với
rất nhiều vấn đề trầm trọng và gai góc, công việc của
chúng ta chắc chắn là rất phức tạp. Chính sự phức tạp đó
đòi hỏi các tổ chức chính trị phải minh định những chọn
lựa có tính chủ thuyết, chủ thuyết được hiểu theo nghĩa
không phải là chủ nghĩa hay ý thức hệ, cũng không phải là
những học thuyết với cấu trúc lý luận phức tạp, mà là
những ý kiến đơn giản được coi là đúng và được lấy
làm căn bản cho các chính sách và biện pháp trong một giai
đoạn khá dài.
Đồng thuận căn bản của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên gồm
bốn điểm sau đây: đất nước phải được quan niệm như
một không gian liên đới và một tương lai chung, thể chế
chính trị cho Việt Nam là dân chủ đa nguyên, tinh thần chỉ
đạo của cố gắng làm lại đất nước là hòa giải và hòa
hợp dân tộc, cố gắng phát triển kinh tế phải đặt trên
nền tảng kinh tế thị trường và sáng kiến cá nhân.
<h2>1. Quốc gia: một không gian liên đới và một dự án tương
lai chung</h2>
Nước Việt Nam ta đã hình thành từ ngàn xưa và đã có hơn hai
ngàn năm lịch sử. Đó là một sự kiện mà mọi người Việt
đều có thể tự hào. Tuy vậy, cũng như mọi nước khác, chúng
ta mới chỉ biết đến khái niệm quốc gia, hiểu theo nghĩa
một thực thể thuộc quyền sở hữu của mọi người, gần
đây thôi. Lý do là vì chính ý niệm quốc gia cũng là một ý
niệm rất mới, được khai sinh ra cùng với dân chủ.
Cho tới khi ý niệm dân chủ ra đời, các vương quốc chỉ là
của một nhà vua. Lãnh thổ cũng như người dân thuộc quyền
sở hữu của vua và bị đặt dưới quyền quyết định độc
quyền và tuyệt đối của vua. Đất cũng như dân có thể đổi
chủ một cách tùy tiện theo sự chuyển nhượng giữa các vua
chúa. Trong bối cảnh đó không thể có các quốc gia đúng
nghĩa. Sự quyến luyến với mảnh đất của tổ tiên và những
người quen thuộc chưa phải là tinh thần dân tộc hay lòng yêu
nước. Người dân không có thẩm quyền nào trên đất nước
thì cũng không có trách nhiệm nào đối với đất nước. Ý
thức dân chủ đã biến các vương quốc thành những quốc gia
và đã là nền tảng cho một nhà nước, hay chính quyền, của
dân, do dân và vì dân.
Khác hẳn với các vương quốc đã dần dần hình thành với
thời gian, quốc gia là một thực thể bao gồm một lãnh thổ,
một chính quyền, một di sản văn hóa lịch sử và những con
người bình đẳng gắn bó với lãnh thổ đó, chấp nhận chính
quyền đó, chia sẻ di sản lịch sử và văn hóa đó và, quan
trọng hơn hết, chấp nhận xây dựng và chia sẻ với nhau một
tương lai chung. Quốc gia ở trên mọi người và là của chung
mọi người.
Cùng với ý niệm quốc gia như là một thực thể của chung
mọi người nhưng cũng là của mỗi người đã xuất hiện một
ý thức cộng đồng theo đó mỗi người không thể hoàn toàn
tự giải quyết lấy mọi vấn đề cá nhân của mình, trái
lại sự thành công hay thất bại của mỗi người còn tùy
thuộc vào một quốc gia mà mỗi người từ nay vừa có bổn
phận vừa có quyền lợi lại vừa có thẩm quyền đóng góp
để bảo vệ và cải thiện. Ý thức cộng đồng này đến
lượt nó tạo ra lòng yêu nước, một tình yêu đối với
những người thân thuộc, đồng hành và cùng phấn đấu với
mình. Lòng yêu nước này không thể bị đồng hóa với tinh
thần bài ngoại của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.
Nhà nước dân chủ, đặt nền tảng trên ý niệm quốc gia, đã
là tiến bộ vĩ đại nhất của loài người trong các thế kỷ
17 và 18. Những nhà nước-quốc gia này vì được tổ chức
để khuyến khích và đón nhận sự hưởng ứng tự do và tự
nguyện của mọi người đã giải tỏa sinh lực, ý kiến và
sáng kiến của toàn dân, đã thúc đẩy mọi tiến bộ khoa
học, kỹ thuật, triết học, văn hóa và nghệ thuật và đã
khiến các nước phương Tây vượt xa hẳn phần còn lại của
thế giới. Trong chiều sâu, lý do chính đã khiến các nước
phương Tây đột ngột gia tăng sức mạnh là sự khám phá ra ý
niệm quốc gia.
May mắn hơn nhiều dân tộc khác, người Việt Nam có một
truyền thống sống chung lâu dài và ổn vững do điều kiện
địa lý đặc biệt. Phần đất lâu đời của chúng ta, miền
Bắc, được vách núi dầy dặc về phía Bắc và phía Tây bao
che trong khi phía Đông tựa lưng ra biển cả. Nhờ tình trạng
biệt lập đó mà biên giới cũng như cấu tạo nhân văn của ta
đã không thay đổi bao nhiêu trong nhiều thế kỷ. Do đó mà ý
thức cộng đồng và sự quyến luyến với quê cha đất tổ
rất cao và đã có thể làm nền tảng cho một ý thức quốc gia
và dân tộc rất mạnh. Nhưng do sự thiếu hụt tư tưởng chính
trị, chúng ta đã chỉ biết đến ý niệm quốc gia, như là
một thực thể của chung mọi người dân, một cách muộn màng.
Chúng ta chỉ biết đến ý niệm quốc gia vào lúc đang bị
ngoại bang thống trị. Từ đó đến nay chúng ta liên tiếp
chịu đựng những cuộc chiến và những chế độ độc tài.
Chúng ta chưa bao giờ có dân chủ, yếu tố nền tảng của
quốc gia và dân tộc, do đó chúng ta chưa xây dựng được một
quốc gia đúng nghĩa và cũng chưa vận dụng được sức mạnh
thực sự của một dân tộc.
Nếu các nhà nước-quốc gia đã là nguyên nhân tạo ra sức
mạnh và sự phồn vinh của các nước Âu Mỹ thì sự thiếu
vắng của chúng cũng giải thích sự thua kém và những đau khổ
của nhiều nước trong đó có chúng ta.
Các nhà nước-quốc gia mạnh và có ích lợi lớn vì chúng đã
được quan niệm một cách đúng đắn. Quốc gia là của mọi
người và ở trên tất cả. Nhà nước, hay chính quyền, chỉ
có sứ mệnh phục vụ quốc gia, do đó phải ở trong và ở
dưới quốc gia. Nhà nước không phải là cứu cánh mà chỉ là
công cụ và vì thế chỉ cần được tạo dựng và duy trì ở
mức độ thực sự cần thiết. Quốc gia mới là cứu cánh, mà
quốc gia trước hết là tập thể những người công dân tự do
và bình đẳng.
Nhà nước không có quyền lợi của riêng mình mà chỉ biết
quyền lợi của quốc gia, trong khi quyền lợi của quốc gia do
toàn dân qui định sau một đúc kết đứng đắn của những ý
kiến cá nhân được bày tỏ một cách tự do. Về cơ bản nhà
nước-quốc gia là dụng cụ để thực hiện đồng thuận xây
dựng tương lai chung của những con người tự do. Chính vì thế
mà nhà nước ấy một mặt động viên được sự đóng góp
của mọi người và, mặt khác, bảo đảm để mọi người
phát huy tối đa khả năng của mình và đóng góp tối đa vào
phúc lợi chung.
Chúng ta, cũng như nhiều dân tộc không may khác, đã thua kém
bởi vì chúng ta không có được những nhà nước như thế.
Ngược lại, ở mỗi giai đoạn, chúng ta chỉ có những nhà
nước của riêng một tập đoàn cầm quyền thay vì của mọi
người. Những nhà nước đó có quyền lợi của riêng mình và
chỉ biết quyền lợi của riêng mình cho nên chỉ có ưu tư
giữ lấy quyền lực của mình bằng mọi giá ngay cả nếu
phải gây những thiệt thòi lớn cho dân tộc. Đó là những nhà
nước khống chế thay vì phục vụ quốc gia, những nhà nước
coi dân chúng là đối tượng để kiểm soát và sử dụng thay
vì là những đối tượng để bảo vệ và phục vụ.
Chúng ta hiện đang đứng trước tình trạng đặc biệt trầm
trọng bởi vì chúng ta chưa xây dựng xong một quốc gia đúng
nghĩa trong khi ý niệm quốc gia đang bị xét lại và vượt qua.
Như thế chúng ta vừa phải nhanh chóng xây dựng một quốc gia
đúng nghĩa lại vừa phải đúng hẹn với tương lai, nghĩa là
quan niệm quốc gia theo nghĩa mà nó sẽ phải có.
Do sự bùng nổ của các phương tiện giao thông và truyền
thông, đồng thời với những trao đổi dồn dập và sự bành
trướng của những tư tưởng mới, các yếu tố cấu tạo
truyền thống của tinh thần quốc gia dân tộc đã thay đổi
trọng lượng tương đối.
Cảm giác yên tâm trong sự gần gũi, sự lo sợ cái lạ và
người lạ, liên hệ huyết thống, sự ràng buộc với lịch
sử và văn hóa cổ truyền, sự quyến luyến với mảnh đất
quen thuộc, sự tiện nghi trong việc giao tiếp với những
người cùng một tập quán và nếp sống, v.v. tất cả đều
trở thành không quan trọng và ngày càng không quan trọng trong
một thế giới cho phép sự trao đổi trực tiếp và tức khắc,
kể cả làm việc chung, giữa những con người ở hai đầu trái
đất và trong đó con người di chuyển và tiếp xúc thường
xuyên, thu nhận hàng ngày đủ loại thông tin, hình ảnh và ý
kiến. Quả đất đã là quê hương bé nhỏ chung của cả loài
người và hạnh phúc cá nhân đã trở thành giá trị cao nhất.
Những tình cảm truyền thống đã đóng góp tạo ra tinh thần
quốc gia dân tộc ngày càng bộc lộ tính thủ cựu và hạn
hẹp của chúng.
Mặt khác vai trò và chỗ đứng của quốc gia cũng bị công phá
từ mọi phía. Từ bên ngoài, với những kết hợp khu vực tạo
ra một không gian hoạt động lớn hơn, từ bên trong do những
đòi hỏi của các cá nhân và các cộng đồng sắc tộc, và
từ cả trong lẫn ngoài do sự bành trướng nhanh chóng của các
công ty đa quốc gia mà vai trò và trọng lượng đang gia tăng
nhanh chóng.
Trong bối cảnh đó, những lý do ràng buộc con người với
đất nước dĩ nhiên phải thay đổi và trên thực tế đã thay
đổi. Con người ngày nay ràng buộc với đất nước trước
hết vì một trong ba lý do : vì đất nước bảo đảm cho mình
những che chở và quyền lợi đặc biệt, vì đất nước đem
lại cho mình một nguồn hãnh diện hay, một cách giản dị, vì
đất nước là của mình.
Trong các yếu tố cấu tạo ra quốc gia, lãnh thổ không còn giá
trị tuyệt đối, con người có thể yêu nước và đóng góp cho
đất nước dù sống ở bất cứ nơi nào. Di sản lịch sử,
văn hóa và ngôn ngữ cũng đã giảm t)ầm quan trọng. Chính
quyền cũng không quan trọng. Quan niệm một tổ quốc thiêng
liêng mà mọi người phải phục tùng, tôn kính và phục vụ vô
điều kiện lại càng lỗi thời. Còn lại những con người và
dự án tương lai chung, hai yếu tố cấu tạo của quốc gia mà
tầm quan trọng ngày càng tăng lên.
Như thế, một quốc gia chỉ có thể tồn tại nếu được quan
niệm không phải như một chủng tộc hay một quá khứ mà như
một không gian liên đới giữa những con người hiểu nhau, quí
trọng nhau và hợp tác với nhau để xây dựng và chia sẻ một
tương lai chung. Quốc gia như thế chủ yếu là xã hội dân sự
với ký ức của nó, với những vấn đề phải giải quyết
của nó và với những dự định tương lai của nó. Nhà nước
ở trong và ở dưới quốc gia với sứ mạng phục vụ quốc gia
cho nên nhà nước có vai trò phục vụ chứ không khống chế xã
hội dân sự.
Một đất nước được hiểu như thế vẫn còn khả năng để
ràng buộc người Việt Nam với nhau và vẫn rất cần thiết cho
mọi người, đồng thời cũng là môi trường thuận lợi cho
những hợp tác. Đất nước ấy sẽ có lợi cho mọi người
bởi vì đó sẽ là môi trường phát triển tự nhiên cho mỗi
người. Đất nước ấy sẽ là nguồn yểm trợ để mọi
người chúng ta xây dựng đời mình đồng thời cùng nhau xây
dựng một niềm tự hào chung và tăng cường những quyền lợi
chung. Đất nước ấy cũng sẽ là một chỗ dựa tình cảm cho
mỗi người để hạnh phúc được toàn vẹn. Đất nước ấy
phải là của mọi người chứ không phải là của riêng của
một thế lực hay đảng phái nào.
Đó là quan điểm của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên về đất
nước Việt Nam. Niềm tin của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên là
chỉ có một quan niệm về quốc gia như vậy mới có thể đem
lại cho mọi người Việt Nam lý do để yêu nước và chung sức
dựng nước, nghĩa là mới cho phép Việt Nam tồn tại và vươn
lên.
<h2>2. Dân chủ đa nguyên</h2>
Để thoát khỏi bế tắc hiện nay và hội nhập vào thế giới
tiến bộ, để có thể động viên một cách hữu hiệu mọi
sinh lực quốc gia vào cố gắng vươn lên mưu tìm một chỗ
đứng xứng đáng trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam không có
chọn lựa chính trị nào khác hơn là một thể chế dân chủ
đa nguyên.
Dân chủ đa nguyên không những là chọn lựa hiển nhiên cho
Việt Nam mà còn là hướng đi tất yếu của loài người tiến
bộ.
Cuộc tranh cãi gay go nhất trong thế kỷ hai mươi đã là cuộc
tranh cãi về dân chủ. Hàng chục triệu người trên khắp thế
giới đã thiệt mạng vì những xung đột gây ra bởi cuộc tranh
cãi này. Vấn đề cốt lõi là làm thế nào để người dân
quyết định vận mệnh đất nước, và nhiều công thức đã
được đề ra và thử nghiệm.
Cuộc tranh cãi này hiện nay có thể coi như đã chấm dứt. Chủ
nghĩa Mác-Lênin và mô hình "dân chủ xã hội chủ nghĩa" mà nó
đề xướng đã hoàn toàn sụp đổ. Các chế độ cộng sản
còn lại chỉ còn là những chế độ độc tài bạo ngược
thuần túy. Mô hình dân chủ đặt nền tảng trên tự do cá
nhân đã thắng về mặt lý thuyết và cũng đang thắng trên
thực tế. Số lượng các nước dân chủ đang gia tăng mau
chóng.
Nhiều người nói nền dân chủ kiểu phương Tây, mà hầu hết
các dân tộc trên thế giới đã chấp nhận là đúng, tự nhiên
đã có đa nguyên. Điều này có phần đúng, nhưng cụm từ "dân
chủ đa nguyên" có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của nó, nhất
là đối với người Việt Nam trong giai đoạn hiện tại. Nó
nói lên một tinh thần, một thái độ và một lý tưởng. Tinh
thần đó là tinh thần bao dung và khoan nhượng, tôn trọng mọi
người, mọi ý kiến. Thái độ đó là thái độ bác bỏ thẳng
thắn mọi hình thức độc tài chuyên chính, kể cả, và nhất
là, thứ "dân chủ" bịp bợm mệnh danh là "dân chủ tập trung"
hay "dân chủ xã hội chủ nghĩa" dành địa vị độc tôn cho
một chủ nghĩa và một tập đoàn lãnh đạo. Lý tưởng đó là
lý tưởng xây dựng đất nước Việt Nam có chỗ đứng xứng
đáng và ngang nhau cho tất cả mọi người.
Đa đảng chưa phải là đa nguyên nếu mọi khuynh hướng không
được nhìn nhận một chỗ đứng ngang nhau. Trong những ngày
độc đoán và giáo điều nhất của nó, chế độ cộng sản
Việt Nam cũng đã có ba hoặc bốn đảng, nhưng không phải vì
thế mà nó đã có đa nguyên. Đa đảng chỉ là yếu tố cần,
nhưng chưa đủ, của đa nguyên. Đa nguyên là một tinh thần,
trong khi đa đảng chỉ là một con số.
Trong cuộc tranh hùng với phong trào cộng sản, các nước
phương Tây đã lấy một quyết định vô cùng táo bạo là thay
vì co cụm lại trong một kỷ luật tự vệ xơ cứng lại phát
triển tối đa nền dân chủ của họ, mà nét đậm nhất là
sự tôn trọng mọi khác biệt trong xã hội, và họ dần dần
tiến tới dân chủ đa nguyên. Tuy vậy nhiều thể chế tư bản
phương Tây chưa phải là những nền dân chủ đa nguyên đúng
nghĩa. Các nước phương Tây ở vào những mức độ đa nguyên
khác nhau.
Dân chủ đa nguyên là sự hội nhập và ứng dụng triết lý đa
nguyên vào đời sống chính trị. Căn bản của triết lý đa
nguyên là tinh thần bao dung, là sự nhìn nhận và tôn trọng
mọi khác biệt trong xã hội. Dĩ nhiên tính đa nguyên có trong
mọi xã hội và nếu muốn ngụy biện thì xã hội nào cũng đa
nguyên cả, nhưng điều độc đáo là triết lý đa nguyên thay
vì coi sự hiện diện của những thành tố khác biệt như một
thực tại phải nhìn nhận và khắc phục, lại coi như một lẽ
tự nhiên, một sự phong phú cần được khuyến khích và khai
thác. Đó là một phong cách sinh hoạt chính trị. Dân chủ đa
nguyên là dân chủ nhưng không phải dân chủ nào cũng là dân
chủ đa nguyên.
Dân chủ đa nguyên là một hệ thống chính trị mới với
những đặc tính bắt buộc của nó. Ta có thể nhấn mạnh năm
đặc tính:
<em><strong>Một là</strong></em>: dân chủ đa nguyên nhìn nhận và
tôn trọng chỗ đứng và tiếng nói ngang nhau cho mọi người
thuộc mọi thành phần xã hội, mọi tín ngưỡng và mọi khuynh
hướng chính trị. Dân chủ đa nguyên lên án mọi phân biệt
đối xử, nó chống đối quyết liệt chế độ độc đảng.
Một cách cụ thể bản hiến pháp của một thể chế dân chủ
đa nguyên không thể chứa đựng bất cứ một qui chiếu nào
về một chính đảng, một chủ nghĩa hay một tôn giáo.
<em><strong>Hai là</strong></em>: ngoài nguyên tắc phân quyền phải
có trong mọi nền dân chủ xứng đáng với tên gọi của nó,
dân chủ đa nguyên đòi hỏi tản quyền để tôn trọng sự
khác biệt giữa các địa phương. Một chính quyền dù xuất
phát từ bầu cử tự do đi nữa cũng không phải là dân chủ
đa nguyên nếu phần lớn quyền hành tập trung trong tay chính
quyền trung ương. Trong một thể chế dân chủ đa nguyên các
chính quyền địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra,
phải có những quyền luật định rộng rãi để tổ chức
cuộc sống phù hợp với bối cảnh riêng của mỗi vùng. Mỗi
vùng phải có diện tích và dân số ở mức độ thỏa đáng
để có thể là những thực thể đủ tầm vóc để tự quản
được và phát triển được. Như thế một số nguyên nhân xung
đột sẽ tự nhiên được giải tỏa. Các sắc tộc ít người
sẽ có được tiếng nói đáng kể tại các địa phương mà
họ tập trung đông đảo. Các chính đảng không có được đa
số trong các cuộc bầu cử toàn quốc vẫn có thể nắm được
chính quyền tại những địa phương nơi họ được tín nhiệm.
Dân chủ đa nguyên làm nhẹ đi mối căng thẳng chính quyền -
đối lập, ở cấp trung ương cũng như cấp địa phương, và
xóa bỏ mối xung khắc "được làm vua thua làm giặc". Tản
quyền đưa tới hệ luận là chính quyền trung ương không cai
trị trực tiếp mà chỉ đảm nhiệm các sứ mạng quốc phòng,
ngoại giao, tiền tệ và phối hợp giữa các địa phương. Một
vai trò khác của chính quyền trung ương là thực hiện các công
trình cơ sở hạ tầng trên qui mô cả nước và trợ giúp các
chương trình địa phương đáng khuyến khích.
<em><strong>Ba là</strong></em>: dân chủ đa nguyên đặt nền tảng
trên xã hội dân sự. Bên cạnh các chính đảng, các cộng
đồng sắc tộc, địa phương và tôn giáo, các hiệp hội công
dân tổ chức theo ngành nghề, quyền lợi, nhân sinh quan, sở
nguyện, ưu tư, v.v. được hoạt động độc lập với chính
quyền, được nhìn nhận một chỗ đứng trọng yếu, được
có tiếng nói và ảnh hưởng trong sinh hoạt cũng như trong sự
tiến hóa của xã hội. Nhà nước tự coi mình là có sứ mạng
phục vụ xã hội dân sự chứ không khống chế xã hội dân
sự, không định đoạt sinh hoạt thường ngày thay cho xã hội
dân sự. Về mặt kinh tế, điều này có nghĩa là nền kinh tế
quốc gia phải đặt nền tảng trên các xí nghiệp tư, khu vực
quốc doanh phải được giới hạn ở mức tối thiểu và nếu
không có thì càng hay. Một xã hội dân sự mạnh và đa dạng
là bảo đảm chắc chắn nhất cho sự chuyển hóa thường
trực, tự nhiên và liên tục của xã hội, tránh những xáo
trộn đột ngột và đầy đổ vỡ của các cuộc cách mạng.
<em><strong>Bốn là</strong></em>: dân chủ đa nguyên kính trọng
các thiểu số và luôn luôn mưu tìm thỏa hiệp. Trong một thể
chế dân chủ đa nguyên, nguyên tắc thiểu số phục tùng đa
số không được sử dụng một cách tự động và máy móc mà
chỉ được dùng tới sau khi đã tận dụng mọi cố gắng để
tìm đồng thuận. Dân chủ đa nguyên chống lại mọi hình thức
chuyên chính, kể cả chuyên chính của đa số. Bình thường
trong một thể chế dân chủ sự chính đáng của một chính
quyền dựa trên kết quả của cuộc bầu cử cuối cùng, nhưng
trong dân chủ đa nguyên sự chính đáng của một chính quyền
còn nằm cả trong sự thành khẩn tìm đồng thuận trong mọi
quyết định quan trọng.
<em><strong>Năm là</strong></em>: dân chủ đa nguyên trong bản chất
của nó tôn trọng mọi thành phần dân tộc và không thể để
một thành phần này bóc lột và chà đạp một thành phần
khác. Vì thế dân chủ đa nguyên coi rất trọng công bằng xã
hội và không thể đi đôi với cái thường được gọi là "tư
bản rừng rú".
Trong một thể chế dân chủ đa nguyên, nhà nước không còn là
người chỉ huy tuyệt đối. Vai trò của nhà nước là đảm
nhiệm ba chức năng : trọng tài trong các quan hệ giữa các
thành tố của xã hội, chế tài những vi phạm, và hòa giải
những đòi hỏi mâu thuẫn của các thành phần dân tộc. Nhà
nước hòa giải thay vì nhà nước chỉ huy là nét đậm của
dân chủ đa nguyên. Nó phân biệt hẳn dân chủ đa nguyên với
các chế độ chuyên chính, nhưng nó cũng khiến dân chủ đa
nguyên khác với nhiều chế độ dân chủ trong đó chính quyền
vẫn còn tham vọng định đoạt thay cho xã hội dân sự.
Với sự tôn trọng mọi khác biệt, với vai trò nền tảng của
xã hội dân sự gồm vô số các cộng đồng, hiệp hội công
dân và các xí nghiệp, với tổ chức chính trị tản quyền, xã
hội đa nguyên là sự kết hợp vô cùng phức tạp của vô số
liên hệ đan xen. Một xã hội phức tạp như vậy chỉ có thể
tồn tại được với những luật lệ rõ ràng, minh bạch và
được áp dụng triệt để. Nhà nước trong một thể chế dân
chủ đa nguyên chỉ có thể là một nhà nước pháp trị. Nhà
nước văn minh nào cũng phải là một nhà nước pháp trị nhưng
nhà nước dân chủ đa nguyên phải là một nhà nước pháp trị
toàn vẹn.
Nhìn vào thực trạng Việt Nam, nếu có một điều mà chúng ta
có thể quả quyết thì đó là với tình trạng hận thù chồng
chất, khủng hoảng niềm tin và thiếu đồng nhất về lập
trường hiện nay không thể áp đặt một lực lượng nào hay
một đường lối nào mà không gặp sự chống đối mạnh mẽ.
Thể chế Việt Nam tương lai phải là một thể chế tôn trọng
mọi khác biệt, dành chỗ đứng và tiếng nói ngang nhau cho mọi
người và cho mỗi người. Thể chế này do đó bắt buộc phải
là một thể chế dân chủ đa nguyên.
Nhiều người viện cớ dân ta chưa đủ kinh nghiệm dân chủ,
tinh thần kỷ luật còn chưa cao, lòng người còn phân tán, v.v.
để cho rằng dân chủ là một xa xỉ phẩm đối với Việt Nam.
Như vậy phải chăng chúng ta đành phải tạm thời chấp nhận
một phân lượng độc tài nào đó? Để trả lời câu hỏi
này, chúng ta chỉ cần so sánh những thành tựu của các nước
dân chủ với thành tích tồi tệ của các chế độ cộng sản,
nhìn vào những gì mà các chế độ độc tài cánh hữu đã
từng đem lại cho các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ La
Tinh.
Nhưng ngược lại cũng không nên ngộ nhận về bản chất của
dân chủ. Dân chủ không giải quyết tức khắc và toàn bộ
vấn đề phát triển. Thành công của mọi chế độ đòi hỏi
những chọn lựa đúng đắn và những con người có khả năng.
Dân chủ không đem cơm áo và sự phồn vinh để phát không. Dân
chủ không thay thế cho những chọn lựa và những con người.
Nhưng dân chủ là một phong cách sinh ho_ạt cho phép đặt các
vấn đề một cách đúng đắn và chọn lựa một cách đúng
đắn những người có trách nhiệm. Dân chủ, và nhất là dân
chủ đa nguyên, cũng là một phương thức tổ chức xã hội cho
phép phát huy triệt để ý kiến và sáng kiến, động lực cơ
bản nhất của tiến bộ. Vì thế mức độ dân chủ quyết
định một giới hạn trên cho phát triển. Dân chủ càng cao,
khả năng phát triển càng cao.
Ngược lại, các chế độ độc tài cấm cản ý kiến và sáng
kiến, ngăn chặn tiến hóa hòa bình và liên tục của xã hội,
dung túng tham nhũng, bất công và lạm quyền, và do đó ngăn
cản phát triển. Chúng ta cần cảnh giác là không thể có
những chế độ độc tài sáng suốt bởi vì nền tảng của
mọi chế độ độc tài là sự kiêu căng bệnh hoạn của một
nhóm người tự nghĩ rằng họ đủ thông minh để suy nghĩ thay
cho cả một dân tộc. Nhà độc tài trước hết là một kẻ u
mê. Vả lại, nếu quan sát, ta có thể thấy hầu hết các tập
đoàn độc tài đều thiếu văn hóa.
Dĩ nhiên dân chủ đa nguyên không thể đem lại tất cả mọi
phúc lợi của nó trong những điều kiện dân trí, xã hội và
kinh tế chưa tốt đẹp, nhưng ngay cả trong trường hợp này
dân chủ đa nguyên vẫn còn hơn xa độc tài.
Chúng ta khẳng định: dân chủ đa nguyên thực sự và ngay tức
khắc.
Để có dân chủ đa nguyên thực sự, điều chúng ta phải làm
trước hết là xóa bỏ những hận thù do một quá khứ đẫm
máu để lại và được một chính sách phân biệt đối xử
nuôi dưỡng suốt thời gian qua. Hòa giải dân tộc là một bắt
buộc của hoàn cảnh lịch sử. Có như thế chúng ta mới có
thể chấp nhận lẫn nhau, nhận lỗi với nhau và tha lỗi cho
nhau, để chung sống với nhau và bắt tay nhau xây dựng một
tương lai chung. Còn nếu không đa nguyên cùng lắm chỉ có nghĩa
là tạm thời chịu đựng lẫn nhau do một so sánh lực lượng
chưa ngã ngũ. Đa nguyên mà không có hòa giải dân tộc như vậy
chỉ là đa nguyên bệnh hoạn, chỉ chuẩn bị cho một sự thanh
toán lẫn nhau. Ngược lại dân chủ đa nguyên cũng là điều
kiện cần để có thể có hòa giải dân tộc thực sự. Hòa
giải mà không có đa nguyên chính trị cũng chỉ là hòa giải
bịp bợm, hòa giải trong sự khuất phục của kẻ bị trị
trước kẻ thống trị, nghĩa là một hòa giải không thể có.
Đất nước ta không phải chỉ có những hận thù do chiến tranh
để lại. Chúng ta còn có vô số nguyên nhân chia rẽ mà chúng
ta đã không giải quyết được vì ta đã không ý thức được
tầm quan trọng của các vấn đề đặt ra, hay vì hoàn cảnh
chiến tranh đã không cho phép ta giải quyết. Những cách biệt
về tôn giáo, địa phương, sắc tộc, giàu nghèo, nhân sinh quan,
chính kiến, v.v. không thiếu, và vì không được giải quyết
nên càng ngày càng trở nên trầm trọng. Dân chủ đa nguyên, do
tinh thần bao dung và mô thức tản quyền của nó là giải pháp
giúp mọi thành phần dân tộc đều có chỗ đứng và tiếng
nói, và do đó có thể chấp nhận lẫn nhau, xáp lại gần nhau,
hòa hợp với nhau để cùng xây dựng một tương lai Việt Nam
chung.
Không ai phủ nhận rằng đa nguyên là một lý tưởng đẹp,
đẹp đến nỗi các chế độ độc tài, dù bị khốn đốn vì
nó, cũng không dám phủ nhận nó một cách dứt khoát.
Dân chủ đa nguyên đang trở thành đồng thuận căn bản của
dân tộc ta trong cuộc hành trình về tương lai. Đó cũng là
hướng đi tất yếu của loài người. Những người tranh đấu
cho dân chủ đa nguyên có quyền tự hào vì mình đang theo đuổi
một lý tưởng đẹp và cũng có quyền lạc quan vì mình đang
tranh đấu cho một lập trường nhất định sẽ thắng lợi.
<h2>3. Hòa giải và hòa hợp dân tộc</h2>
Trong hơn bốn thế kỷ qua, kể từ khi họ Mạc cướp ngôi nhà
Lê hồi đầu thế kỷ 16, nước ta liên tiếp đi từ cuộc
chiến tranh này đến cuộc xung đột khác. Đất nước bị chia
cắt nhiều lần trong hơn hai thế kỷ, bị đô hộ và bị đặt
dưới những chế độ hành chánh khác nhau trong gần một trăm
năm. Chiến tranh, nội loạn, trả thù, báo oán, bách hại đã
là những yếu tố thường trực trong lịch sử cận đại của
ta. Khốc liệt nhất là cuộc chiến sau cùng 1945-1975 trong đó
lần đầu tiên chúng ta xung đột với nhau cả về ý thức hệ,
và sau đó phe chiến thắng thi hành chính sách bỏ tù và hạ
nhục, đồng thời với vô số biện pháp phân biệt đối xử.
Do hoàn cảnh lịch sử, chất liệu nhân xã của chúng ta đã
bị tổn thương nặng nề. Những đổ vỡ đòi hỏi một thời
gian hàn gắn rất lâu dài, do đó tinh thần căn bản của mọi
chính sách cho nhiều thế hệ tới sẽ phải là hòa giải và
hòa hợp dân tộc. Hòa giải dân tộc để xóa bỏ những hận
thù và hiềm khích của quá khứ để đi đến hòa hợp dân
tộc trong cố gắng xây dựng một tương lai chung.
Trong một thế giới thay đổi dồn dập như hiện nay, quốc gia
nào cũng phải chịu những xáo trộn không ngừng. Ngành này
tiến lên trong khi ngành kia suy thoái, khu vực này bành trướng
trong khi khu vực khác trì trệ. Những chênh lệch xã hội liên
tiếp xuất hiện và các chính sách dù hoàn chỉnh đến đâu
cũng không thể nào thỏa mãn được tất cả mọi người. Cho
nên quốc gia nào, dân tộc nào cũng luôn luôn phải hòa giải
với nhau vì các mối xung đột quyền lợi và căng thẳng luôn
luôn xảy ra. Hòa giải đã trở thành triết lý điều hành
quốc gia.
Hòa giải là bắt buộc của mọi dân tộc dù ở trình độ nào
và có lịch sử nào. Nhưng dân tộc Việt Nam là một trong
những dân tộc cần hòa giải hơn cả.
Chúng ta cần hòa giải cộng đồng quốc gia nói chung với các
sắc tộc ít người đã có mặt trên đất nước này từ ngày
mở nước và luôn luôn bị chà đạp và hắt hủi trong suốt
dòng lịch sử.
Chúng ta cần hòa giải các tôn giáo, nhất là Phật giáo và
Công giáo, hai tôn giáo đã bị các nhà cầm quyền Việt Nam
cũng như ngoại bang bách hại, đàn áp, phân biệt đối xử và
đặt vào thế đối đầu với nhau. Đã thế, các hiềm khích,
hậu quả của một hoàn cảnh lịch sử trong đó cả hai tôn
giáo đều là nạn nhân, thay vì được giải tỏa còn đôi khi
bị thổi phồng và khai thác cho những tham vọng bất chính.
Chúng ta cần hòa giải và hòa hợp hai miền Nam-Bắc đã
thường xuyên bị chia cắt và đặt vào thế tương tranh và kể
từ 1975 bị chia rẽ bởi một chính sách không khác gì một sự
chiếm đóng của đảng cộng sản.
Chúng ta cần hòa giải đất nước với cộng đồng người
Việt hải ngoại đã phải bỏ người thân, tài sản, mồ mả
tổ tiên ra đi vì không thể chấp nhận được một chính
quyền hà khắc, đã phải chịu đựng những khổ đau và mất
mát rất lớn do hải tặc, sóng gió và công an.
Chúng ta cũng cần hòa giải người Việt Nam với đất nước
Việt Nam. Phải nhìn nhận rằng làm người Việt Nam trong thế
kỷ 20 đã là một điều không may. Đất nước đã chỉ là hy
sinh. Hơn thế nữa, các tập đoàn lãnh đạo kế tiếp nhau còn
nhân danh đất nước để phạm những tội ác rất nghiêm
trọng. Dĩ nhiên, đất nước không đồng hóa với người cầm
quyền, nhưng vẫn được thể hiện qua người cầm quyền. Vì
thế, khi trong một thời gian quá dài chỉ có những người cầm
quyền gian trá hay bạo ngược, hay vừa gian trá vừa bạo
ngược, thì chính hình ảnh của đất nước cũng bị tổn hại
và lòng yêu nước cũng bị suy giảm. Hòa giải người Việt Nam
với đất nước Việt Nam là điều phải làm để phục hồi
lòng yêu nước, một yếu tố không thể thiếu nếu chúng ta
còn muốn một tương lai cho Việt Nam. Muốn như thế nhà nước,
người đại diện đất nước, phải là một nhà nước khiêm
tốn, hiền hòa. Tổ quốc Việt Nam phải được cảm nhận như
một tình yêu và một dự án tương lai chung.
Nhưng gần nhất và cũng đau đớn nhất, chúng ta vừa tàn sát
nhau trong một cuộc tương tranh kéo dài ba mươi năm. Những vết
thương vẫn còn chảy máu và thay vì được hàn gắn đã bị
trầm trọng hóa bởi một chính sách phân biệt đối xử thô
bạo.
Trong cuộc xung đột vừa qua chúng ta đã không có chọn lựa
tốt nào. Chúng ta đã chỉ có những chọn lựa đau buồn, giữa
cái dở và cái mà một cách chủ quan chúng ta thấy là còn dở
hơn. Chúng ta đã chỉ chịu đựng chứ không làm chủ các biến
cố. Rất ít người Việt Nam nào đã thực sự tranh đấu cho
cái mà mình ưa thích. Trong tuyệt đại đa số, người Việt
Nam, quốc gia cũng như cộng sản, đã chỉ chống lại phe mà
mình thấy là còn tồi tệ hơn hàng ngũ mình đang đứng.
Người không chịu đựng được sự thối nát của các chính
quyền quốc gia thì đứng vào hàng ngũ cộng sản, mặc dầu
cũng biết bản chất bạo ngược của nó, còn người thấy
rằng để đất nước lọt vào tay cộng sản là một tai họa
quá lớn thì đứng vào hàng ngũ quốc gia, mặc dầu cũng chán
ghét sự thối nát của nó. Anh em ruột thịt, bạn bè thân
thích đã chỉ vì một sự lượng định nặng nhẹ khác nhau,
hay đã chỉ bị hoàn cảnh xô đẩy, mà phải quay lưng lại
với nhau, mạt sát nhau, bắn giết nhau. Cho nên, ngoài những
đổ vỡ về vật chất và sinh mạng, còn có một đổ vỡ lớn
hơn trong lòng mỗi người Việt Nam.
Để rồi, kẻ thì đã thua trận, bị tù đày và nhục mạ,
người thì nhận ra tất cả những hy sinh của mình chỉ là
để đóng góp cho một công trình đập phá đất nước. Chẳng
có ai có lý do gì để bắt lỗi ai, tất cả chúng ta đều đã
thất bại bẽ bàng. Chúng ta đều là nạn nhân. Chúng ta phải
bắt tay nhau cùng làm lại lịch sử.
Thách đố trước mắt chúng ta là một tập đoàn cầm quyền
đã gây đổ vỡ trầm trọng cho đất nước, đã thất bại
trên tất cả mọi phương diện và trong tất cả mọi địa
hạt, nhưng vẫn xấc xược tự cho mình độc quyền cai trị
đất nước vô thời hạn và đàn áp thô bạo mọi tiếng nói
đối lập, dù là ôn hòa. Tập đoàn này dùng mọi biện pháp
để ngăn chặn hòa giải và hòa hợp dân tộc vì họ biết
rằng chỉ có thể duy trì được sự thống trị của họ nếu
dân tộc Việt Nam bất lực vì hận thù và chia rẽ. Không
những không xoa dịu những vết thương của cuộc chiến, bằng
những biện pháp đàn áp chính trị, xếp loại dân chúng và
phân biệt đối xử, họ còn mở rộng hiềm khích tới nhiều
thành phần dân tộc và kéo dài hận thù tới thế hệ vừa
lớn lên.
Ngày hôm nay khát vọng của tuyệt đại đa số nhân dân Việt
Nam là dân chủ. Nhìn lại anh em, nhận lại bạn bè phải là
tinh thần chỉ đạo của một tập hợp dân tộc mới, trong đó
không có kẻ đúng người sai mà chỉ có những người anh em
bình đẳng cùng ngậm ngùi cho đất nước và cùng kết hợp
trong một cuộc vận động dân chủ. Hòa giải và hòa hợp dân
tộc chính là điều kiện cốt lõi để cô lập và đánh bại
tập đoàn độc tài ngoan cố.
Nhưng vượt lên trên những sôi động nhất thời, hòa giải và
hòa hợp dân tộc cũng là một đoạn tuyệt lịch sử cần
thiết để bẻ gãy cái vòng luẩn quẩn của hận thù và chia
rẽ đã giam hãm chúng ta từ nhiều thế kỷ qua, nhất là từ
nửa thế kỷ nay. Đây là một đoạn tuyệt lịch sử rất khó
khăn vì ý niệm hòa giải dân tộc hoàn toàn thiếu vắng trong
tâm lý chính trị Việt Nam. Trong gần tám thế kỷ, kể từ nhà
Trần, nhổ cỏ tận gốc, tru di tam tộc, tiêu diệt toàn bộ
vẫn là những biện pháp được người cầm quyền sử dụng
thay cho hòa giải. Dần dần cách ứng xử hung bạo đó đã ăn
rễ vào tâm lý tập thể làm cho ý niệm hòa giải trở thành xa
lạ đối với người Việt Nam. Vì thế nhiều người đã nói
rằng dân tộc Việt Nam không có nhu cầu hòa giải trong khi
thực sự chúng ta là một trong những dân tộc cần hòa giải
nhất. Chính vì thiếu tinh thần hòa giải mà chúng ta đã bị
tù hãm trong hận thù. Cái vòng oan nghiệt đó đã khiến chúng
ta không động viên được mọi sinh lực của đất nước để
vươn lên và giải thích tại sao chúng ta đã phải quằn quại
mãi trong đói khổ và thua kém.
Hòa giải và hòa hợp dân tộc là điều kiện cần cho thắng
lợi của cuộc vận động dân chủ hiện nay và cũng là điều
kiện cần cho thành công của cố gắng phục hưng đất nước
ngày mai.
Thực thi hòa giải dân tộc không phải chỉ đơn thuần là một
tình cảm mà còn đòi hỏi những biện pháp cụ thể. Nhà
nước Việt Nam tương lai sẽ đặt con người tự do làm đối
tượng phục vụ cao nhất. Nhà nước Việt Nam tương lai sẽ coi
đa nguyên như một giá trị tuyệt đối. Đa nguyên về mọi
mặt tâm linh, văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội. Nhà nước
Việt Nam tương lai sẽ chế tài nghiêm khắc mọi ngôn ngữ và
thái độ xúc phạm với mọi sắc tộc, mọi cộng đồng, mọi
tín ngưỡng, mọi quan điểm. Ngược lại nhà nước sẽ khuyến
khích và giúp đỡ tận tình mọi sáng kiến và cố gắng đem
mọi người Việt Nam thuộc mọi vùng, mọi sắc tộc, mọi tôn
giáo, mọi nhân sinh quan, mọi chính kiến đến gần nhau hơn
trong tinh thần tôn trọng mọi khác biệt. Nhà nước Việt Nam
tương lai sẽ phải phục hồi danh dự cho những người đã bị
hạ nhục, phải bồi thường thiệt hại, dù chỉ là một cách
không đầy đủ, cho những nạn nhân. Xóa bỏ hận thù có nghĩa
là sẽ không có những vụ án chính trị, ngược lại sẽ có
một đạo luật cấm nhà nước truy tố bất cứ ai vì chức
vụ mà họ đã giữ, trừ khi họ đã vi phạm một cách rất
nghiêm trọng ngay chính những luật lệ đương hành lúc họ
tại chức. Mọi công dân có quyền tố cáo những hà hiếp mà
mình đã là nạn nhân, và nhà nước sẽ xử lý những tranh
tụng đó như những tranh tụng giữa những công dân bình đẳng
trước pháp luật.
Những biện pháp đó, được thực hiện với thành tâm hàn
gắn những vết thương do lịch sử để lại, sẽ giúp chúng ta
dần dần tiến tới hòa hợp dân tộc trong cố gắng xây dựng
và chia sẻ một tương lai Việt Nam chung. Chúng ta sẽ khép lại
một trang sử đau buồn của đất nước và mở ra một trang
sử mới viết bằng tình tự dân tộc.
<h2>4. Phát triển đất nước trên nền tảng dân chủ, kinh tế
thị trường và sáng kiến cá nhân</h2>
Điều nhức nhối nhất của chúng ta là tình trạng lạc hậu
và nghèo khổ. Do đó trọng tâm của mọi cố gắng quốc gia
phải là phát triển, và một cái nhìn thấu đáo về vấn đề
phát triển là vô cùng quan trọng.
Ba phần tư nhân loại vẫn còn đang sống trong nghèo khổ, một
nửa đang sống trong nghèo khổ cùng cực. Cách đây hai thế
kỷ, ngay tại các nước phát triển nhất, quá phân nửa dân
số đã chết trước tuổi dậy thì. Phát triển như vậy là
một hiện tượng rất mới tại một số nước nhờ một số
điều kiện đặc biệt mà chúng ta cần nhận diện để nắm
bắt.
Trước hết, chúng ta hiểu phát triển như thế nào?
Phát triển là một thay đổi liên tục và kéo dài trong thời
gian, cho phép sử dụng ngày một hữu hiệu hơn tài nguyên và
nhân lực, đem lại cho quốc gia lợi tức ngày một lớn hơn và
cho con người cuộc sống ngày càng cao hơn về cả vật chất
lẫn tinh thần.
Phát triển là một khái niệm tương đối. Một quốc gia
được coi là phát triển khi đạt thành tích cao so với phần
còn lại của thế giới về lợi tức bình quân trên mỗi đầu
người, về giáo dục, y tế, gia cư và cơ sở hạ tầng, khi
hoạt động kinh tế mạnh và hiện đại, môi trường sinh sống
sạch và đẹp, các phương tiện di chuyển, thông tin, học hỏi
và giải trí dồi dào.
Phát triển, ngay cả với định nghĩa trên đây, cũng không
phải là tất cả. Sự thành công của một quốc gia, ngoài phát
triển, còn là sự kiện mọi người gắn bó một cách tự
nguyện trong cố gắng xây dựng một tương lai chung và mỗi
người cảm thấy được làm chủ đ^ời mình, được sống theo
ý mình, được quí trọng trong một xã hội không đe dọa,
được hưởng phúc lợi do cố gắng của mình, được bảo
đảm những cơ hội thăng tiến công bình, và có lý do để tin
rằng ngày mai sẽ hơn ngày hôm nay và cuộc sống của con cái
mình sẽ hơn cuộc sống của mình. Đó là mục tiêu chúng ta
muốn đạt tới.
Phát triển không phải chỉ là sự gia tăng tổng sản lượng
quốc gia. Do đó, một mức độ tăng trưởng 5% của tổng sản
lượng quốc gia với những hệ thống giáo dục và y tế hoàn
chỉnh, môi trường thiên nhiên được bảo vệ và cải thiện,
lợi tức được phân chia tương đối đồng đều, phải
được đánh giá là tốt hơn nhiều lần một tăng trưởng 15%
trong đó mọi vấn đề văn hóa, xã hội và môi sinh bị bỏ
rơi. Một thí dụ cụ thể là trường hợp của Trung Quốc
hiện nay. Mức độ tăng trưởng tuy khá cao, nhưng sự thiệt
hại gây ra cho môi trường nếu qui ra chi phí để phục hồi
còn cao hơn. Sự chênh lệch giàu nghèo quá lố và sự chênh
lệch giữa các vùng ngày càng trở thành báo động, thêm vào
đó là gần một phần tư dân số trở thành du mục sống vất
vưởng trên các hè phố hay các khu tập trung đột xuất tại
các vùng ngoại ô. Chúng ta không thể chấp nhận một tăng
trưởng như thế. Chúng ta tìm kiếm một phát triển hài hòa và
cân bằng, bởi vì chỉ có phát triển đó mới có thể kéo dài
và mới xứng đáng được coi là một mục tiêu quốc gia.
Tuy phát triển không phải chỉ là phát triển kinh tế, nhưng
phát triển kinh tế là yếu tố quan trọng nhất và cũng là
chìa khóa cho phát triển cân đối toàn bộ. Chúng ta là một
trong những dân tộc nghèo khổ và chậm tiến nhất nên phát
triển kinh tế là mục tiêu cấp bách nhất đối với chúng ta.
Chúng ta cần đánh tan ngay một lấn cấn tai hại.
Bịp bợm lớn nhất trong thế kỷ 20 đã là luận điệu cho
rằng một xã hội muốn tiến nhanh cần một chế độ độc
tài sáng suốt, cần đình hoãn xây dựng dân chủ và hy sinh
một số tự do căn bản. Bịp bợm này đã là nguyên nhân của
những tang tóc ghê gớm. Nó đã tạo ra và nuôi dưỡng các chế
độ phát xít quân phiệt tại Ý, tại Đức và tại Nhật. Nó
đã giúp cho phong trào cộng sản nảy sinh, phát triển và tồn
tại trong ba phần tư thế kỷ. Nó đã tiếp tay duy trì các chế
độ độc tài tại châu Mỹ La Tinh và châu Á trước đây. Và
nó vẫn đang được dùng làm chỗ dựa lý luận của nhiều
chế độ độc tài khác, trong đó có Việt Nam.
Những chế độ này đã chỉ đem lại những kết quả tồi
tệ. Các chế độ độc tài tại Ý, Đức và Nhật đã tích
lũy mâu thuẫn, đã bế tắc và phải lao đầu vào các cuộc
chiến tự hủy. Chế độ cộng sản tại Liên Xô đã hủy
hoại tài nguyên, môi trường, đã đày đọa dân chúng rồi
sụp đổ. Tất cả những chế độ độc tài khác đều có
một thành quả giống nhau : đói khổ và lạc hậu.
Sự thực, phát triển là hậu quả của tự do và dân chủ.
Nhưng vì tự nó phát triển cũng thúc đẩy và phát huy tự do
dân chủ nên dễ có ngộ nhận giữa hậu quả và nguyên nhân
đưa đến lập luận cứ tạm chấp nhận độc tài để có
phát triển rồi sau đó phát triển sẽ đem tới dân chủ. Sự
ngộ nhận này đã bị các tập đoàn độc tài khai thác.
Kinh nghiệm của các dân tộc chứng minh điều đó.
Hiện tượng phát triển trên qui mô quốc gia đã bắt đầu
xuất hiện tại châu Âu và Hoa Kỳ sau khi nh¨ững xã hội đặt
nền tảng trên dân chủ được thành lập. Nguyên nhân đã làm
nảy sinh ra phát triển là trọng lượng của nhà nước trong
đời sống thường ngày được giảm nhẹ, một hiến pháp dân
chủ và ổn vững được thượng tôn, luật pháp thay thế cho
các quyết định tùy tiện của người cầm quyền, con người
được tôn trọng và được bảo vệ, kinh tế hoạt động theo
qui luật của thị trường, hoạt động kinh doanh được tôn
vinh, buôn bán và trao đổi được đề cao, ý kiến và sáng
kiến được khuyến khích và tưởng thưởng, lợi nhuận
được nâng lên hàng một giá trị.
Quốc gia châu Á duy nhất đã bắt kịp các nước phương Tây
ngay đầu thế kỷ 20 là Nhật đã phát triển được nhờ mau
chóng chấp nhận sinh hoạt kinh tế phương Tây. Dưới cái vung
thống trị của một giai cấp hiệp sĩ kiêu căng sống tách
rời hẳn khỏi quần chúng, một xã hội dân chủ đã âm thầm
hình thành giữa đại đa số người Nhật và đã khiến cho
nước Nhật vươn lên ngay từ thế kỷ 18, rồi vươn lên mạnh
mẽ từ nửa sau thế kỷ 19.
Sự kiện hai chế độ phát xít Ý và quốc xã Đức đã đem
lại một số tiến bộ lúc ban đầu, và chế độ quân phiệt
Nhật đã duy trì được phát triển trong vài thập niên, giúp ta
nhận diện một yếu tố khác của phát triển vốn đã có trong
những phát triển trước đây : đồng thuận dân tộc. Cả ba
dân tộc này vào thời điểm đó đều cùng bực tức vì thua
kém và đều có được những lãnh tụ đủ sức lôi cuốn để
đoàn kết họ trong một cố gắng chung .
Kinh nghiệm của các nuớc vừa phát triển tại châu Á cần
được nhìn một cách chính xác bởi vì, trái với nhận định
hời hợt của một số người và trái với giải thích gian trá
của các chế độ độc tài, các quốc gia này đã phát triển
được vì họ đã dân chủ hơn và tự do hơn các nước chậm
tiến khác, mặc dầu chưa thể nói họ đã đạt tới dân chủ
trọn vẹn và đúng nghĩa.
Các nước châu Mỹ La Tinh với tài nguyên phong phú đã quằn
quại trong hơn một thế kỷ rưỡi trong lạc hậu dưới các
chế độ độc tài và đã chỉ vươn lên từ thập niên 1980
nhờ dân chủ.
Tại châu Âu, ba nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Hy Lạp, vì
vướng mắc vào các chế độ độc tài mà đã tụt hậu bi
đát ; họ đã chỉ vươn lên từ thập niên 70 nhờ vứt bỏ
được ách độc tài.
Ngay cả những tiến bộ kinh tế được ghi nhận gần đây tại
Trung Quốc và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ : chúng
đã có được nhờ kinh tế thị trường và nhờ một mức độ
tự do lớn hơn.
Kinh nghiệm của mọi dân tộc đã chứng minh : dân chủ, quyền
tư hữu, kinh tế thị trường, nhà nước nhẹ là những yếu
tố làm nảy sinh ra phát triển kinh tế.
Nhưng kinh nghiệm cũng cho thấy cùng những yếu tố ấy đã
tạo ra những phát triển kinh tế khác nhau về vận tốc và về
cường độ tại các quốc gia khác nhau, và nhiều quốc gia với
điều kiện thiên nhiên bất lợi đã phát triển mạnh mẽ hơn
những quốc gia khác, cũng dân chủ và còn có tài nguyên phong
phú hơn nhiều. Các yếu tố tâm lý và văn hóa đã đóng góp
vai trò quyết định.
Sau khi đã quan sát lịch sử của các dân tộc chúng ta cũng có
thể tiếp cận hiện tượng phát triển bằng lý luận kinh tế.
Phát triển kinh tế đòi hỏi ba yếu tố vừa cần vừa đủ :
con người có ước muốn kinh doanh, có thể kinh doanh, và có
phương tiện để kinh doanh.
Để ước muốn kinh doanh người dân cần một bối cảnh tâm
lý thuận lợi : hoạt động kinh doanh được xã hội quí
trọng, ý kiến và sáng kiến được đề cao, sự chấp nhận
rủi ro được tôn vinh ; họ cũng cần có lý do để lạc quan
tin tưởng rằng kinh doanh sẽ có lợi và lợi tức đó sẽ là
của họ. Nói một cách khác, để kinh doanh, cùng với một bối
cảnh kinh tế lạc quan, nhà kinh doanh cần một tâm lý xã hội
thuận lợi cho kinh doanh và một bảo đảm chắc chắn về
quyền tư hữu. Yếu tố khởi động này của phát triển giải
thích tại sao các nước cộng sản đã suy sụp vì không tôn
trọng quyền tư hữu. Nhưng quan trọng hơn, nó giải thích tại
sao hiện tượng phát triển đã chỉ có tại một số quốc gia
nhờ một tâm lý xã hội thuận lợi.
Để có thể kinh doanh, doanh nhân cần một xã hội có trật tự
và an ninh, cần được luật pháp đảm bảo và được tự do
hành động ; họ không thể bị trói buộc bởi quá nhiều qui
định, không bị gò bó trong một kế hoạch quốc gia cứng
chắc, không phải nộp thuế quá cao, không bị sách nhiễu bởi
một guồng máy chính quyền tham nhũng. Chúng ta nhìn thấy ở
đây sự cần thiết của một thể chế dân chủ pháp trị,
của một hoạt động kinh tế thị trường thay vì kinh tế
hoạch định, của một guồng máy nhà nước nhẹ. Nhưng chúng
ta cũng nhìn thấy một lần nữa các yếu tố tâm lý : đạo
đức và lương thiện. Tham nhũng cũng là hậu quả của sự suy
đồi của đạo đức xã hội.
Người kinh doanh dĩ nhiên cũng cần có phương tiện, nghĩa là
có nguồn nhân lực cần thiết với những khả năng cần có,
có một cơ sở hạ tầng tốt, có vốn đầu tư, có một hệ
thống tín dụng ngân hàng đắc lực để huy động vốn luân
chuyển. Vốn đầu tư chỉ là một trong những yếu tố và cũng
không phải là yếu tố quan trọng nhất. Vốn có ít thì đầu
tư ít, và lợi nhuận sẽ đẻ ra vốn. Vả lại tư bản có trí
khôn và lôgíc của chính nó, ở đâu kinh doanh có lợi vốn sẽ
tìm đến. Điều quan trọng hơn hết vẫn là con người, những
con người có kỹ năng và có tinh thần trách nhiệm. Một lần
nữa yếu tố tâm lý và văn hóa là nòng cốt.
Nói chung, phát triển cần một bối cảnh tự do dân chủ và là
một vấn đề chủ yếu văn hóa và tâm lý. Chính vì thế mà
một số quốc gia dù tài nguyên ít ỏi, dù bị tàn phá ghê
gớm vẫn vươn lên mạnh mẽ. Nước Đức và nước Nhật bại
trận và tan hoang đã chỉ cần một vài thập niên để trở
thành những nước phát triển nhất. Dân tộc Hòa Lan chen chúc
trên một mảnh đất nhỏ với tài nguyên thiên nhiên ít ỏi
cũng đã xây dựng được một trong những quốc gia phồn vinh
nhất thế giới. Chính vì phát triển trước hết là một vấn
đề văn hóa và tâm lý mà cho tới nay nó đã chỉ giới hạn
ở một số quốc gia.
Cần phân biệt tâm lý và văn hóa với trí tuệ và kiến thức.
Bẩm sinh con người có trí tuệ bằng nhau hay gần bằng nhau và
do đó nhờ giáo dục có thể đạt tới một trình độ hiểu
biết ngang nhau. Sự khác biệt là tâm lý và văn hóa, là óc
cầu tiến, tính chấp nhận rủi ro của kinh doanh, là tinh thần
trách nhiệm, là cách ứng xử trong cuộc sống tập thể.
Chúng ta cần thay đổi xã hội và con người để có phát
triển.
Chúng ta cần một xã hội dân chủ, quí trọng con người, đặt
lòng tin ở con người, để cho con người tự do quyết định
xây dựng đời mình. Chúng ta cần một nhà nước pháp trị, có
luật pháp đầy đủ và không có quá nhiều thủ tục, chúng ta
cần một cơ chế thị trường thay vì một kế hoạch áp đặt.
Chúng ta cần những con người tự do, trách nhiệm, lương
thiện, gắn bó vào cộng đồng, cầu tiến và thi đua chứ
không ghen tức và phá hoại. Chúng ta cần những con người ham
thích kinh doanh, khao khát làm giàu một cách lương thiện.
Chúng ta cần một bộ máy kinh tế hoạt động không cưỡng
chế. Nhà kinh doanh phải được phép tự do hành động theo các
qui luật khách quan của kinh doanh và thị trường. Công bằng xã
hội là một ưu tư thường trực của một chính quyền đứng
đắn, nhưng công bằng xã hội phải được thực hiện ở khâu
phân phối lợi tức quốc gia, qua thuế khóa, chứ không thể can
thiệp trực tiếp vào sự điều hành hoạt động kinh doanh.
Chúng ta cũng cần một bối cảnh pháp lý, nghĩa là hiến pháp
và pháp luật, ổn định để người dân có thể yên tâm xây
dựng cuộc sống và lập ra những dự định cho tương lai mà
không lo sợ một thay đổi luật chơi đột ngột làm hỏng dự
án kinh doanh của mình.
Nhưng hiến pháp và luật pháp ổn vững không có nghĩa là chính
quyền ổn vững. Sự thay đổi thường xuyên người cầm quyền
trong một bối cảnh pháp lý ổn vững không hề cấm cản cảnh
sát tiếp tục bảo vệ an ninh trật tự, không hề cấm cản
các thẩm phán tiếp tục xử án và cũng không hề cấm cản
một nhà máy tiếp tục hoạt động. Điều có thể tác hại cho
sinh hoạt kinh tế là những cuộc cách mạng làm đảo lộn tất
cả, là những thay đổi đột ngột luật pháp và định hướng
quốc gia.
Đẩy xa lý luận hơn nữa, ta còn có thể nói những chính phủ
dân chủ không có đa số áp đảo để thay đổi tùy tiện
luật pháp và chính sách còn có thể là một đảm bảo cho sự
ổn định bối cảnh pháp lý, và do đó có lợi cho phát triển.
Một chính quyền áp đảo và nhiều quyền lực chỉ cần thiết
để có thể quyết định mau chóng những thay đổi, và áp
đặt một kế hoạch phát triển quốc gia. Nhưng kế hoạch
quốc gia là điều chúng ta nên tránh. Kế hoạch quốc gia là
một sản phẩm duy ý chí, tàn dư của thời đại thế giới
chưa đủ sáng suốt và kinh nghiệm để nhận định rằng cần
để cho xã hội, qua qui luật thị trường khách quan, quyết
định những gì cần làm, làm tới mức nào và làm như thế
nào. Kế hoạch quốc gia là một cản trở cho phát triển mà
chúng ta phải loại bỏ, điều chúng ta cần là một định
hướng cho quốc gia và những dự án cho từng vấn đề, đặc
biệt là những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng. Dĩ nhiên
trong một hoàn cảnh còn khó khăn và còn nhiều trở ngại cho
phát triển, chúng ta cần một chính quyền có khả năng quyết
định những chọn lựa cần thiết nhằm tháo gỡ những ách
tắc do quá khứ để lại. Nhưng khả năng này một chính quyền
dân chủ và nhẹ vẫn có thể có được nhờ thuyết phục để
tạo ra đồng thuận và hậu thuẫn của quần chúng trên một
số chọn lựa căn bản phải làm.
Tóm lại, để phát triển đất nước, và trước hết là phát
triển kinh tế, chúng ta cần một thể chế dân chủ, một nhà
nước pháp trị, một sinh hoạt kinh tế thị trường, một sự
tôn trọng tuyệt đối ý kiến và sáng kiến cá nhân, một
niềm tin mạnh mẽ vào con người. Thể chế đó sẽ làm nảy
nở óc sáng tạo, tinh thần cầu tiến, tinh thần trách nhiệm.
Nhưng chúng ta cũng cần một cố gắng văn hóa quan trọng để
thượng tôn những giá trị của tiến bộ và đưa những giá
trị đó vào tâm hồn và phản xạ của mọi người. Những giá
trị đó là hòa bình, tự do, dân chủ, nhân quyền, bình đẳng,
nhà nước pháp trị, hợp tác, lợi nhuận liên đới và môi
trường.
Xây dựng một xã hội dân chủ đa nguyên, phát huy các giá trị
tiến bộ, chúng ta sẽ có phát triển, đặc biệt là phát
triển kinh tế. Đó là chủ thuyết phát triển của chúng ta.
Chúng ta quả quyết rằng một xã hội như thế và với những
giá trị như thế dù muốn không phát triển cũng không được.
Ngược lại, một xã hội không dân chủ, hoặc không có những
giá trị tiến bộ thì dù muốn và cố gắng đến đâu cũng
sẽ không có phát triển, hay chỉ có phát triển ở một mức
độ thấp. Tài nguyên thiên nhiên và vốn đầu tư là những
yếu tố rất thứ yếu.
Trong một chủ thuyết phát triển như thế, vai trò của nhà
nước chủ yếu là gìn giữ hòa bình và trật tự an ninh, bảo
đảm quốc phòng và công lý, tạo những quan hệ bang giao tốt
với cộng đồng thế giới, hòa giải và trọng tài những tranh
tụng của xã hội dân sự. Vai trò của nhà nước trong kinh tế
sẽ được giới hạn trong ba phạm vi : thuế, chi tiêu công
cộng và điều chỉnh khối lượng tiền tệ. Thuế để nhà
nước có ngân sách làm nhiệm vụ của mình và bảo đảm an
sinh và liên đới xã hội. Các chi tiêu công cộng để xây
dựng, bảo trì và cải thiện cơ sở hạ tầng, thúc đẩy,
kích thích một số ngành nghề. Việc điều chỉnh khối lượng
tiền tệ lưu hành, chủ yếu qua ấn định một mức lãi suất,
có ảnh hưởng trực tiếp trên giá cả, đầu tư và tăng
trưởng. Trong cả ba phạm vi đó, nhà nước cũng cần hành
động với tất cả dè dặt để tránh đảo lộn sinh hoạt kinh
tế. Ổn định là yếu tố cốt lõi của kinh doanh. Riêng việc
ấn định lãi suất, chúng ta phải tránh trường hợp chính
quyền hành động theo những yêu cầu chính trị ngắn hạn,
bằng cách giao phó cho một định chế ngân hàng trung ương
xuất phát từ chính phủ nhưng không chịu sự chi phối tùy
tiện của chính phủ.
Một lần nữa, nhu cầu phát triển buộc ta phải có một nhà
nước hòa giải và trọng tài để cho xã hội dân sự lo việc
phát triển thay vì một nhà nước chỉ huy và định đoạt thay
cho xã hội dân sự. Vai trò hòa giải và trọng tài trong sinh
hoạt kinh tế buộc nhà nước phải từ bỏ mọi chức năng kinh
doanh. Các công ty quốc doanh không nên có, hay nếu có thì cần
được coi là những bó buộc chẳng đặng đừng trong một
thời gian nhất định. Trong chủ thuyết phát triển của chúng
ta, nhà nước không chen lấn với xã hội dân sự, mà tập trung
mọi cố gắng để làm tròn và làm tốt chức năng thực sự
của một nhà nước.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/4920), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét