vấn ông Nguyễn Gia Kiểng:</em>
<strong>Đinh Quang Anh Thái:</strong> <em>Trong cuốn Lạc Ðường,
nhà văn Ðào Hiếu hiện sống tại Việt Nam, viết rằng:
"trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, thân phận của các
nước nghèo không khác một cô gái điếm, phải sống bằng
'vốn tự có' của mình là dầu thô, cao su và các tài nguyên
thiên nhiên khác; nhân dân chỉ được hưởng một phần lợi
tức nhỏ, còn phần lớn đều chảy vào túi những mụ tú bà
là các tập đoàn kinh tế Anh, Mỹ, Pháp, Ðức, Nhật...và
những tên ma cô dắt mối là chính quyền bản xứ". Ông nghĩ
sao về quan điểm này của Ðào Hiếu?</em>
<strong>Nguyễn Gia Kiểng:</strong> Đây là một cái nhìn quá đen
tối và sơ sài để có thể đúng. Trong thập niên 1960 và đầu
thập niên 1970 quan điểm này rất thời thượng và đã được
phong trào cộng sản thế giới vận dụng triệt để để hô
hào chống chủ nghĩa tư bản, chống phương Tây, chống đế
quốc Mỹ. Lúc đó đa số các công ty đa quốc gia là những
công ty Mỹ. Hiện nay ít ai còn lặp lại nữa. Vấn đề giao
lưu và hợp tác quốc tế phức tạp và cần được nhìn một
cách bình tĩnh và chính xác hơn.
Dĩ nhiên các công ty đa quốc gia và các tổ hợp tư bản không
phải là các hội từ thiện, họ đầu tư vào các nước chưa
phát triển không phải với mục đích giúp các quốc gia đó
trở thành giầu mạnh mà để tìm lợi nhuận. Nhưng họ cũng
không phải là những tổ chức tội ác. Chính vì mục đích
lợi nhuận mà họ cũng mong muốn các nước mà họ đầu tư
được ổn vững và phát triển lên để vốn đầu tư của họ
được bảo đảm, nguồn lao động có phẩm chất hơn, thị
trường tiêu thụ cho hàng hoá của họ mạnh hơn, nhưng đó
không phải là ưu tư chính của họ, ưu tư chính của họ
trước hết là kiếm lời. Và ta không thể lên án họ về
điểm này. Chức năng của một công ty là để kiếm lời, dù
ở nước ngoài hay trên chính đất nước họ cũng thế thôi.
Phát triển một quốc gia chỉ có thể là quan tâm của quốc gia
gia đó. Đây là một sự hợp tác giữa hai đối tác với hai
mục tiêu khác nhau, một bên tìm lợi nhuận, một bên muốn
phát triển đất nước mình. Cũng không khác sự hợp tác bình
thường giữa các công ty mỗi bên bảo vệ quyền lợi của
mình, hồn ai nấy giữ, vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau.
Mâu thuẫn và thoả hiệp. Thế thăng bằng lý tưởng là mọi
bên đều có lợi.
Các công ty cũng không phải chỉ đến các nước nghèo để khai
thác các tài nguyên thiên nhiên như trong cách nhìn giản đơn
này. Trong đa số các trường hợp họ đầu tư vào một nước
nghèo vì những lý do khác, như vị trí thuận lợi, thuế nhẹ,
nguồn nhân công rẻ, dồi dào và có phẩm chất cao, thị
trường tiêu thụ nhiều tiềm năng v.v.
<strong>ĐQAT:</strong> <em>Nhưng theo nhiều người thì trong quan hệ
hợp tác này phần thiệt thòi luôn luôn là về phía các nước
nghèo.</em>
<strong>NGK:</strong> Sai! Sở dĩ quan điểm này có lúc đã thời
thượng và thỉnh thoảng còn được nhắc lại là vì tiếp xúc
và hợp tác với người hơn mình luôn luôn là một điều đau
nhức và tủi nhục; trực diện với sự thua kém của chính
mình không bao giờ thoải mái, nó đòi hỏi nhiều cố gắng và
nhẫn nhục để rút ngắn dần sự thua kém nhưng có như thế
mới tiến lên được. Đó là chọn lựa của các dân tộc
thông minh, một chọn lựa khác là ngủ quên trong sự thua kém,
sự thức dậy sẽ chỉ càng đau đớn hơn. Thực tế là trong
giao lưu và hợp tác giữa các dân tộc cuối cùng thì các dân
tộc chậm tiến vẫn được lợi hơn. Các con số đã rất
thuyết phục. Sau thế chiến II tổng sản lượng (GDP) của Hoa
Kỳ bằng một nửa GDP của cả thế giới, hiện nay nó chỉ
còn là 23%. Vào năm 2000 bảy nước phát triển nhất với dân
số gộp khoảng 11% dân số thế giới có GDP gộp bằng 67% GDP
của thế giới, hiện nay, nghĩa là mười năm sau, tỷ lệ này
là 52%. Rõ ràng là phong trào toàn cầu hoá đã thu hẹp khoảng
cách giữa các nước giàu và nghèo một cách nhanh chóng. Giao
thương và hợp tác có lợi cho các nước nghèo, đó là điều
không thể chối cãi. Và cũng có lợi cho các công nhân các
nước nghèo, bằng cớ là họ thường thích làm cho các công ty
nước ngoài. Nói chung họ học hỏi được nhiều hơn và cũng
được trả lương cao hơn. Tuy nhiên những trường hợp như
Đào Hiếu mô tả theo ngôn ngữ cảm tính của nhà văn không
phải không có, nhưng là ngoại lệ chứ không phải thông lệ.
Ngoại lệ này xảy ra khi một quốc gia không may rơi vào tay
một tâp đoàn độc tài tham nhũng và vơ vét, đặt tham vọng
quyền lực và lợi ích của mình lên trên quyền lợi của
đất nước; lợi tức quốc gia không được phân chia một cách
hợp lý mà tập trung vào tay một số cường hào. Tình trạng
này khiến người dân mất lòng tin vào đất nước và ứng xử
một cách vô trách nhiệm, mỗi người tìm cách luồn lách để
sống, để giải quyết những vấn đề cá nhân bằng những
giải pháp cá nhân, với hậu quả là nhân dân chia rẽ và bất
lực, thù ghét chính quyền nhưng không lay chuyển được nó,
mặt khác chính quyền thấy mình vừa không bị đe dọa lại
vừa bị thù ghét nên lại càng vơ vét hơn, nhân dân vì thế
lại càng chán nản và thù ghét chính quyền hơn v.v. Đây là
một vòng xoắn độc hại rất khó thoát ra. Đó cũng là
trường hợp của Việt Nam hiện nay và khiến nhiều người có
cái nhìn đen tối về trào lưu toàn cầu hoá, một trào lưu
tốt, rất tốt, về bản chất.
<strong>ĐQAT:</strong> <em>Có quốc gia nào ngửa tay nhận viện
trợ nước ngoài mà tránh khỏi thân phận bị lệ thuộc, thưa
ông?</em>
<strong>NGK:</strong> Sau thế chiến II, Đức và Nhật đã nhận
rất nhiều viện trợ của Mỹ và cả hai đã trở thành những
đại cường. Do Thái nhận một khối viện trợ khổng lồ của
Mỹ nhưng vẫn giữ được chủ quyền. Đài Loan và Hàn Quốc
cũng thế. Họ đã vươn lên mạnh mẽ trong những điều kiện
khó khăn. Hàn Quốc hiện nay là một trong mười cường quốc
kinh tế hàng đầu của thế giới và trở thành một nước cung
cấp thay vì nhận viện trợ. Vả lại, viện trợ, nhất là
viện trợ song phương giữa một nước giàu và một nước
nghèo đã giảm đi rất nhiều và không còn quan trọng nữa,
điều quan trọng hơn nhiều trong thế giới hiện nay là quan hệ
ngoại thương, là vào được thị trường của các nước giàu
mạnh trong những điều kiện ưu đãi. Một thí dụ cụ thể là
viện trợ Mỹ. Hiện nay tổng số viện trợ trực tiếp của
Hoa Kỳ cho mọi nước trên thế giới chỉ sấp sỉ 20 tỷ USD,
nghĩa là chưa bằng hai phần ngàn GDP của họ.
Viện trợ kinh tế hiện nay chủ yếu do các định chế quốc
tế như Nhân Hàng Thế Giới, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, Ngân
Hàng Phát triển Chậu Á, Hiệp Hội Các Quốc Gia Viện Trợ v.v.
Các định chế này không trao tiền cho các chính quyền để làm
gì tùy ý, họ viện trợ cho từng dự án mà họ thấy là đúng
và khả thi, sau đó họ theo dõi việc thực hiện. Sự theo dõi
này là cần thiết và có lợi cho các nước nhận viện trợ
ngay cả khi nó không thoải mái cho các chính quyền nhận viện
trợ, nó không xâm phạm chủ quyền của các quốc gia mà chỉ
nhắm tránh những sai lầm và lạm dụng, đặc biệt là để
ngăn chặn tham nhũng.
Trong những trường hợp viện trợ khẩn cấp, như khoản viện
trợ 10 tỷ USD cho Haiti sau cơn động đất vừa rồi thì viện
trợ chỉ thuần túy nhắm mục đích nhân đạo nhất thời.
<strong>ĐQAT:</strong> <em>Một số người cho rằng, chính quyền
của quốc gia nghèo nào nhận viện trợ của Mỹ thì trước sau
gì cũng đối diện nguy cơ, hoặc bị lật đổ vì không nghe
lời Mỹ, hoặc trở thành gia nô của Mỹ; xin nghe ý kiến của
ông về suy nghĩ này.</em>
<strong>NGK:</strong> Cần nhắc lại một lần nữa là viện trợ
song phương trực tiếp của Hoa Kỳ không đáng kể, chưa tới 2
phần 1000 GDP của họ. Trong những trường hợp đặc biệt như
đối với Iraq, Afganistan và Pakistan hiện nay các khoản viện
trợ này không nằm trong ngân sách viện trợ bình thường và
nhắm mục đích nhất thời là chống khủng bố và bảo đảm
an ninh cho Hoa Kỳ và thế giới, và Hoa Kỳ cũng được sự
tiếp tay của nhiều nước khác. Mục tiêu chính trị nếu có
của những viện trợ này đáng hoan nghênh, nó nhắm thúc đẩy
các quốc gia này trở thành dân chủ hơn, mạnh hơn, được
lòng dân hơn, nhiều khả năng tự lập hơn để chống lại các
lực lượng khủng bố một cách hiệu quả hơn.
Cũng cần lưu ý là chính sách ngoại viện và đối ngoại nói
chung của Hoa Kỳ đã thay đổi hẳn sau chiến tranh lạnh.
Trước đây, do như cầu đối địch với khối cộng sản, Hoa
Kỳ có thể hỗ trợ cả cho các chính quyền độc tài quân
phiệt; từ thập niên 1990 trở đi, sau khi khối cộng sản đã
tan vỡ, nhu cầu này không còn nữa và Hoa Kỳ tẩy chay thay vì
tiếp tay cho các chế độ vi phạm nhân quyền. Hoa Kỳ là
cường quốc đưa dân chủ và nhân quyền vào chính sách đối
ngoại một cách tích cực nhất. Trên thế giới hiện nay không
có nước nào là "gia nô" của Hoa Kỳ cả.
Cần nhắc lại một lần nữa là điều quan trọng hiện nay
không phải là xin được viện trợ của Hoa Kỳ mà là tranh
thủ được sự hợp tác tận tình của Hoa Kỳ để học hỏi
về mặt khoa học kỹ thuật và để tận dụng khả năng của
thị trường to lớn của Hoa Kỳ. Nhưng muốn tranh thủ được
sự hợp tác tận tình với Hoa Kỳ cũng phải chấp nhận một
số hậu quả. Hoa Kỳ là một nước dân chủ và nếp sống Hoa
Kỳ, the American way of life, có sức thu hút đặc biệt, nó có
thể thay đổi những con người tiếp cận với nó, nghĩa là
thành phần ưu đãi của các nước hợp tác với Hoa Kỳ. Mặt
khác Hoa Kỳ không thể hợp tác tận tình với các chính quyền
cấm đoán các ký giả của họ, như thế các bê bối và vi
phạm nhân quyền sẽ bị phanh phui, trong khi dư luận Hoa Kỳ có
ảnh hưởng đặc biệt quan trọng, nó có thể khiến quốc hội
biểu quyết những biện pháp trừng phạt. Nói chung hợp tác
với Hoa Kỳ thì chắc chắn sẽ phải chịu nhiều áp lực,
nhưng là những áp lực tốt, có lợi cho các dân tộc đang cần
dân chủ và chỉ bất lợi cho các chính quyền độc tài bạo
ngược.
<strong>ĐQAT:</strong> <em>Việt Nam hiện nay đang nhận đủ loại
viện trợ quốc tế, theo ông, tình cảnh Việt Nam ra sao?</em>
<strong>NGK:</strong> Mỗi năm Việt Nam nhận khoảng 5 tỷ USD viện
trợ nước ngoài, chủ yếu là qua các định chế quốc tế.
Các khoản viện trợ song phương trực tiếp tôi không có con
số chính xác nhưng chắc chắn là không tới một tỷ USD và
thường nhắm vào những dự án nhỏ hoặc trung bình. Gần một
nửa khối viện trợ 5 tỷ USD là viện trợ không bồi hoàn,
nghĩa là cho không, phần còn lại là các khoản cho vay dài hạn
với lãi xuất thấp. Các khoản viện trợ này dùng để tài
trợ cho các dự án phát triển. Hai nguồn viện trợ quan trọng
nhất là Nhật, khoảng một tỷ rưỡi USD và Liên Hiệp Châu
Âu, khoảng một tỷ USD. Cần lưu ý là chính quyền CSVN không
sử dụng hết khối viện trợ này vì không đệ trình được
những dự án đủ nghiêm túc. Điều đáng tiếc không phải là
các khoản viện trợ này đã đi kèm với những áp lực chính
trị mà, ngược lại, chính là ở chỗ chúng không tạo đủ áp
lực, không đi kèm một cách mật thiết với những đòi hỏi
gia tăng dân chủ và nhân quyền, và cũng chưa ngăn chặn được
tham nhũng một cách thực sự có hiệu quả.
<em>Nguyễn Gia Kiểng</em>
<em>Nguồn : báo Người Việt, ngày 25/05/2010</em>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/5187), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét