Bill Hayton - Việt Nam: Con Rồng Đang Lên (4)

Nhìn những đường phố đông đúc ở các thành phố lớn tại
Việt Nam - Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí
Minh - rất dễ để tin rằng Việt Nam đã hoàn toàn là thị
trường tự do và không còn là xã hội chủ nghĩa. Những bảng
hiệu quảng cáo lộn xộn trên đầu với đám đông thương
nhân ở dưới, mỗi con hẻm là một tiềm năng của một quán
phở và mỗi bóng cây có thể là một hiệu cắt tóc. Sự phát
triển thực sự mang nghĩa "lăn bánh tự do"; được sinh ra trên
những chiếc xe gắn máy cũ mèm. Nhưng hoạt động hỗn loạn
này cũng phóng đại sự quan trọng của lĩnh vực tư nhân trong
nước. Nó đã tạo ra rất nhiều việc làm và hưng phấn nhưng
chỉ có vài doanh nghiệp tư nhân với bất cứ dạng cỡ. Từ
những bà nông dân bán rau quả đứng chật các ngã tư ở khu
phố cổ Hà Nội cho đến những người chủ cửa hàng đứng
nhìn họ một cách khinh bỉ, đa số các doanh nghiệp tư nhân
tồn tại với mức vốn rất nhỏ.

Lịch sử của lĩnh vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam thực sự
được xây nên từ một cửa hàng ở góc phố Hàng Chiếu và
Nguyễn Thiện Thuật (tên một kháng chiến quân chống Pháp)
trong khu Phố Cổ. Bên trên sự nở rộ của hàng hoá tiêu dùng,
những người qua lại có thể thấy được di sản của nó.
Những dòng chữ bằng vôi xã hội chủ nghĩa xưa vẫn cho thấy
ngôi nhà vẫn là một cửa hàng nhà nước. Đây là nơi người
dân từng xếp hàng để mua những khẩu phần lương thực ít
ỏi dưới thời nhà nước bao cấp. Nguyen Quang Hao từng là một
trong những người quản lý cửa hàng thời ấy và ông vẫn còn
nhớ rõ khoảng thời gian đó. "Dưới hệ thống bao cấp anh
chỉ được mua đúng tiêu chuẩn của mình," ông kể. "Người
dân phải đem theo tem phiếu. Họ chỉ được mua 15 ký gạo mỗi
tháng." Hao hiện giờ là một người tương đối giàu có, ông
đeo mắt kính hàng hiệu để kiểm tra một núi hàng thức ăn
đóng gói nội địa lẫn nhập khẩu đang chất đầy chung quanh
quầy tính tiền. Ông sở hữu cửa hàng vào vào năm 1989 và
hiện nay điều hành nó như là một ông chủ của một doanh
nghiệp tư nhân thành công. Hao rất vui với sự cải cách kinh
tế. "Ngày nay anh có thể mua bất cứ thứ gì mình muốn, miễn
là có tiền," ông vừa nói vừa cười.

Cũng có những công ty lớn nhưng ít hơn. Mặc dù có 350 công ty
nằm trong danh sách của hai sàn chứng khoán trong nước, 99 phần
trăm các công ty trong nước vẫn nằm trong dạng nhỏ và trung.
Năm 2005 chỉ có 22 công ty tư nhân trong nước nằm trong danh
sách 200 công ty hàng đầu và, như chúng ta sẽ thấy ở phần
sau, "tư nhân" là một thuật ngữ có nhiều nghĩa khác [12].
Điều quan trọng hơn đối với quốc gia trong thời điểm này
là lĩnh vực tư nhân quốc tế. Nếu đi về hướng đông từ
cửa hàng của Hao, qua cầu Chương Dương trên sông Hồng và ra
khỏi ngoại thành, chúng ta sẽ nhanh chóng hiểu được tầm quan
trọng của sự đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tại Việt
Nam. Con đường xa lộ giữa Hà Nội và Hải Phòng từng chạy
qua những cánh đồng lúa. Giờ đây hầu hết những cánh đồng
đã bị che khuất sau hàng loạt những khu công nghiệp và nhà
máy chạy dài gần 50 dặm giữa hai thành phố. Ở vùng ngoại ô
Hải Phòng, một trong những nhà máy lớn ấy là Xí nghiệp Giày
Stella do Đài Loan sở hữu. Trong khuôn viên khổng lồ này có 7
nghìn công nhân lao động trong bốn dãy nhà rộng. Hai hoặc ba
đường dây chuyền chạy dài theo từng dãy nhà với những tấm
biển cho biết những loại giày này đang được sản xuất cho
ai: Ủng cho hiệu trang phục dã ngoại Hoa Kỳ Timberland và
Merrell, giày cho công ty Anh Quốc Clarks và thậm chí hàng thời
trang cho một thương hiệu của Ý. Clarks - một trong những
thương hiệu giày lớn nhất châu Âu - có một phần ba sản
lượng hàng hoá sản xuất từ Việt Nam. Máy móc đóng hiệu và
làm mềm da, làm đế giày và hoàn tất phần dán keo nhưng đa
số những công đoạn khác đều làm bằng tay. Khâu kéo da và
đóng đinh một cách chuẩn xác là những công việc phức tạp.
Tiếng động dồn dập và công việc thì liên tục, nhưng đối
với các xí nghiệp giày thì đây là một nơi khá tốt. Nơi
đây sáng sủa, mát mẻ và công nhân có một phòng y tế và
phòng trợ giúp phúc lợi. Graeme Fiddle, Quản trị viên của
Clarks ở Việt Nam, từng đi qua những rất nhiều xí nghiệp
giày ở Việt Nam nhưng công ty của ông không bao giờ muốn làm
việc với họ. "Chủ nhân của Clarks là những người theo đạo
Quakers, có nghĩa là họ luôn cố gắng đi đúng với các chuẩn
mực đạo đức," ông giải thích.

Graeme đã thực sự theo dõi xí nghiệp này được xây từ một
cánh đồng xanh chỉ vài năm trước đó. Những công nhân đầu
tiên là những người vừa bước ra khỏi ruộng đồng và đã
phải được đào tạo từ bước đầu. Rất nhiều người trong
họ chưa bao giờ dùng đến cầu tiêu hiện đại và thay vì
thế, họ mang theo lá chuối để dùng. Nhưng họ đã từ từ
học được những kỹ năng mới cần thiết để sản xuất
giày thể thao và khi khả năng của họ được nâng cao, đã
chuyển sang sản xuất giày da. Vào giữa năm 2006 mỗi công nhân
trung bình kiếm được từ 60 đến 80 Mỹ kim mỗi tháng. Nếu
ở châu Âu hoặc Hoa Kỳ thì con số này nằm dưới mức sống,
nhưng lúc ấy nó đã gấp đôi mức lương thấp nhất ở Việt
Nam. Nó cũng hơn thu nhập của một nông dân địa phương rất
nhiều. Vũ Thị Thắm, một công nhân làm việc trong công đoạn
giày trẻ em, có vẻ không quá vui sướng với công việc của
mình, nhưng lương bổng cũng khá hơn là làm ruộng. Bà nói:
"Cùng bình thường. Tôi làm việc ở đây vì thu nhập ổn
định. Trước đấy tôi làm nghề nông và thu nhập của tôi
tuỳ thuộc vào thời tiết. Nếu thời tiết tốt, tôi có thể
kiếm tiền nhiều. Nhưng nếu xấu thì tôi không thể. Ngay cả
vào thời điểm tốt nhất tôi cũng chỉ kiếm được 30 Mỹ kim
mỗi tháng. Nhưng khi làm việc ở đây tôi kiếm được 60 Mỹ
kim hoặc hơn nếu tôi làm tăng ca."

Những ngành công nghiệp gia công với tay nghề thấp như giày
dép thường là trạm đầu tiên của những quốc gia đang công
nghiệp hoá. Tại Việt Nam, chúng đã tạo ra hàng trăm nghìn
việc làm và là trụ cột của sự bùng nổ kinh tế. Nhưng để
tiếp tục tăng trưởng quốc gia này cần hấp dẫn các ngành
công nghiệp với kỹ năng cao vì chúng trả lương cao hơn. Việt
Nam đã rất may mắn vì đã mở cửa kinh tế đúng lúc khi
những tập đoàn đa quốc gia bắt đầu nghi ngờ chủ thuyết
dựa dẫm quá nhiều vào Trung Quốc. Nhiều công ty đã bỏ
những món đầu tư khổng lồ vào khu vực dọc bờ biển phía
nam và phía đông Trung Quốc nhưng giờ đây đang có những kế
hoạch dự phòng để ngừa trường hợp xấu xảy ra với họ.
Chiến lược "Trung Quốc+1" đã đem nhiều công ty đến Việt
Nam. Hãng điện tử khổng lồ Canon là một trong những công ty
ấy. Hiện nay hãng này đã sản xuất hơn phân nửa tổng số
máy in vi tính tại một khu phức hợp bao gồm các nhà máy chung
quanh thành phố Bắc Ninh, nằm ở phía đông bắc Hà Nội. Trong
năm 2005 nó đã là công ty lớn thứ mười ba tại Việt Nam [13]
Khởi đầu với loại máy phun mực tương đối đơn giản, giờ
đây nó đã mở rộng đầu ra với loại máy in laser hiện
đại.

Các xí nghiệp là những khối hộp không cửa sổ to lớn, xám
xịt. An ninh là mối quan tâm hàng đầu; những người lạ không
được phép vào bên trong vì e rằng họ sẽ thấy được những
bí mật kỹ thuật của công ty. Bên trong, mọi khâu đều giữ
kỷ luật cao. Khi những cánh cổng được mở vào sáng sớm,
hằng trăm công nhân cưỡi xe đạp đi vào, thay đồng phục
bảo hộ và xếp hàng cùng hát bài ca chính thức của công ty.
Đây cũng là kiểu trẻ em Việt Nam bắt đầu mỗi ngày học,
vì thế Canon đã rất dễ dàng tìm được loại công nhân vừa
ý. Tổng Giám đốc Việt Nam của công ty, Sachio Kageyama, biết
rất rõ tại sao Canon chọn địa điểm tại Việt Nam. "Trước
hết ở đây có nền chính trị rất ổn định, tốc độ tăng
trưởng kinh tế cũng rất ổn định và một lực lượng lao
động rất thông minh. Đây là những lợi thế lớn." Đa phần
công nhân Canon ở Việt Nam chỉ lắp ráp các linh kiện được
sản xuất từ nơi khác. Suốt ngày những chiếc xe tải lớn
chạy vào cổng nhà máy để đem các bộ phận sản xuất từ
nước ngoài. "Hiện tại chúng tôi nhập khẩu phần đông các
linh kiện từ đông bắc Trung Quốc vì nền công nghiệp Việt
Nam vẫn chưa trưởng thành," Ông Kageyama giải thích. "Nhưng
chúng tôi đang cố gắng để tăng tỉ lệ của các bộ phận
nội địa và chúng tôi cũng đang sản xuất một số linh kiện
chính yếu tại nhà máy." Triển vọng quan trọng của Việt Nam
hơn là những chiếc xe tải lớn ngoài cổng là vài chiếc xe
nhỏ hơn đang chuyên chở một phần nhỏ các bộ phận sản
xuất từ những nhà máy được xây dựng tại địa phương
để cung cấp cho khâu lắp ráp của Canon.

Và không chỉ có mỗi Canon. Việt Nam đang hấp dẫn ngày càng
nhiều những công ty kỹ thuật cao. Hãng Samsung của Nam Hàn đang
xây dựng một nhà máy điện thoại di động trị giá 700 triệu
Mỹ kim kế bên. Hãng sản xuất chip Intel của Hoa Kỳ đã xây
một nhà máy trị giá 1 tỉ Mỹ kim ở ngoại ô Thành phố Hồ
Chí Minh; Hon Hai, một công ty sản xuất iPod của Apple và máy
tính cho Dell và Hewlett-Packard, đã khai trương một nhà máy trị
giá 1 tỉ Mỹ kim gần Hà Nội; và nhiều công ty khác, bao gồm
NEC, Foxconn, Brother và Matsushita cũng đã tham gia. Năm 2006 Việt
Nam có trị giá hàng hoá xuất khẩu là 40 tỉ Mỹ kim - đa phần
là từ lĩnh vực đầu tư ngoại quốc. Đất nước này đang
khấm khá.

Nhưng tăng trưởng cũng làm lộ ra những yếu điểm của Việt
Nam. Những nhà sản xuất thường xuyên than phiền về việc
đường xá bị hư hỏng và các bến cảng bị tắt nghẽn.
Trầm trọng hơn, khi Intel bắt đầu tuyển nhân viên và phát
hiện ra rằng trên tổng số 2,000 người xin việc, chỉ có 40
người đủ điều kiện để làm việc trong nhà máy của họ,
một tỉ lệ thấp nhất trong tất cả các quốc gia mà hãng này
hoạt động. Những công ty công nghệ ngoại quốc khác cũng
gặp phải những khó khăn tương tự. Mặc dù Việt Nam đã rất
thành công trong việc phổ cập giáo dục - thống kê của chính
phủ cho thấy trình độ biết đọc biết viết cao hơn 90 phần
trăm – nhưng giáo dục đại học từ lâu đã lâm vào tình
trạng tham nhũng và quá chú trọng vào những môn nghiên cứu
chủ nghĩa Marxist-Leninist và thực tập quân sự quốc phòng.
Những yêu cầu tốt nghiệp từ một trường đại học nhà
nước ở Việt Nam thường bao gồm việc có thể chạy được
100 mét và bắn được súng AK-47. Việc đào tạo kỹ năng
hướng nghiệp ít được chú trọng. Bộ Giáo dục cho biết
đang dự định tăng gấp đôi đội ngũ giáo sư đại học với
học vị tiến sĩ lên đến 30 phần trăm vào năm 2015. Liệu
việc này có giải quyết được vấn đề hay chỉ đơn giản
làm nó thêm tồi tệ vì khuyến khích các trường đại học
mướn nhân viên với bằng tiến sĩ giả, tình trạng này có
thể không được phát hiện ra trước khi quá trễ.

Một trở ngại quan trọng khác đối với các công ty nước
ngoài tại Việt Nam là hiện trạng yếu kém của pháp luật,
như tình trạng của ngân hàng lớn thứ 20 trên thế giới lúc
ấy là ABN Amro của Hà Lan bị lâm vào trong năm 2006. Sự việc
bắt đầu từ một phụ nữ tên Nguyễn Thị Quỳnh Vân. Vào
tháng Ba 2006, không lâu sau sinh nhật thứ 36 của mình, Vân đã
bị bắt vì bị tình nghi là đã "gây tổn thất lớn cho tài
sản nhà nước" trong vai trò Phó phòng Tài trợ Thương mại
tại chi nhánh Hải Phòng của Ngân hàng Công thương, ngân hàng
lớn thứ tư tại Việt Nam, gọi tắt là Incombank. Bà bị buộc
tội là đã làm thất thoát 5,4 triệu Mỹ kim trong hàng loạt
những hợp đồng kinh doanh ngoại tệ với ABN Amro và ít nhất
là hai ngân hang nước ngoài khác có trụ sở tại Việt Nam.
Tại nhiều nước khác, đây sẽ là một vụ án tương đối rõ
ràng nhằm truy tố những đối tượng "giao dịch bất hợp
pháp". Nhưng tại Việt Nam, làm thất thoát tài sản nhà nước
là một tội danh với mức tử hình. Thay vì chú trọng vào
những hành vi phạm pháp của nhân viên mình, Incombank lại xoay
sang kiện ABN Amro để đòi bồi hoàn tiền, họ nhấn mạnh, theo
lời của một viên chức, rằng "Nhiều loại ngoại tệ đã
được rút một cách bất hợp pháp và nguyên tắc của chúng
tôi là một khi có người cố tình gây thiệt hại đến công
ty, họ phải có trách nhiệm bồi hoàn những gì họ đã lấy
đi." ABN Amro cho rằng "Những giao dịch trên là hợp lệ và
tất cả các chuyển đổi đã được giải quyết xong" và đã
từ chối việc trả lại tiền. Những gì xảy ra trong tám tháng
sau đã chứng tỏ sự giới hạn của nền kinh tế thị trường
lẫn luật pháp ở Việt Nam, khi Incombank dựa vào chính quyền
và lực lượng an ninh làm một việc trông giống như một
chiến dịch tống tiền ABN Amro. Những kẻ giao dịch và ngân
hàng rõ ràng là đã hưởng lợi từ sự bảo kê từ những
người có chức quyền mà người Việt gọi là "ô dù".

Sáu tuần sau khi Vân bị bắt, công an đã bắt giữ hai nhân
viên thuộc chi nhánh địa phương của ABN Amro với tội danh
cấu kết với Vân để biển thủ tiền. Giám đốc ABN Amro
Việt Nam là bà Phạm Đệ, một người Mỹ gốc Việt, bị cấm
ra khỏi nước mặc dù đang mang bầu và cần được xuất
ngoại để khám thai, một giám đốc Việt kiều khác cũng nằm
trong hoàn cảnh tương tự. Vào tháng Bảy, hai nhân viên địa
phương khác của ABN Amro nữa bị bắt, cả hai đều là nhân
viên giao dịch, và toà án Hà Nội đã ấn định ngày xử vụ
kiện của Incombank. Vào thời điểm này, vụ kiện của Incombank
đang dựa trên một luật lệ vô cùng tối nghĩa: một chỉ thị
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ra đời bảy năm
trước nhưng đã không được thực thi cho đến sau khi những
vụ bắt giữ xảy ra. Theo Quyết định 101/QĐ-NHNN ngày 23 tháng
Năm 1999, những nhân viên giao dịch ngoại tệ có nhiệm vụ
phải đăng ký với Ngân hàng Nhà nước và, theo lời của các
quan chức Incombank "Những người liên quan tại ngân hàng chúng
tôi đã không đăng ký và những nhân viên ở ngân hàng kia đã
biết việc này nhưng vẫn tiến hành việc giao dịch với họ,
vì thế rõ ràng là họ cũng đã phạm tội." ABN Amro phản đối
rằng luật này nhằm áp dụng cho những ngân hàng bán ngoại
tệ cho công chúng - không phải cho những giao dịch giữa các
nhà băng với nhau - và chỉ ra rằng NHNN đã yêu cầu các ngân
hàng đăng ký những giao dịch viên mãi sau khi vụ việc trở
nên rắc rối. NHNN đã từ chối giải thích hành động của
mình, mặc dù chính họ là người có trách nhiệm chính thức
đối với những qui định tài chính. Một quan chức tối cao
chỉ trả lời rằng "Quá trình điều tra là trách nhiệm của
Phòng Tội phạm Kinh tế của Công an. Chúng tôi phải đợi kết
quả điều tra của họ."

Nhận định chung của giới thương gia ở Hà Nội là Vân và
Incombank đang được bảo vệ bởi những người có quan hệ sâu
rộng với Bộ Công an. Công an đã đơn giản gạt NHNN sang một
bên. Vấn đề không phải là luật pháp mà là sự thô bạo
của quyền lực. Với sáu nhân viên ABN Amro hoặc là bị bắt
vào tù, giam giữ tại gia, hoặc bị cấm xuất cảnh, rõ ràng
là quyền lực đang nằm trong tay của Bộ Công an. Nhưng sau
đấy đã có dấu hiệu của những phản ứng. Cộng đồng doanh
nghiệp quốc tế, vốn im lặng trước đây về vụ án đã bắt
đầu lên tiếng. Chủ tịch Phòng Thương mại Hoa Kỳ Tom O'Dore
nói ông rất quan ngại về "việc tội phạm hoá những giao
dịch thương mại bình thường, cũng như sự thiếu can thiệp
của Ngân hàng Nhà nước trong các thủ tục pháp lý liên quan
đến các cơ quan tài chính", và cảnh báo rằng việc này "có
thể làm đông cứng thương mại tại Việt Nam và gây ảnh
hưởng tiêu cực đến thị trường tài chính Việt Nam nói chung
và các thị trường ngoại hối nói riêng". Vụ án bắt đầu
gây chú ý từ giới truyền thông quốc tế và Thủ tướng đã
ra lệnh điều tra. Không bao lâu sau đó Phạm Đệ được phép
ra khỏi nước để chữa bệnh, với điều kiện là bà phải
đóng 10 nghìn Mỹ kim thế chân và hứa sẽ quay lại. Nhưng cùng
lúc ấy truyền thông Việt Nam bắt đầu đăng tin rằng những
tội danh chống lại bà sẽ được huỷ bỏ, "Nếu ngân hàng Hà
Lan hoàn trả những thất thoát cho ngân hàng Việt Nam". Đối
với những nhà quan sát nước ngoài thì đây là một việc ghê
tởm. Nếu nhà cầm quyền tin rằng đã có hiện tượng phạm
tội thì họ phải tiến hành điều tra hoặc là bãi miễn toàn
bộ cáo buộc. Trong khi ấy những gì họ đã làm lại giống
như một vụ tống tiền.

Vào tháng Chín 2006 chính quyền Hà Lan gửi vị Bộ trưởng Hợp
tác Phát triển đến Hà Nội để bày tỏ mối quan ngại của
họ nhưng trả lời duy nhất từ công an là quá trình điều tra
đang được mở rộng. Thiếu tướng Phạm Quý Ngọ, người
chủ trì cuộc điều tra, tìm cách phản biện lại những cáo
buộc rằng công an đã hình sự hoá những giao dịch thương
mại bình thường, nhưng những phát biểu của ông tại cuộc
họp báo lại cho thấy rằng đội điều tra của ông chẳng
hiểu biết tí nào về hệ thống ngân hàng hiện tại; ông đã
tỏ ra ngạc nhiên khi biết rằng "500 hợp đồng [hối đoái
ngoại tệ] đã được ký kết mà chẳng có việc giao dịch
tiền tệ"; dường như ông không hề biết đến thao tác
"hưởng chênh lệch" giữa lợi nhuận và lỗ lã qua một thời
điểm nhất định. Nhưng sau đó ông lại đưa ra một cáo buộc
mới: một số giao dịch giữa Incombank và ABN Amro đã có những
tỉ giá nằm ngoài biên độ cho phép của việc trao đổi ngoại
tệ. Ông cho rằng việc này "là một hình thức hoạt động
tội phạm mới". Vào thời điểm này, các ngân hàng chỉ
được phép trao đổi đồng Mỹ kim và Việt Nam Đồng trong
biên độ 2,5 phần trăm của tỉ giá do Ngân hàng Nhà nước
đưa ra. (Nhưng cộng đồng tài chính hiểu rõ rằng giao dịch
thường xuyên xảy ra bên ngoài biên độ qua việc sử dụng
những lựa chọn và những công cụ tài chính khác.) Nhưng lần
nữa ông lại đề nghị "Nếu ABN Amro hoàn trả lại số tiền,
Phạm Đệ chắc chắn sẽ không bị tuyên án hình sự."

Đây dường như là một đòn chí mạng. Ngân hàng Nhà nước
đã về phe với công an, tuyên bố vào cuối tháng Mười rằng
"Việc kiểm tra chi nhánh Hà Nội của ABN Amro và điều tra khởi
đầu của công an đã xác nhận rằng chi nhánh Hà Nội của ABN
Amro đã vi phạm nghiêm trọng luật pháp Việt Nam cũng như các
nguyên tắc quốc tế." Cũng có những tin tức rằng Ngân hàng
Nhà nước có thể bắt đầu điều tra những giao dịch giữa
ABN Amro và một nhà băng chính phủ khác - Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn, được biết là đã làm thất thoát 18
triệu Mỹ kim. ABN Amro bắt đầu nhận thấy điềm xấu. Luật
lệ quá mơ hồ khiến họ không thể chứng minh sự vô tội
của mình trong khi nhân viên thì bị giam giữ, họ đã đầu
hàng. Vào cuối tháng Mười Một 2006 họ tuyên bố đã chuyển
4,5 triệu Mỹ kim vào một tài khoản do công an quản lý. Công
bố duy nhất của họ chỉ nói rằng họ "đã không mong muốn
kiếm lợi từ những hoạt động bất hợp pháp của người
khác". Không bao lâu sau, tất cả các nhân viên của ABN Amro đang
bị giam giữ dưới nhiều hình thức đã được trả tự do và
chính quyền Việt Nam thông báo rằng nhân viên giao dịch của
Incombank sẽ không bị tuyên án tử hình. Mọi việc lắng dịu
đi nhưng rồi bảy tháng sau, Uỷ ban Thanh tra Nhà nước công bố
kết quả điều tra của mình về sự việc trên. Họ đã đặt
toàn bộ trách nhiệm lên Ngân hàng Nhà nước và thống đốc
ngân hàng Lê Đức Thuý, họ nói rằng "Những sai phạm xảy ra
là do thiếu sót các qui định đúng mực về giao dịch ngoại
tệ giữa các ngân hàng" - Đúng như những gì ABN Amro từng nói
một năm về trước. Việc này dường như đã chấm dứt vụ
án, ngoại trừ vào tháng Tư 2008, Incombank đổi tên thành
Vietinbank. Giới doanh gia Hà Nội cho rằng vì tai tiếng của nó
trong vụ án đã lan ra cộng đồng quốc tế. Vào lễ Giáng Sinh
2008 Vietinbank trở thành ngân hàng nhà nước thứ hai nằm trong
danh sách của thị trường chứng khoán.

(còn tiếp)

_______________________________


<h2>Chú thích:</h2>

12. Scott Cheshier và Jago Penrose, Top 200: Chiến lược Công nghiệp
cho các Công ty lớn nhất ở Việt Nam, Hà Nội: UNDP Việt Nam,
2007.

13. Cùng nguồn ở trên.

14. Jago Penrose, Jonathan Pincus và Scott Cheshier, "Việt Nam: bên
ngoài cá và thuyền", Bình luận Kinh tế Viễn đông, 09.2007.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/5094), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét